Eyelet là một lỗ được đục xuyên qua lớp chất liệu làm giày và có bọc 2 mảnh vật liệu bằng kim loại, nhựa hay cao su 2 đầu.. Loại da này được thuộc bằng thực vật thì được sử dụng làm da l
Trang 1CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Quy trình sản xuất phần UPPER và BOTTOM của giày:
1. Cấu tạo giày phần UPPER:
Eyelet: lỗ xỏ giày Eyelet là một lỗ được đục xuyên qua lớp chất liệu làm giày và
có bọc 2 mảnh vật liệu bằng kim loại, nhựa hay cao su 2 đầu 2 mảnh vật liệu này
có tác dụng giữ cố định lỗ xỏ và ngăn không cho lỗ bị rách ra Một số loại giày
Trang 2dùng da dày như Desert boot không có 2 mảnh cố định này Eyelet cũng có thể biến thể thành loại móc dây với những loại giày cổ cao và cần cố định giày vào cổ chân
Foxing: miếng đắp lên giày có tác dụng trang trí hoặc gia cố cho giày (với giày thể thao)
Lace: dây giày Được làm từ vải, thun hoặc bằng da
Lacing: mui giày, chỉ cấu tạo và cách bố trí của phần dây giày Là cách bạn xỏ và
thắt dây giày qua các eyelet để giữ 2 phần bên giày lại với nhau
Lining: lớp lót bên trong giày Một số loại giày như desert boot không có lining Lớp lót có thể làm bằng da hoặc bằng vải
Tip: phần trang trí ở mũi giày, thuật ngữ thường sử dụng với dress shoes cho nam Topline: phần cao nhất của cổ giày.
Toe: mũi giày.
Tongue: lưỡi gà, là lớp chất liệu đệm giữa phần mui giày và mu bàn chân Tongue
có tác dụng che chắn phần bị hở của lacing và tránh sự ma sát giữa chân với dây giày
Throat: họng giày, chỉ có ở giày Oxford Là điểm tiếp giáp giữa Lacing và Vamp
Socklining (sock liner): miếng lót giày Socklinning dùng để làm lớp đệm tăng độ
êm ái khi mang, khử mùi chân hoặc hút mồ hôi để tăng độ bền cho đế giày
Socklinning có thể thay thế dễ dàng
Stitching: đường khâu, đường chỉ may Loại giày chelsea boot và whole-cut cao cấp được làm từ nguyên miếng da nên không có stitching
Quarter: phần thân sau của giày.
Vamp: thân giày trước của giày Tính từ phía sau mũi giày, đến xung quanh eyelet,
tongue cho đến gần phần quarter
Welt (Welting): đường viền Là một mảnh da hoặc vật liệu tổng hợp nằm ở chỗ hở
giữa phần upper và sole, nằm bằng phẳng trên rìa của sole Không phải giày nào cũng có phần welt
2. Cấu tạo giày phần BOTTOM:
Sole: đế giày Nguồn gốc từ từ "solea" trong tiếng Latin nghĩa là "đất và mặt đất"
Sole nằm ở dưới cùng đôi giày, tiếp xúc trực tiếp với mặt đất Đế giày ngày nay được làm từ nhiều loại vật liệu như da, cao su, PVC Đế giày có thể đơn giản với chỉ một lớp, một mảnh vật liệu duy nhất, hoặc phức tạp với nhiều lớp, chia ra
thành insole, midsole và outsole.
Trang 3Insole: đế trong Insole nằm ở phía trong của đôi giày, nằm ngay dưới bàn chân
cách một lớp lót giày (socklining) Insole có tác dụng điều chỉnh hình dáng đôi giày, tăng sự thoải mái (dùng vật liệu êm, vật liệu khử mùi, khử độ ẩm)
Midsole: đế giữa Lớp nằm giữa insole và outsole Nhiệm vụ chính là để hấp thu
chất động trong những dòng giày thể thao, giày chạy
Outsole: đế ngoài Lớp vật liệu tiếp xúc trực tiếp với mặt đất Outsole có thể là
một mảnh duy nhất hoặc được ghép lại từ nhiều mảnh chất liệu khác nhau Một số loại giày có kết hợp thêm mảnh cao su ở đế để tăng ma sát và độ bền Các loại giày chuyên dụng như giày bóng rổ, giày đanh golf, giày đá bóng có nhiều chỉnh sửa ở
đế giày để phù hợp môi trường sử dụng
Heel: gót giày Ở phần rìa sau cùng của đế ngoài Tác dụng hỗ trợ cho gót chân,
thường được làm từ vật liệu giống với đế giày
3. Vật liệu sản xuất : 3.1.Da thật:
Da là loại vật liệu thích hợp nhất cho mũ giày, lớp lót đế trong, đế ngoài, gót, mũ giày, chất độn cứng Da cho giày thường được sản xuất từ bê, bò, trâu, dê và cừu Nguồn Da Và Các Tính Chất Của chúng:
a) Da bê: Thường được thuộc bằng phương pháp Chrom Có diện tích khoảng từ
5-15sq ft (1sq.ft=30cm vuông) Da bê có cấu trúc sợi khép sát gần nhau, không khác nhau nhiều về tính chất trên toàn miếng da Loại da này phẳng cứng và nếu đươc hoàn tất thành da suede sẽ có cảm giác như cao su với đặc điểm là rất bền Sử dụng để sản xuất giày nam hoặc nữ chất lượng cao
b) Da bò: Chúng được cắt thành hai mảnh dọc theo xương sống và được gọi là
sides Mỗi miếng thường có diện tích khoảng 11-35sq.ft và được thuộc lần thứ hai bởi chrom, semi-chrom Chúng có cấu trúc sợi bền, mặt grain thô với cảm giác nặng Cấu trúc sợi chặt ở vùng lưng và lỏng lẻo ở vùng bụng Phần bề mặt được hoàn tất thành da grain phẳng, hay grain in và phần da chẻ được chế biến thành da
Trang 4suede Da hông được dùng làm mũ giày và các loại giày hạng trung Nếu da được thuộc theo cách thuộc thực vật thì được sử dụng làm đế, đế trong, viền đế, và phần
da chẻ dùng làm mũi giày và lớp độn cứng
c) Da dê non: Có diện tích khoảng 1,5-3,5 sq.ft có cấu trúc sợi chặt chẻ, mặt
grain đẹp Sử dụng làm giày nữ cao cấp
d) Da dê: Có diện tích 4-8 sq.ft có cấu trúc sợi khác nhau giữa lưng và bụng
Dày, bề mặt bóng Ðược hoàn tất bằng resin hoặc polyurethane và được dùng làm giày hạng trung cho phụ nữ Loại da này được thuộc bằng thực vật thì được sử dụng làm da lót trong (linings)
e) Da cừu: Có cấu trúc sợi lỏng lẻo, mặt grain lỏng, tính chất nhẹ với cảm giác
mềm Có diện tích 2 – 9 sq.ft Da cừu thường được sử dụng làm da lót trong
Các loại da trên được chuyển thành da thuộc theo các giai đoạn khác nhau Sơ lược như dưới đây:
Da sống được xử lý để bảo tồn bằng cách: Rải muối ăn lên khắp mặt trong của da Diệt khuẩn bằng natri arsenate Một đống da được giữ như thế có khoảng
50 tấm
Ngâm: Da sau đó được ngâm, giặt trong nước để tẩy bụi, máu và muối
Cạo mỡ và lông: Da sau đó được ngâm vào trong hỗn hợp gồm có nước, vôi, natri sunfit Lớp da bên ngoài trở nên mềm và thuận lợi để cạo lông và thịt mỡ
Khử vôi (Deliming): Là qúa trình tẩy kiềm (vôi) bằng cách rửa trong nước
có thêm amonium chloride hoặc sunfat trong các hố hoặc trong các trống Vôi được tẩy ra ngoài dưới dạng các muối canxi tan
Bating: Là một qúa trình ngâm da trong nước và thêm vào đó các loại men (enzymes) để lấy đi các loại protein thừa, da sẽ trở nên mềm và phẳng
Pickling : Là qúa trình xử lý da với dung dịch muối ăn và acid để chuẩn bị cho qúa trình thuộc bằng crôm Ðến đây da thu được gọi là da thô
Thuộc da (Tanning): Da thô được ngâm trong nước chứa vỏ cây hoặc muối khoáng trong thời gian qui định Crômtrioxit (bột crôm) được cho thêm vào và sau khi thấm hoàn toàn, quá trình thuộc da được hoàn tất bằng việc tăng pH từ 3.5 đến 4.0 Thuộc da theo cách này được gọi là WET BLUE Một vài phương pháp thuộc
da khác là thuộc Aluminium, thuộc Zirconium và thuộc da dầu được tiến hành phụ thuộc vào các thuộc tính vật lý và hóa học được yêu cầu cho da sản phẩm
Trang 5 Draining và Sammying: Da sau đó được chất thành đống Nước thuộc da chảy một cách chậm chạp qua các tấm da này Ðiều này cho phép chất thuộc gắn chặt vào các phần chưa được thuộc của da Sammying là sự hong khô cho phép hơi
ẩm trong các tấm da thuộc được phân bố đều Sử dụng dụng cụ ép bằng tay để vắt khô nước Tấm da sau đó được trải phẳng để không bị nếp gấp
Chẻ da (Splitting): Da được chẻ theo các độ dày yêu cầu Da được cạo nhẵn ngay sau khi chẻ
Nhuộm màu và tẩm dầu cho da (Retanning/ Dyeing/ Fatliquoring): Các tấm
da này được thuộc lại trong một chất lỏng gồm nước, tác nhân tái thuộc và tác nhân trung hòa Sự nhuộm da được tiến hành với chất lỏng chứa thuốc nhuộm trong nước ở nhiệt độ thích hợp và sau đó được làm mềm Các chất thuộc thực vật, nhựa polymer, syntan, chrome hoặc glutaraldehyt được sử dụng riêng hoặc kết hợp
Draining và Setting: Các tấm da được đặt chồng lên trên những khung gỗ được gọi là những con ngựa, để khô và cho phép chất làm mềm gắn vào trong da Chúng được mài giũa cả hai mặt bởi những người thợ khéo
Làm khô (Drying): Da được treo và để khô qua đêm Phương pháp khác là cột, đập và làm khô bằng máy hút bụi
Conditioning: Làm cân bằng hơi ẩm chứa trong cả hai mặt da, nhờ đó da trở nên mềm Da được nhúng trong nước và chất đống trên bề mặt bằng phẳng có lót các tấm nhựa
Staking: Những tấm da này được kéo ra sau và tới truước trên một cái lưỡi kim loại trong một cái khung gỗ dựng đứng nhằm làm cho da mềm
Drying và flattening: Da được đóng đinh trên một tấm gỗ để làm căng và phẳng da
Buffing: Mặt grain (mặt chứa lỗ chân lông) của da được mài với một chất mài mòn để lấy đi các khiếm khuyết trên da
Hoàn tất da (Finishing): Sự lựa chọn phương pháp hoàn tất phụ thuộc vào
cách thuộc da, nhuộm da và làm mềm da Hoàn tất da được chia thành: (a) Aniline,
(b) Semi aniline, (c) Resin, (d) Protein và (e) Patent.
Trước hết, da được mài ở bề mặt thịt và được tẩy sạch bụi Mặt grain được làm sạch bằng một dung môi yếu của thuốc nhuộm được thêm một ít axít acetic, axít
Trang 6lactic, amoniac hoặc methylated spirit Nếu cần, một tác nhân làm ướt có thể được cộng thêm Sự xử lý này nhằm làm sạch mỡ trên bề mặt grain, làm ướt và khai phá lớp mặt grain của da
a) Hoàn tất Aniline: Ðược áp dụng cho các loại da thuộc thực vật, thuộc
full-chrom và semi-full-chrom để có được vẻ sáng trong trên bề mặt grain Hoàn tất Aniline bao gồm: (1) Màng cứng hình thành từ các hợp chất như albumin trứng, gelatin, casein hoặc shellac, loại màng này tạo độ bóng cao (2) Một tác nhân dẻo hóa hoặc làm mềm như dầu đỏ thổ nhĩ kỳ, glycerin, dầu sunfonat hóa để tránh màng này trở nên cứng dòn (3) Một tác nhân chống ma sát như mỡ, sữa, dầu sunfonat hóa và (4) Một tác nhân làm đầy (filling) chứa tinh bột hay casein Các đặc điểm của hoàn tất Aniline (hoặc glaze) thì cho độ bóng cao, bề mặt bằng phẳng và phô bày vẻ tự nhiên của mặt grain
b) Hoàn tất Semi-Aniline: Chứa một lượng nhỏ chất nhuộm vô cơ như là chất
phụ gia Một vài khiếm khuyết trên mặt grain được che phủ, tuy nhiên mặt grain tự nhiên không được rỏ ràng như trong hoàn tất aniline
c) Hoàn tất Resin: Chất tạo kết dính là do sự phân tán của acrylic trong nước
Lớp phủ ngoài là 1 lớp lacquer hoặc nhũ lacquer Ðể bổ sung cho sự phân tán resin người ta sử dụng protein hòa tan, chất dẻo hóa Những lớp hoàn tất này tạo ra những màng nhựa chịu nhiệt, mềm ở cả nhiệt độ cao và thấp, cho bề mặt bằng phằng Những màng này cho ấn tượng sắc sảo khi trang trí nổi
d) Hoàn tất Lacquer Cellulose: Hoàn tất Cellulose được biết như lacquer chứa
cellulose nitrat, dung môi như butyl acetat, amyl acetat,…; chất dẻo hóa như butyl phtalat, amyl phtalat, butyl stearat, dầu thầu dầu, chất pha loãng như benzen, toluen
và được nhuộm màu bởi thuốc nhuộm hay pigments
e) Hoàn tất PolyUrethan: Cũng được gọi là hoàn tất da Patent tức là ghép một
màng mỏng PU lên bề mặt da
3.2.Da nhân tạo hoặc giả da:
Da giả là những chất liệu nhân tạo có vẻ ngoài giống như da, hầu hết được sử dụng làm mũ giày và lớp lót trong Một vài loại chất liệu này có các thuộc tính vật lý tương tự như da thật Những loại vật liệu này có gía trị như các loại sợi phủ
(fabric) Chúng có lớp phủ như PU, PVC trên sợi Sợi có thể tự nhiên hoặc nhân tạo hoặc một sự pha trộn cả hai Những loại sợi này có thể được nhuộm màu, in, trang trí nổi cho lớp hoàn tất hấp dẫn như da thật
3.3.Đế giày:
Thường làm bằng PVC, EVA, PU, Cao su nhiệt dẻo và Cao su lưu hóa
Trang 7a Ðế PVC: Ðược hình thành bởi phản ứng trùng hợp của các monomer vinyl
chloride Polymer này được kết hợp với các thành phần khác để có được các thuộc tính yêu cầu cho vật liệu đế Ðế PVC có nhiều ứng dụng trong sản xuất gìay thể thao, sandals… Hỗn hợp của PVC với các chất khác như cao su nitrile, PU,… cung cấp các loại đế có nhiều thuộc tính tốt như độ bền cao khi mang Khả năng chống trơn trượt và chống bể phụ thuộc hàm lượng chất dẻo hóa PVC là vật liệu làm đế
rẻ hơn các loại khác
b Ðế cao su nhiệt dẻo (TPR): Ðế này có các thuộc tính của cao su và có thể
được đúc phun Hợp chất chính là styren – butadien- styren (SBS) được kết hợp với các thành phần khác như dầu naphtalene (chống oxyhóa do ozone) Các loại đế TPR có độ chống xé và mang rất tốt, chống được sự gãy vỡ ở nhiệt độ thấp
c Ðế EVA: Là một polymer đồng trùng hợp etylen và vinylacetate, nhẹ là ưu
điểm của loại đế này
d Ðế PU: Là chất liệu đế năng động nhất Ðế PU rất bền, nhẹ, khả năng chống
trượt tốt Thành phần cơ bản của nó là một hợp chất polyhydroxyl và
di-isocyanate Ðế PU có 2 loại polyester hoặc polyether Polyester PU có độ bền căng hơn là đế PU polyether
e Ðế cao su lưu hóa: Chất liệu cao su trở nên phong phú nhờ vào phương pháp
lưu hóa Mỗi loại cao su được biết đến dươí tên của các polymer cơ bản Các
polymer này được kết hợp với các thành phần khác như tác nhân lưu hóa, chất tăng cường, chất độn (các muối silicat hoặc đất sét) và các tác nhân khác như dẻo hóa, mềm hóa Tác nhân lưu hóa cao su có thể là lưu huỳnh Một vài loại cao su khác như cao su styren-butadien (SBR), polyisoprene, cao su nitril Ðế crepe hay đế cao
su trong có được khi dùng chất tăng cường là silica Ðế cao su nitril chống dầu tốt
2.2.Gót và mặt gót:
Có nhiều loại gót khác nhau tùy thuộc vào thiết kế và kiểu dáng Các loại gót không được giòn, mềm và nứt bể trong suốt qúa trình dán và mang Chất liệu làm gót phải chống được va chạm, nứt bể và phải bền Gót da ép là một loại gót được làm bằng cách ép nhiều lớp da với nhau hoặc các loại sợi cứng hoặc kết hợp cả hai loại với nhau Ngoài ra còn có các loại gót gỗ và loại gót làm bằng da thuộc thực vật với độ dày khoảng 1cm Ðộ dài của đinh và độ sâu của đường may tùy thuộc vào độ cao của gót :
Ðộ cao gót / Ðộ xuyên tối thiểu của đinh:
Trang 8Gót nhựa có thể được đúc hoặc ép phun Gót cao của nữ thường ép phun Gót nhựa thường được làm bằng polystyrene và polypropylene
Phần tiếp xúc đất của gót bị mòn nhanh chóng trong qúa trình sử dụng, do đó người ta phải thêm vào phần gọi là mặt gót để tránh hoặc giảm thiểu sự mòn gót Chất liệu để làm mặt gót phải bền, chống bị mài mòn, không giãn hoặc gây trượt
PU được sử dụng rộng rãi đặc biệt trong giày nữ, là loại giày có diện tích mặt gót nhỏ Mặt gót làm bằng vật liệu Nylon hoặc PE thì rẻ nhưng gây trượt Cao su nhiệt dẻo hoặc polypropylen thường được sử dụng trong mặt gót giày nam
2.3.Đế trong(Insoles):
Ðế trong là phần nối đế ngoài và mũ giày và nằm ở giữa chúng Chân đặt lên lớp lót dán lên đế trong Mũ giày và đế ngoài được dán lên đế trong bằng keo hoặc bằng chỉ may Ðế trong chịu sức nặng của cơ thể, uốn cong trong suốt qúa trình vận động, thấm và chuyển hơi ẩm của chân ra bên ngoài
– Ðế trong phải chịu được lực ma sát giữa chân, miếng lót và đế trong
– Ðế trong được cắt theo dạng của phần đế trong của cốt giày
– Bờ của đế trong không được trầy xướt
– Bờ của đế trong không được gẫy
– Bờ đế trong phải có đường cắt rỏ ràng
– Chất liệu của đế trong chống nhiệt như trong loại khuôn phun trực tiếp hoặc quá trình lưu hóa trực tiếp
– Không bị gãy khi khâu lượt và không bị rách khi may
– Thấm và chuyển được hơi ẩm của chân
– Có sự gắn kết tốt với loại keo dán nóng
– Có độ co giãn, độ bền tốt
Những loại đế trong này được sản xuất từ loại da thuộc thực vật, tấm bằng da, tấm sợi (fibre board) Da phần vai thuộc thực vật thích hợp cho đế trong nhưng đắt tiền PHO MŨI
Ðược chèn vào giữa phần che phủ các ngón chân và lớp lót Pho mũi giữ hình dáng của mũi giày và bảo vệ các ngón chân Vật liệu dùng sản xuất pho mũi có thể mềm
và uyển chuyển linh động hoặc cứng và giữ được hình dáng trong khi mang Pho mũi được sản xuất từ loại da thuộc thực vật, các loại sợi tẩm Polystyrene, cao su và các chất liệu nhiệt dẻo
2.4.Pho hậu:
Ðược dán giữa mũ giày và lớp lót ở phần sau của giày Pho hậu mang lại cho giày một sự vừa vặn và tránh cho giày bị trượt Pho hậu nên cứng có độ bật nẩy tốt chống ẩm, tạo phần chắc và dẻo mềm ở phần sau giày Pho hậu thường làm bằng
da thuộc thực vật, tấm da, tấm sợi, nhựa dẻo, nhựa nhúng trong dung môi
2.5.Độn cứng:
Trang 9Là một mẩu vật liệu giữa đế trong và đế ngoài như một bộ phận gia cố.
– Ðộn cứng giữ được hình dáng của giày
– Nâng đỡ vòm chân theo chiều thẳng đứng, chủ yếu cho trạng thái ổn định của nó và gia tăng độ bền cho phần eo của giày
– Khả năng ổn định cấu trúc chính trong phần gót giày
– Chống được độ căng và độ giãn trong suốt qúa trình chịu đựng sức nặng
2.6.Các loại keo dán:
Keo dán là một loại hợp chất hóa học có chức năng hình thành sự kết dính tạm thời hoặc vĩnh viễn theo yêu cầu giữa các bề mặt Mủ cao su, Neoprene, Polyurethane, các loại keo dán nóng chảy được sử dụng trong ngành sản xuất giày
a Mủ Cao Su: Loại này được sử dụng tạo sự kết dính tạm thời trước khi thực
hiện các thao tác may Loại này gồm có loại tan trong nước và trong các dung môi như benzen, gasoline
b Keo Dán Polychloroprene: Polychloroprene, MgO và các chất chống oxit hóa
được trộn với nhau ZnO và các chất gia tốc được cho thêm vào Sản phẩm nhận được có dạng tấm được chặt thành từng miếng nhỏ Khi sử dụng hòa tan chúng vào nhựa Phenol, MgO Loại keo dán này được sử dụng để dán da mũ giày vào đế da hoặc đế cao su
c Keo Dán Polyurethane: Keo này có hai loại Một loại được sử dụng mà không
cần thêm vào bất cứ loại chất hóa học nào Loại thứ hai trước khi dùng phải cho thêm chất xử lý Keo dán PU xử dụng dán đế và mũ với vật liệu bất kỳ
d Keo Dán Nóng Chảy: Công thức pha trộn với các polymer căn bản như
polyamides, polyesters hoặc EVA với các phụ gia như chất dẻo hóa, chống oxyhóa, chất ổn định… Loại keo dán này trở nên mềm ở 180 độ C và chảy ra ở 200 độ C
và được trét lên đế trong ở nhiệt độ 120 độ C, dán mũ giày lên đế giày Sau khi nguội và cứng lại loại keo này hình thành một sự kết dính rất mạnh giữa hai bề mặt Polyamide hoặc polymer cellulose thường dùng đế chế tạo keo dán nóng chảy cho dán tạm
2.7.Hóa chất hoàn tất giày:
Mục đích của việc hoàn tất giày nhằm hoàn chỉnh sự mất cân bằng của vật liệu trong suốt qúa trình sản xuất giày, nhằm làm cho da mềm hơn, tăng khả năng chống thấm nước hoặc để làm sạch và đánh bóng… Một tiến trình ba giai đoạn được thực hiện nhằm đạt được mục đích trên
a Làm Sạch (Cleaner): Có 3 loại chất làm sạch dựa vào nước, các dung môi
khác hoặc hỗn hợp các dung môi khác và nước Chúng được sử dụng tùy thuộc vào chất liệu da hoặc không phải da Chất làm sạch dựa vào nước được cấu thành từ xà phòng, nước và một tác nhân làm ướt, có thể bổ sung thêm amoniac để gia tăng hiệu qủa tẩy rửa Hỗn hợp làm sạch gồm nước và một dung môi khác như
Trang 10methylated spirit, chúng có thể chứa thêm petrol, alcohol, hoặc acetone Chúng có tác dụng tốt cho việc tẩy nhờn (dầu mỡ) dính trên da
b Conditioners: Là chất có tác dụng khai phá (open up) bề mặt da, làm mềm da
và hoạt động như một chất gắn kết giữa da và lớp hoàn tất Conditioner là chất làm sạch dựa vào nước được thêm vào các màng resin chất lượng cao hoạt động như một liên kết ngang (cross-linker)
c Chất nền (Filler): Là chất phủ nền có tác dụng che phủ các vết rạn rất nhỏ
hình thành trong qúa trình gò mũ Các chất dẻo nhân tạo như methacrylic ester được sử dụng phổ biến Các tác nhân thẩm thấu và làm ướt giúp chất nền thâm nhập vào da dể dàng hơn
d Các lớp phủ ngoài (dressers):
Sự trang trí ở lớp ngoài cùng hay tạo vẻ đẹp cho giày
– Lớp phun xịt ngòai cùng được phân loại dựa vào dung môi như nước, cellulose hoặc các dung môi khác chứa thêm các loại resin, sáp tự nhiên hay nhân tạo, các loại dầu cần thiết và một chất dẻo hóa Cellulose dressing được tạo thành bằng cách hòa tan shellac trong một dung môi thích hợp như butanol,và được trộn với cellulose ester
– Hoàn tất sáp: Sáp là thành phần có gía trị cho hoàn tất giày, các lớp phủ, làm bóng Sáp Carnauba có nguồn gốc thực vật, sáp Parafin từ các dầu khóang và sáp ong được sử dụng rộng rãi Trong thực tế một hỗn hợp đồng nhất của hai hay nhiều loại sáp được sử dụng để đánh bóng Loại sáp nhão được chế từ hỗn hợp của sáp được hòa tan trong turpentin hoặc bất cứ loại dung môi thích hợp nào khác Các loại kem đánh giày được làm bằng cách nhũ hóa các sáp với turpentin và nước hoặc chất nhũ hóa nhân tạo Những loại dầu cần thiết được sử dụng như các chất phụ gia Các loại sáp dùng trong sửa chữa thì có hoặc không màu được trình bày thành các thỏi có cỡ 10x1cm
– Hoàn tất đế: Bờ và phần dưới của đế được trả lại vẻ đẹp bằng cách hoàn tất phần dưới Gum tẩy các vết ố là các loại gum hoặc hỗn hợp gum với các loại sáp hòa tan trong alcohol Việc hoàn tất đế sữ dụng các dung dịch của resin và sáp trong nước Mực bôi cạnh thường là dạng nước bao gồm sáp, màu hoặc nhũ acrylic
có aniline
4. Quy trình sản xuất đế giày SPORT P264_StockFit_BPFC: 1.RB OUTSOLE PROCESS:
Buffing: Mài Iron Wheel
↓