Vì vậy, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu về vấn đề “So sánh thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt Tiểu học mới và cũ” để tìm ra đợc điểm giống và khác nhau của hai chơng trình, qua đó
Trang 1Thơ ca gắn liền với cuộc sống khách quan và chính đời sống xã hội làm nên giá trị của những áng thơ Thơ ca phản ánh chiều sâu tâm hồn, thế giới nội tâm bí ẩn của con ngời Trong văn học, thơ khác với các thể loại văn học và nghệ thuật khác, thơ bộc lộ mình bằng chính ngôn ngữ của đời sống trực tiếp
mà không có sự hỗ trợ nào của sự kiện, cốt truyện, tình huống Bởi “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn (Tố Hữu).” [3.168]
Văn thơ đem đến cho con ngời những xúc cảm trong cuộc sống, cho ta hiểu biết thêm về quê hơng, đất nớc, thiên nhiên, con ngời Không những vậy, thơ văn còn mang con ngời lại gần nhau hơn, làm cho tâm hồn con ngời trở nên phong phú Mỗi tác phẩm là một sự sáng tạo riêng của ngời viết với giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo Đó chính là cái hay, cái đẹp của thơ văn
Từ xa đến nay, nhu cầu xem thơ, tìm hiểu về thơ là không thể thiếu Bởi thơ là thể loại hết sức đặc biệt, câu chữ ngắn gọn, súc tích mà chứa đựng nhiều tầng nghĩa Cũng bởi lẽ thơ là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con ng-
ời, là nhu cầu trong đời sống tâm linh của con ngời Do đó, các tác phẩm thơ u
tú, các hiện tợng thơ tiêu biểu đều có giá trị lâu dài trong đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại
Thơ trong chơng trình văn học nhà trờng có vị trí rất quan trọng đối với giáo dục Thơ bồi dỡng và giáo dục cho học sinh vẻ đẹp của những tác phẩm văn chơng có giá trị và góp phần phát triển trí tuệ, nhân cách cho học sinh, giúp cho các em thấy đợc cái đẹp của cuộc sống đích thực
Trang 2Trong hệ thống các thể thơ, lục bát đợc xem là một thể thơ độc đáo, đặc sắc, mang đậm chất dân tộc Nó đã ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần của nhân dân ta Đây cũng là thể thơ quan trọng đã đợc tuyển chọn đa vào phục vụ việc học tập và giảng dạy trong nhà trờng phổ thông, đặc biệt là ở bậc Tiểu học
Điều này là do thơ lục bát mang vần điệu rất dễ nhớ, dễ thuộc, phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh Tiểu học Do đó, tìm hiểu và nghiên cứu thơ lục bát trong chơng trình Tiểu học là một việc làm cần thiết góp phần nâng cao chất lợng học tập và giảng dạy bộ môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học
Cho đến nay, chơng trình Tiểu học mới đã đợc hoàn thành, bộ sách này không những thể hiện đợc sự đổi mới căn bản về nội dung mà còn làm nổi bật phơng pháp dạy học mới Trong số các phân môn của Tiếng Việt, Tập đọc đóng vai trò hết sức quan trọng Thông qua các bài Tập đọc gắn liền với các chủ điểm nhất định, học sinh đợc mở rộng về các vấn đề khác nhau: nhà trờng, bạn bè, gia đình, cây cối, vật nuôi trong nhà, thế giới thiên nhiên bao la xung quanh Những bài Tập đọc này còn là nguồn ngữ liệu hết sức sinh động để học sinh tiếp xúc với vẻ đẹp tiếng Việt trong hàng nghìn tình huống giao tiếp khác nhau Từ
đó, các em học đợc cách dùng tiếng Việt sao cho chính xác, tinh tế, biểu cảm
Trong hệ thống các bài Tập đọc từ lớp 1 đến lớp 5, thơ lục bát chiếm vị trí không nhỏ Song cho đến nay, nghiên cứu về thơ lục bát, so sánh giữa chơng trình mới và cũ vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ Vì vậy, chúng tôi đã chọn và nghiên
cứu về vấn đề “So sánh thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt Tiểu học
mới và cũ” để tìm ra đợc điểm giống và khác nhau của hai chơng trình, qua đó
bớc đầu đề xuất phơng pháp giảng dạy thơ lục bát cho phù hợp Bởi lẽ, qua khảo sát cách dạy và học thơ lục bát ở một số trờng Tiểu học, chúng tôi nhận thấy ch-
ơng trình đã có sự đổi mới nhng cách dạy và học thơ lục bát vẫn cha theo kịp sự thay đổi đó
Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn qua đề tài này không những giúp ích cho chúng tôi_những sinh viên Đại học mà còn giúp ích cho giáo viên và học sinh Tiểu học có thêm cái nhìn mới về việc tiếp cận thơ lục bát và phân biệt
nó với các loại thơ khác có trong chơng trình
Trang 32 Lịch sử vấn đề
Từ khi văn học viết xuất hiện cho đến nay, nghiên cứu về thơ đã có hàng trăm công trình lớn, nhỏ Từ những vấn đề khái quát chung về thơ ca cho đến những bài bình giảng, phê bình thơ nhỏ, lẻ của các tác giả đều rất phong phú Thơ lục bát Việt Nam là một thể loại hấp dẫn, thu hút nhiều nhà nghiên cứu với những công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Với mỗi công trình, các tác giả đều có những tìm tòi, khám phá và có đóng góp nhất định nh:
1 Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức - Thơ ca Việt Nam-Hình thức và thể
loại - NXB KHXH Hà Nội, 1968.
2 Lạc Nam - Tìm hiểu các thể thơ - NXB Văn học Hà Nội, 1993.
3 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn
học - NXB ĐHQG Hà Nội, 1997.
4 Lê Đình Kị - Đờng vào thơ - NXB Văn học Hà Nội, 1969.
5 Hà Minh Đức - Lý luận văn học - NXB Giáo dục, 1995.
6 Hà Minh Đức - Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại -
NXB Giáo dục, 1997
7 Mã Giang Lân - Tìm hiểu thơ - NXB Văn hoá thông tin, H, 2000.
8 Phan Ngọc - Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều -
NXB KHXH, 1978
9 Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ - NXB Giáo dục, 1995.
10 Vũ Ngọc Phan - Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam - NXB Văn học,
2004
11 Vũ Quần Phơng - Thơ với lời bình - NXB Giáo dục, 1998.
Nghiên cứu về chơng trình Tiểu học cũng nh phân môn Tập đọc đã có nhiều công trình Đặc biệt, công trình nghiên cứu về thơ cũng khá phong phú
Trang 43 Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình - Tìm vẻ đẹp bài
thơ ở Tiểu học - NXB Giáo dục, 2004.
4 Trần Đức Ngôn, Dơng Thu Hơng - Giáo trình văn học thiếu nhi Việt
Nam - NXB Giáo dục, 1998.
5 Trần Thị Phú Bình - Thơ chọn lọc với lời bình (Dành cho học sinh
Tiểu học) - NXB Giáo dục, 2000.
Ngoài các công trình trên còn có rất nhiều đề tài nghiên cứu của sinh viên khoa Tiểu học các trờng S phạm Riêng sinh viên khoa Đào tạo Giáo viên Tiểu học của trờng Đại học S phạm Thái Nguyên đã có khá nhiều đề tài tìm hiểu về thơ:
1 Lê Thị Phơng Thuý - Hệ thống những bài thơ theo thể bốn chữ trong
chơng trình Tiếng Việt Tiểu học - Thái Nguyên, 2004.
2 Lơng Thị Thơm - Thơ lục bát trong chơng trình lớp 4, lớp 5 - Thái
Nguyên, 2003
3 Mai Thị Hà - Những bài thơ trong sách Tiếng Việt 1, 2 - Thái
Nguyên, 2006
4 Nguyễn Thanh Bình - Khảo sát hệ thống các bài thơ hiện đại trong
chơng trình Tiếng Việt mới lớp 1, 2, 3 - Thái Nguyên, 2005.
Năm 2003 đã có đề tài nghiên cứu về thơ lục bát ở 2 lớp 4 và 5, nhng đó
là ở chơng trình cũ Tuy nhiên, nghiên cứu tổng thể về thơ lục bát trong toàn bộ chơng trình Tiểu học mới thì đây lại là lĩnh vực cha có tác giả nào Vì vậy, đó chính là khoảng trống thúc đẩy chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát và đề xuất những vấn đề mới, nhằm mục đích phục vụ tốt hơn cho việc học tập và giảng dạy
3 Đối tợng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Tất cả các bài, đoạn, câu thơ lục bát trong phân môn Tập đọc từ lớp 1 đến lớp 5 ở chơng trình mới và cũ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
So sánh hệ thống thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt mới và cũ
Trang 5Tìm hiểu giá trị nội dung t tởng và đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt mới và cũ.
3.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về quy mô, số lợng, giá trị nội dung t tởng và đặc điểm của các bài thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt mới và cũ
Đề xuất đợc những vấn đề lý luận, thực tiễn để nâng cao việc học tập và giảng dạy những bài thơ lục bát trong sách Tiếng Việt Tiểu học
5 Phơng pháp nghiên cứu
5.1 Phơng pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi khảo sát và thống kê tất cả các bài thơ lục bát trong chơng trình mới và cũ đề thấy đợc quy mô, số lợng từ đó đa chúng vào thành một hệ thống
5.2 Phơng pháp phân tích, tổng hợp
Qua việc thống kê đầy đủ các bài thơ lục bát ở cả chơng trình mới và cũ, chúng tôi có cơ sở để phân tích các bài thơ Sau đó tổng hợp lại để thấy đợc giá trị nội dung t tởng và đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ lục bát
5.3 Phơng pháp so sánh
So sánh về quy mô, số lợng, giá trị nội dung và đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ lục bát ở chơng trình Tiếng Việt mới và cũ Thông qua đó, đề xuất phơng pháp dạy học phù hợp
6 Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm có 3 phần:
Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trang 6Chơng 1: Một số vấn đề lí luận về thơ và thơ lục bát.
Chơng 2: Hệ thống các bài thơ lục bát trong chơng trình cũ và mới
Chơng 3: So sánh thơ lục bát trong chơng trình mới và cũ Một vài đề xuất về phơng pháp giảng dạy
Trong lời đề tựa tập thơ của mình, nhà thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là sự
thể hiện con ngời và thời đại một cách cao đẹp Thơ không chỉ nói lên tình
Trang 7cảm riêng của nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hy vọng của cả một dân tộc, những ớc mơ của nhân dân, vẽ lên những nhịp đập của trái tim quần chúng vì xu thế chung của lịch sử loài ngời Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật” [3.179]
Có rất nhiều quan niệm về thơ nhng với một quan niệm nh thế không những đã nói lên đợc tầm quan trọng của thơ mà còn có tác dụng hiện thực hoá thơ ca Thơ là một thể loại văn học nằm trong phơng thức trữ tình nhng bản chất của thơ lại rất đa dạng với nhiều biến thái và màu sắc phong phú Thơ tác động
đến ngời đọc vừa bằng sự nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tởng
và những tởng tợng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu Đã hàng ngàn năm qua, thơ vẫn là tiếng nói tơi trẻ nhất của đời sống, là cây cầu giàu cảm xúc đa con ngời tới ớc mơ, khát vọng, hoà nhịp và chia xẻ cùng thế giới nội tâm của mỗi ngời
Bởi lẽ, khi con ngời bắt đầu cảm thấy những mối liên hệ giữa mình và thực tại sâu sắc hơn, khi có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Thơ chính
là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mơ ớc Sự có mặt của thơ ca chân chính trong đời sống góp phần chứng minh sự tồn tại của những gì tốt đẹp nhất Thơ
là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con ngời Do đó, hiện thực cuộc sống đợc biểu hiện trong thơ thông qua cái tôi trữ tình của thi sĩ
Có ngời xem bản chất thơ ca là tôn giáo bởi nó mang cái gì đó huyền bí, mơ hồ Lại có quan niệm xem bản chất của thơ thuộc về những nhân tố hình thức Song những quan điểm thơ ca trên đều không nói đợc bản chất của thơ Thơ ca luôn gắn chặt với đời sống xã hội Nếu bài thơ chỉ ghi lại những cảm xúc tủn mủn, những tâm trạng lạc lõng, không bắt nguồn sâu xa từ hiện thực xã hội và lịch sử khách quan thì chẳng có giá trị gì
Bêlinxki đã viết: “Bất cứ thi sĩ nào cũng không thể trở thành vĩ đại nếu
chỉ do ở mình, và chỉ miêu tả mình dù là miêu tả những nỗi khổ đau của–
Trang 8mình hay những hạnh phúc của mình Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào sở dĩ họ vĩ đại là bởi vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại” [21.361]
Nh vậy, thơ là một thể loại hết sức đặc biệt, có thể diễn tả đợc những bí
ẩn và tiếng nói sâu kín của thế giới nội tâm con ngời, khái quát đợc những vấn
đề lớn lao của xã hội và lịch sử bằng chính đặc trng ngôn từ súc tích, cô đọng, nhiều tầng nghĩa và giàu tính nhạc
1.1.2 Các thể thơ cơ bản
Thơ ca Việt Nam còn gọi là thơ ca dân tộc hay “Thơ cổ truyền Việt
Nam” vì nó xuất phát từ nhân dân, nên rất gần gũi với nhân dân và cũng rất
phong phú, đa dạng Có thể chia ra các thể thơ cơ bản sau:
Trang 91.2 Một số vấn đề về thơ lục bát
Theo một số nhà nghiên cứu, thơ lục bát xuất hiện sớm nhất ở cuối thế kỷ
XV và từ đó đến nay trải qua bốn giai đoạn: Lục bát trớc Truyện Kiều, lục bát trong Truyện Kiều, lục bát trong Thơ mới và lục bát trong thơ hiện nay.
1.2.1 Định nghĩa:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Lục bát là một thể câu thơ cách luật
mà các thể thức đợc tập trung thể hiện trong một cấu trúc gồm hai dòng với
số tiếng cố định: Dòng sáu tiếng (câu lục) và dòng tám tiếng (câu bát)”
[5.190]
Theo Lạc Nam: “Lục bát là thể thơ cổ truyền của ta, nó ăn sâu bắt rễ
trong nhân dân, thể hiện rõ tính dân tộc của thơ Việt Nam Gọi là thơ lục bát vì có 2 câu đi liền với nhau trên 6 từ và dới 8 từ, trình bày dới dạng thò ra thụt vào, tức là câu lục trình bày lùi vào một ít so với câu bát” [4.15]
Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng: “Lục bát là thể thơ cứ một dòng sáu chữ tiếp đến một dòng tám chữ Thơ dài bao nhiêu cũng đợc miễn dừng lại ở dòng tám Đó là thể thơ quen thuộc của dân tộc mang cốt cách thuần tuý Việt Nam” [21.451]
Trang 10Ví dụ:
“Cây dừa xanh toả nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng ”
(Cây dừa - Trần Đăng Khoa)
Cũng có trờng hợp ngoại lệ, tác giả thêm từ nên câu bát không còn đúng luật nữa
Ví dụ:
“Con ong làm mật, yêu hoa
Con cá bơi yêu n ớc; con chim ca yêu trời
Con ngời muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu ngời anh em ”
(Tiếng ru - Tố Hữu)
1.2.3.2 Cách hiệp vần
Thơ lục bát vừa gieo vần chân, vừa gieo vần lng Tiếng cuối câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo Thành ra câu bát có 2 vần: vần lng ở tiếng thứ sáu và vần chân ở tiếng thứ tám
Ví dụ:
“Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thiết tha Tra về trời rộng bao la áo xanh sông mặc nh là mới may ”
Trang 11(Dòng sông mặc áo - Nguyễn Trọng Tạo)
Cũng có một số trờng hợp ngoại lệ cách gieo vần không tuân thủ đúng theo niêm luật nữa
Ví dụ:
“Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời, chẳng thấy ngời thơng ”
Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi nhện hỡi mày đi đờng nào!”
Rừng xanh/ hoa chuối đỏ tơi
Đèo cao nắng ánh/ dao gài thắt lng.
(Nhớ Việt Bắc Tố Hữu)–Tuy nhiên, có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ mỗi nhịp ba tiếng
Ví dụ:
Bắt phong trần/ phải phong trần Cho thanh cao/ mới đợc phần/ thanh cao.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
1.2.3.4 Niêm luật, thanh điệu, bằng trắc
Trang 12Hình mẫu của các tác phẩm lục bát cổ đợc phối điệu áp dụng cho cả câu lục và câu bát nh sau:
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Riêng cho câu bát: 0 t 0 b 0 t 0 b
Riêng với thể lục bát, thể thơ mang đậm bản sắc tâm hồn dân tộc, có khả năng biểu hiện tinh tế và sáng rõ các cung bậc cảm xúc, các trạng thái tinh thần phong phú và sâu kín của con ngời Việt Nam, ta thấy các tác giả biên soạn Sách giáo khoa có sự quan tâm và u tiên đặc biệt Do cấu trúc thanh điệu, vần, cách ngắt nhịp đặc thù, thể thơ lục bát rất dễ đi vào tâm hồn trẻ thơ Vì vậy, hệ thống
(Ca dao)
Trang 13các bài thơ, đoạn thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt Tiểu học rất phong phú Đây là những tiền đề quan trọng giúp chúng tôi tự tin hơn khi đi vào đề tài thú vị này.
Chơng 2
hệ thống các bài thơ lục bát trong chơng trình
cũ và mới 2.1 Hệ thống các bài thơ lục bát trong chơng trình cũ
2.1.1 Quy mô, số lợng
Thơ lục bát trong chơng trình cũ có mặt ở tất cả các khối lớp, từ lớp 1 đến lớp 5:
2.1.1.1 Lớp 1
Trong phần luyện tập tổng hợp có 1 đoạn lục bát:
1 Việt Nam đất nớc ta ơi Nguyễn Đình Thi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Trang 14Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trờng Sơn sớm chiều.
và 5 bài thơ lục bát khác:
2 Trờng em Nguyễn Bùi Vợi
3 Hỡi em đi học Tố Hữu
Trong 30 bài thơ ở kỳ 2 có 14 bài lục bát:
10.Trăng sao cũng hoá xứ ngời Huy Cận
11.Chế giễu ngời lời Tục ngữ
12 Tiếng ru Tố Hữu
13 Con Cáo và tổ Ong Bác Hồ
14 Ngời trong một nớc Ca dao
15 Gò Đống Đa Hằng Phơng
16 Việt Nam có Bác Lê Anh Xuân
17 Chăm việc cấy cày Ca dao cổ
18 Trâu ơi Ca dao
19 Chị công nhân chăn bò Tế Hanh
Trang 152 Tấc đất tấc vàng Ca dao
3 Câu đố về cây Câu đố
4 Quả ngọt cuối mùa Võ Thanh An
5 Cảnh đẹp đất nớc Ca dao
Trong 28 bài thơ ở kỳ 2 có 10 bài lục bát:
6 Ngày xuân Không rõ tác giả
Trong 13 bài thơ ở kỳ 1 có 3 bài lục bát:
1 Việt Nam thân yêu Nguyễn Đình Thi
2 Nghe thầy đọc thơ Trần Đăng Khoa
3 Hành quân giữa rừng xuân Lê Anh Xuân
Trong 13 bài thơ ở kỳ 2 có 6 bài lục bát:
4 Nghệ nhân Bát Tràng Hồ Minh Hà
5 Đi cấy Ca dao cổ
Trang 166 Qua cầu sông Đuống Ngô Quân Miện
7 Câu đố Câu đố
8 Tục ngữ về thời tiết Tục ngữ
9 Việt Bắc Tố Hữu
2.1.1.5 Lớp 5
Trong 12 bài thơ ở kỳ 1 có 6 bài lục bát:
1 Việt Nam Lê Anh Xuân
2 Đẹp thay non nớc Nha Trang Sóng Hồng
3 Tre Việt Nam Nguyễn Duy
4 Bài ca Côn Sơn Nguyễn Trãi
5 Về thăm nhà Bác Nguyễn Đức Mậu
6 Hành trình của bầy ong Nguyễn Đức Mậu
Trong 13 bài thơ ở kỳ 2 có 7 bài lục bát:
7 Qua Thậm Thình Nguyễn Bùi Vợi
8 Truyện cổ nớc mình Lâm Thị Mỹ Dạ
9 Tiếng hát mùa gặt Nguyễn Duy
10 Khuyên chín chắn khi nói năng Tục ngữ
11 Cây vú sữa trong vờn Bác Quốc Tấn
12 Rằm tháng giêng Hồ Chí Minh
13 Tin thắng trận Hồ Chí Minh
2.1.1.6 Nhận xét
Bộ sách Tiếng Việt chơng trình cũ có tất cả 66 bài thơ lục bát trong tổng
số 179 bài thơ, chiếm 36,9%, với các thể loại nh sau:
Ca dao: 11 bàiCâu đố: 7 câuTục ngữ: 3 bàiThơ: 45 bài, trong đó có 3 bài là bản dịch, 3 bài cha rõ của tác giả nào
Các bài thơ lục bát tập trung nhiều ở 3 khối lớp 2, 3, 5, trong đó nhiều nhất ở lớp 2 với 23 bài Lớp 1 và lớp 4 có số lợng thơ lục bát ít hơn, nhng ít nhất
Trang 17là ở lớp 1 vì học sinh học vần là chủ yếu Tỉ lệ thơ lục bát trong tổng số các bài thơ cụ thể ở từng lớp nh sau:
2.1.2 Chủ điểm
Lớp 1 cha có chủ điểm, kỳ 2 lớp 5 không phân chủ điểm
Lớp 2, 3, 4, kỳ 1 lớp 5 có chủ điểm nhng rất ít và tơng đối rộng, lặp lại ở các khối lớp:
- Chủ điểm Nhà trờng 1 có bài:
Trang 188 Quả sầu riêng
- Chủ điểm Đất nớc có 9 bài:
1 Việt Nam thân yêu
2 Nghe thầy đọc thơ
3 Hành quân giữa rừng xuân
4 Đẹp thay non nớc Nha Trang
5 Tre Việt Nam
6 Bài ca Côn Sơn
7 Về thăm nhà Bác
8 Hành trình của bầy ong
- Chủ điểm Thiếu nhi có 5 bài:
1 Trăng sao cũng hoá xứ ngời
2 Chế giễu ngời lời
Trang 20- Các nhà thơ có 1 bài: Nguyên Hồ, Trần Quốc Minh, Nguyễn Du, Lê
Nh Sâm, Huy Cận, Lâm Thị Mĩ Dạ, Quốc Tấn, Tế Hanh, Võ Văn Trực, Thanh Tịnh, Võ Thanh An, Phạm Hổ, Hồ Minh Hà, Ngô Quân Miện, Sóng Hồng, Nguyễn Trãi
Qua bản thống kê trên, chúng tôi nhận thấy đội ngũ tác giả rất phong phú
và đa dạng Có nhà thơ chuyên viết cho thiếu nhi: Trần Đăng Khoa, Phạm Hổ, Hằng Phơng, Võ Thanh An ; cũng có nhà thơ chuyên viết về cách mạng nh: Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Hồ Chí Minh; có nhà thơ chuyên viết về đề tài đất nớc, lại
có ngời chuyên viết về đề tài nhân dân Nh vậy, đội ngũ tác giả không những phong phú mà còn mang tính chuyên biệt cao Tất cả tạo cho rừng thơ lục bát ở Tiểu học mang nhiều sắc màu khác nhau
2.2 Hệ thống các bài thơ lục bát trong chơng trình mới
2.2.1 Quy mô, số lợng
Thơ lục bát trong chơng trình mới đợc phân đều ở các khối lớp từ lớp 1
đến lớp 5 Chúng tôi tìm hiểu các bài thơ lục bát theo từng kỳ ở từng khối lớp
Cụ thể nh sau:
2.2.1.1.Lớp 1
Kỳ 1 có 8 câu và đoạn lục bát:
1 Chào Mào có áo màu nâu Tiếng Việt 1 - trang 81
Trang 21Cứ mùa ổi tới từ đâu bay về.
2 Dù ai nói ngả nói nghiêng Tiếng Việt 1 - trang 113
Mấy cô má đỏ hây hây
Đội bông nh thể đội mây về làng.
5 Con cò mà đi ăn đêm Tiếng Việt 1- trang 129
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
6 Trong vòm lá mới chồi non Tiếng Việt 1 - trang 137
Chùm cam bà giữ vẫn còn đung đa
Quả ngon dành tận cuối mùa
Chờ con, phần cháu bà cha trảy vào.
7 Con Mèo mà trèo cây cau Tiếng Việt 1 - trang 151
Hỏi thăm chú Chuột đi đâu vắng nhà
Chú Chuột đi chợ đờng xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha con Mèo.
8 Một đàn cò trắng phau phau Tiếng Việt 1 - trang 153
Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm.
(Là cái gì?)
Kỳ 2 có 6 câu, đoạn và bài lục bát:
1 Đám mây xốp trắng nh bông Tiếng Việt 1 - trang 9
Ngủ quên dới đáy hồ trong lúc nào
Nghe con cá đớp ngôi sao
Giật mình mây thức bay vào rừng xa.
2 Việt Nam đất nớc ta ơi Tiếng Việt 1 - trang 11
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Trang 22Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trờng Sơn sớm chiều.
3 Tiếng dừa làm dịu nắng tra Tiếng Việt 1 - trang 13
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra.
4 Tháng chạp là tháng trồng khoai Tiếng Việt 1 - trang 21
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Trong 8 bài thơ ở kỳ 2 có 2 bài lục bát:
3 Cháu nhớ Bác Hồ Thanh Hải (trích)
Nh vậy ở lớp 2 có tất cả 3 bài thơ lục bát trong tổng số 16 bài thơ
Kỳ 2 có 14 bài thơ nhng không có bài thơ lục bát nào
Nh vậy ở lớp 3 có tất cả 4 bài thơ lục bát trong tổng số 30 bài thơ
2.2.1.4 Lớp 4
Trong 6 bài thơ ở kỳ 1 có 4 bài lục bát:
Trang 231 Mẹ ốm Trần Đăng Khoa
2 Truyện cổ nớc mình Lâm Thị Mỹ Dạ
4 Gà Trống và Cáo La Phông-Ten
Trong 11 bài thơ ở kỳ 2 có 2 bài thơ lục bát:
5 Dòng sông mặc áo Nguyễn Trọng Tạo
Nh vậy ở lớp 4 có tất cả 6 bài thơ lục bát trong tổng số 11 bài thơ
2.2.1.5 Lớp 5
Trong 6 bài thơ ở kỳ 1 có 2 bài lục bát:
1 Hành trình của bầy ong Nguyễn Đức Mậu (trích)
2 Ca dao về lao động sản xuất Ca dao
Trong 8 bài thơ ở kỳ 2 có 1 bài lục bát:
thống các bài thơ để phân loại hay phân tích Tính cả bài đồng dao Cái Bống và
tất cả các bài thơ ở sách Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5 có 17 bài thơ lục bát trong tổng số 95 bài thơ có trong chơng trình, chiếm 17,9% với các thể loại nh sau:
Ca dao: 3 bàiThơ: 14 bài, trong đó có 2 bài là bản dịchCác bài thơ lục bát tập trung chủ yếu ở khối lớp lớn, nhiều nhất là ở lớp 4 với 6 bài, ít nhất là ở lớp 1 chỉ có 1 bài Trong đó chỉ có 2 thể loại chính là ca dao và thơ, tục ngữ và câu đố không thấy xuất hiện
Tỉ lệ các bài thơ lục bát trong tổng số các bài thơ ở từng khối lớp nh sau:
Lớp 1: 1/19, chiếm 5,26%
Lớp 2: 3/16, chiếm 18, 75%
Trang 242.2.2 Chủ điểm
Bộ sách Tiếng Việt mới đã đa các bài thơ vào các chủ điểm ngay từ lớp 1 với nhiều chủ điểm khác nhau:
- Chủ điểm Gia đình có 1 bài: Cái Bống.
- Chủ điểm Cha mẹ có 1 bài: Mẹ.
- Chủ điểm Cây cối có 1 bài: Cây dừa.
- Chủ điểm Bác Hồ có 1 bài: Cháu nhớ Bác Hồ.
- Chủ điểm Cộng đồng có 1 bài: Tiếng ru.
- Chủ điểm Bắc-Trung-Nam có 1 bài: Cảnh đẹp non sông.
- Chủ điểm Anh em một nhà có 1 bài: Nhớ Việt Bắc.
- Chủ điểm Thành thị và nông thôn có 1 bài: Về quê ngoại.
- Chủ điểm Thơng ngời nh thể thơng thân có 2 bài: Mẹ ốm, Truyện
cổ nớc mình.
- Chủ điểm Măng mọc thẳng có 2 bài: Tre Việt Nam, Gà Trống và
Cáo.
- Chủ điểm Khám phá thế giới có 1 bài: Dòng sông mặc áo.
- Chủ điểm Tình yêu cuộc sống có 1 bài: Không đề.
- Chủ điểm Giữ lấy màu xanh có 1 bài: Hành trình của bầy ong.
- Chủ điểm Vì hạnh phúc con ngời có 1 bài: Ca dao về lao động sản
xuất.
Trang 25- Chủ điểm Nam và nữ có 1 bài: Bầm ơi.
5 Nguyễn Duy - Tre Việt Nam
6 Nguyễn Đức Mậu - Hành trình của bầy ong
3 Ca dao về lao động sản xuất
Các nhà thơ hay sáng tác thơ theo thể lục bát có số lợng bài đợc đa vào nhiều hơn nh: Tố Hữu, Trần Đăng Khoa Bên cạnh đó có 1 tác giả nữ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Tuy số lợng các bài thơ lục bát đợc đa vào ít nhng đội ngũ tác giả cũng rất phong phú và đa dạng Chúng ta có thể nhận thấy đó là những tên tuổi quen thuộc, có nhiều ngời chuyên viết cho thiếu nhi: Trần Đăng Khoa, Thanh Hải
Trang 26Chơng 3
So sánh thơ lục bát trong chơng trình mới và cũ Một vài đề xuất về phơng pháp giảng dạy
3.1 Giá trị nội dung t tởng các bài thơ lục bát trong chơng trình cũ
Chơng 2 chúng tôi mới chỉ xem xét hệ thống các bài thơ lục bát trong
ch-ơng trình cũ về quy mô, số lợng; chủ điểm; đội ngũ tác giả Tại chch-ơng này, chúng tôi sẽ nhìn lại nội dung của các bài thơ ấy để làm cơ sở so sánh với thơ lục bát trong chơng trình mới
Các bài thơ đợc xếp trong các chủ điểm rất rõ ràng nên chúng tôi đánh giá nội dung qua giá trị giáo dục mà các chủ điểm ấy mang lại Đó là:
- Giáo dục tình yêu thiên nhiên, quê hơng, đất nớc thông qua các chủ
điểm: Đất nớc, Đất nớc ta, Xây dựng đất nớc.
Trang 27- Giáo dục tình yêu con ngời, yêu lao động qua chủ điểm: Nhân dân,
Nhân dân ta.
- Giáo dục tình yêu thầy cô, bạn bè, mái trờng qua chủ điểm Nhà trờng.
- Giáo dục tình cảm gia đình thông qua chủ điểm Gia đình.
- Giáo dục tình cảm đối với Bác Hồ thông qua chủ điểm Bác Hồ.
- Đa ra những lời khuyên, những triết lý thông qua chủ điểm Thiếu nhi.
Do đây là nội dung giáo dục của sách cũ, cho nên chúng tôi chỉ xem xét nội dung một cách khái quát và đánh giá nội dung chủ yếu ở khía cạnh có điểm khác so với sách mới để tiện cho việc so sánh và tìm ra phơng pháp dạy học tốt hơn
Ví dụ:
Nội dung giáo dục tình yêu thiên nhiên, quê hơng, đất nớc:
Nếu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hơng đất nớc trong sách mới chủ yếu nói về phong cảnh thiên nhiên, cây cối, sông suối, hình ảnh con ngời còn ẩn hiện trong đó thì ở trong sách cũ tình yêu ấy có sự đan quyện giữa thiên nhiên
và con ngời Nguyễn Trãi vừa tả cảnh, vừa tả tình cảm của mình:
Trong rừng có bóng trúc râm Dới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.”
(Bài ca Côn Sơn Nguyễn Trãi)–Cảnh đẹp Côn Sơn hiện lên với tất cả vẻ đẹp hoang sơ, tự nhiên của nó Viết về thiên nhiên trong cách nhìn và cách cảm của nhà thơ có nét độc đáo, mới lạ Đó là, cứ một câu tả cảnh (câu lục) lại có một câu tả tình cảm của nhà thơ (câu bát) Hơn nữa, thiên nhiên hoang sơ nhng rất gần gũi với con ngời nhờ cách so sánh rất tinh tế:
Trang 28Suối: chảy rì rầm – nh tiếng đàn cầm
Đá: rêu phơi – nh chiếu êmThông: mọc dày – nh nêmBóng trúc: râm, xanh mát
Bức tranh Côn Sơn hiện lên thật đẹp và nên thơ, giống nh là tiên cảnh Nơi đó có một ông tiên đang ở ẩn Cảnh đẹp khiến cho tâm hồn nhà thơ thanh thản, th thái, đồng thời tạo cảm xúc cho tác giả ngân lên những bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của Côn Sơn và đất nớc Những động từ “nghe , ngồi , nằm ,” “ ” “ ”
ngâm
“ ” kết hợp với những hình ảnh so sánh “tiếng đàn cầm , đệm êm , nh” “ ” “
nêm , râm” “ ” cho thấy rõ ràng tâm hồn tác giả đã hoà vào với thiên nhiên, lắng nghe những âm thanh kỳ diệu của thiên nhiên để mà say, mà yêu
Nội dung giáo dục tình yêu con ngời, yêu lao động:
Viết về lao động trớc hết là cảm hứng ca ngợi những con ngời lao động tài hoa, khéo léo và đầy sáng tạo:
“Em cầm bút vẽ lên tay
Đất cao lanh bỗng nở đầy sắc hoa
Cánh cò bay lả bay la Luỹ tre đầu xóm, cây đa giữa đồng.
Con đò lá trúc qua sông Trái mơ tròn trĩnh, quả bòng đung đa
Bút nghiêng, lất phất hạt ma Bút chao gợn nớc Tây Hồ lăn tăn
Hài hoà đờng nét hoa văn Dáng em, dáng của nghệ nhân Bát Tràng.
(Nghệ nhân Bát Tràng Hồ Minh Hà)–Qua cái nhìn rất trẻ thơ và hồn nhiên của một em bé, ta hình dung ra công việc của con ngời trong làng nghề “kết tinh vẻ đẹp của trời đất ” Dới bàn tay những nghệ nhân tài hoa, bao cảnh thân quen của nông thôn hiện lên với tất cả vẻ đẹp sống động, tơi tắn của nó Các hoạ tiết trên mặt gốm là hình ảnh: luỹ
Trang 29tre, cánh cò, cây đa, con đò, trái mơ, quả bòng Tất cả những hình ảnh đó đều mang nét dân tộc, giàu sức sống Cái tài của ngời lao động ở đây là đã đa những hình ảnh của cuộc sống vào nghệ thuật, tái tạo lại nó, làm cho nó có sức sống và
có linh hồn trên mặt gốm Cả ngời nghệ nhân lẫn hoa văn trên gốm cùng hoá thân vào bố cục của một bức tranh thơ Câu cuối bài thơ ca ngợi khả năng sáng tạo của nghệ nhân Bát Tràng, đồng thời thể hiện niềm tự hào của tác giả về làng nghề nổi tiếng Cả bài thơ là lời ngợi ca bàn tay khéo léo của nghệ nhân Bát Tràng và cũng chính là lời ngợi ca ngời lao động Việt Nam tài hoa
Nhìn chung, số lợng các bài thơ lục bát trong chơng trình cũ nhiều nên nội dung t tởng thể hiện đợc nhiều khía cạnh giáo dục Đây là lợi thế của chơng trình cũ, thông qua những bài thơ này, các em học sinh đợc trang bị thêm kiến thức về đất nớc và con ngời Việt Nam, những bài học quý báu; đồng thời tạo cho các em có niềm tin và tình yêu, qua đó cũng giúp các em hình thành và phát triển nhân cách đầy đủ và toàn diện
3.2 Giá trị nội dung, t tởng các bài thơ lục bát trong chơng trình mới
Nhà duy vật Bêlinxki đã khẳng định “ Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu
nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong t tởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng hát khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc không trả lời những câu hỏi đó”.
Vâng, một tác phẩm nghệ thuật nói chung hay một bài thơ lục bát nói riêng sẽ không thể vĩnh hằng “nếu nó miêu tả chỉ để miêu tả” mà không có ý nghĩa gì Bất kỳ một tác phẩm nào khi đã đợc viết ra đều mang nội dung, ý nghĩa nhất định Có thể do vô tình, bất chợt cảm xúc đến nhà thơ sáng tác Nh-
ng dù bằng lý do nào đi nữa, dù là tác phẩm của ai chăng nữa thì một tác phẩm muốn có chỗ đứng trong lòng độc giả phải gắn liền với cuộc sống và mang nội dung giáo dục nhất định
Các bài thơ lục bát trong chơng trình Tiếng Việt Tiểu học mới có giá trị giáo dục cho học sinh tình yêu thiên nhiên, quê hơng, đất nớc; tình cảm gia
đình; tình cảm yêu thơng con ngời, yêu lao động sản xuất Do đó, chúng tôi
Trang 30nghiên cứu về giá trị nội dung t tởng của các bài thơ theo những nội dung, chủ
điểm mà sách giáo khoa mang lại Tuy nhiên, có một số bài thơ mà nội dung của nó bao hàm rất nhiều vấn đề, khó có thể phân định một cách chính xác nên chúng tôi tạm chia ra thành các mảng t tởng nh sau:
3.2.1 Tình yêu thiên nhiên, quê hơng, đất nớc
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng bất tận và có sức cuốn hút mãnh liệt với thi sĩ Mỗi nhà thơ mở lòng mình để hoà vào và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên trong những hoàn cảnh, tâm trạng, cuộc đời khác nhau Nhng họ đều có
điểm gặp gỡ đó là tình yêu và niềm say mê với cảnh đẹp thiên nhiên Trong thực tế cuộc sống, thế giới thiên nhiên vô cùng phong phú và sinh động Để cảm nhận đợc vẻ đẹp của quê hơng, đất nớc mình, các bài thơ lục bát đã làm hiện ra cả một thế giới vô cùng đẹp đẽ Thế giới ấy bao quanh các em, đa tuổi thơ khám phá thế giới vô cùng mới mẻ và bí ẩn Chúng tôi tìm thấy tình yêu thiên nhiên, quê hơng, đất nớc qua các bài thơ và đoạn trích:
1 Cây dừa
2 Cảnh đẹp non sông
3 Dòng sông mặc áo
4 Nhớ Việt Bắc
5 Tre Việt Nam
Đến bất cứ làng quê nào trên đất nớc Việt Nam, chúng ta cũng đều bắt gặp luỹ tre Bởi, hình ảnh luỹ tre làng đã ăn sâu vào trong tâm trí mỗi ngời Việt Nam ta, trở thành biểu tợng của dân tộc Việt Nam Vậy mà có mấy ai biết đợc cây tre có những vẻ đẹp gì? Nhà thơ Nguyễn Duy đã khắc hoạ cây tre thành một hình tợng đẹp đẽ, một biểu tợng về sự cần cù, đoàn kết, thơng yêu, gắn bó Cây tre, dới ngòi bút nhà thơ thật sống động, gợi cảm, giàu đức hy sinh nh chính con ngời của mảnh đất này:
“Tre xanh,
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xa đã có bờ tre xanh
”
Trang 31(Tre Việt Nam - Nguyễn Duy)
Luỹ tre làng gắn liền với sự sống, hoà cùng nhịp thở của mỗi ngời dân Không biết luỹ tre có từ bao giờ nhng ngàn đời nay nó vẫn thế, vẫn mang tấm
“thân gầy guộc, lá mong manh” mà tạo thành hàng, thành luỹ Mấy chữ gầy“
guộc , mong manh” “ ” trong câu thơ giản dị, không chau chuốt gì nhng đọc lên sao xúc động? Đúng là tả tre nhng sao thân thiết nh nói về ta, về chính ta? Bởi, hình ảnh cây tre tợng trng cho con ngời Việt Nam
“ở đâu tre cũng xanh tơi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít, chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù ”Tre hay chính con ngời luôn luôn cần cù, chăm chỉ, không chịu khuất phục trớc mọi khó khăn gian khổ Dù ở nơi “đất sỏi đất vôi bạc màu” hay “đất
nghèo” thì tre vẫn chăm chỉ nhặt từng hạt sống để nuôi bản thân mình và mầm
măng sau này Đó là phẩm chất đáng quý của con ngời Việt Nam xa và nay
Đến tận bây giờ, dù cho khoa học đã phát triển với nhiều loại máy móc thì mỗi cá nhân trong cộng đồng ngời Việt vẫn ý thức gìn giữ và phát huy đức tính quý báu đó Ngoài sự cần cù, chăm chỉ con ngời Việt Nam còn có nhiều đức tính quý khác, đợc thể hiện rất rõ qua biểu tợng cây tre:
“Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.
Thơng nhau, tre chẳng ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi ngời.
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Trang 32Cha lên đã nhọn nh chông lạ thờng ”Những cây tre cũng có tinh thần đoàn kết, chúng chẳng chịu ở riêng mà luôn cùng nhau kiên gan đứng vững giữa trời đất Chúng cũng giống nh con ng-
ời vậy, chẳng thế mà có câu:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao ”Tre đã vậy, măng cũng không kém gì, mầm măng cha lên mà đã “nhọn
nh chông lạ thờng” Hình ảnh đẹp đẽ ấy cho ta thấy con ngời Việt Nam ngay
thẳng, chính trực, không bao giờ chịu luồn cúi trớc bất kỳ một kẻ xâm lợc nào Không những thế, tre còn giàu tình thơng yêu: “Có manh áo cộc, tre nh ờng cho con ” Biểu tợng cây tre đã thể hiện đợc hết tình cảm yêu thơng của những ngời cùng một gia đình cũng nh sự đoàn kết yêu thơng trong cộng đồng ngời Việt
Nhà thơ đã cho bạn đọc, trẻ em trong nớc và thế giới cảm nhận đợc thiên nhiên Việt Nam không chỉ đơn thuần là tự nhiên mà còn là biểu tợng của đất n-
ớc, của dân tộc anh hùng, của con ngời Việt Nam Bởi lẽ, cây tre đại diện cho
đất nớc, tợng trng cho truyền thống tốt đẹp của dân tộc Dù thế nào chăng nữa, con ngời Việt Nam cũng không thay đổi nh cây tre kia mãi mãi một màu xanh:
“Mai sau, Mai sau, Mai sau,
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh ”Bài thơ khép lại trong màu xanh của hy vọng, màu xanh của sự sống
đang nảy nở cả chân trời Ta đi trong màu xanh ấy để đến tơng lai với niềm tin yêu vào đất nớc mình
Nếu nh ở trên, nhà thơ Nguyễn Duy đã miêu tả về cây tre thì cậu bé thần
đồng_nhà thơ Trần Đăng Khoa lại miêu tả về cây dừa Dừa cũng nh tre, cùng là biểu tợng của đất nớc và con ngời Việt Nam Đến với xóm làng miền Bắc, ta th-ờng bắt gặp luỹ tre thì vào đến thôn ấp miền Nam lại gặp những hàng dừa xanh mợt:
Trang 33“Cây dừa xanh toả nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa _ đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao, Tàu dừa _ chiếc lợc chải vào mây xanh
”
(Cây dừa - Trần Đăng Khoa)
Bài thơ là hình ảnh cây dừa đợc nhân hoá nh con ngời yêu thiên nhiên Dừa cũng nh con ngời, gắn bó với thiên nhiên, dừa làm bạn với gió, với trăng Dừa dang cánh tay dài của mình để đón gió làm bầu bạn, gật đầu để gọi trăng lên Nhà thơ quan sát cây dừa bao quát rồi đi vào miêu tả cụ thể Dừa mặc chiếc
áo đã bạc phếch vì gió sơng chứng tỏ dừa đã trải qua bao tháng ngày gian khổ Tuy hình dạng đã là một cây già nhng tâm hồn dừa vẫn trẻ mãi Tàu dừa nh
chiếc l
“ ợc chải vào mây xanh ” Nhìn tàu dừa mà liên tởng đến chiếc lợc, nhà thơ quả có con mắt tinh tờng ở đây, ta thấy sự gắn bó giữa dừa và thiên nhiên rộng lớn Vào sâu hơn chút nữa, quan sát kỹ hơn nữa, ta lại thấy nguồn “n ớc ngọt, nớc lành” từ những quả dừa làm dịu đi cơn khát và cái nóng của buổi tra
hè oi ả Nớc dừa nh dòng sữa mẹ nuôi dỡng con ngời và cũng giống nh một loại rợu làm say lòng ngời nếu ai đã từng đợc nếm Theo cách nghĩ của nhà thơ nhỏ tuổi, cây dừa_một vật vô tri vô giác đã trở thành nhân vật biết nói, biết làm những công việc có ích cho con ngời: “Ai mang n ớc ngọt, nớc lành ” Tuy phải chịu nhiều gian khổ nhng dừa vẫn mang lại niềm vui, xoa dịu cái nóng bức của mùa hè:
“Tiếng dừa làm dịu nắng tra
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo ”Qua hình ảnh cây dừa, ta nh thấy hiển hiện một ngời lính kiên gan canh giữ trời đất Ngời lính ấy không ngại khó khăn, gian khổ Dù trong mọi hoàn cảnh nào cũng vẫn phơi phới niềm vui, “đủng đỉnh nh là đứng chơi ” Cho nên,
Trang 34dù phải làm công việc hết sức quan trọng, dừa vẫn mải vui lắm, gọi đàn gió đến múa reo, làm dịu đi cái nóng tra hè, cùng đàn cò đánh nhịp Phải có con mắt nhìn của trẻ thơ, thi sĩ mới có đợc những so sánh, liên tởng hồn nhiên đến vậy
Điều này là do cây dừa đã quá thân thuộc với ngời dân Việt, dừa nh chỗ dựa và cũng muốn đợc thiên nhiên và con ngời chở che Dừa cũng chính là biểu tợng
đẹp đẽ của một dân tộc anh hùng luôn vợt qua mọi khó khăn, bám trụ và gắn bó với quê hơng, đất nớc
Mỗi một loài cây hay một cảnh đẹp cũng đều có sự gắn kết hết sức chặt chẽ với con ngời Trong thiên nhiên có bóng dáng của con ngời, con ngời hoà quyện với cảnh đẹp của thiên nhiên Việt Bắc_căn cứ thời chống Pháp không những là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến mà còn là nơi có phong cảnh hữu tình Cán bộ ta về lại với thủ đô nhng không lúc nào quên đợc, họ vẫn lu luyến với cảnh và ngời ở chiến khu:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng ngời.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ ngời đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Trang 35thêm ngọt ngào, da diết, xúc động lòng ngời Nhóm từ “hoa cùng ng ời” tạo
thành một chỉnh thể tuyệt đẹp, quấn quyện hài hoà giữa thiên nhiên và con ngời Cảnh trong ngời, ngời trong cảnh, cảnh hoà ngời, ngời lồng cảnh, tất cả đều trở thành đối tợng của nỗi nhớ đang da diết trong tâm hồn ngời cán bộ
Thiên nhiên Việt Bắc đợc nhà thơ miêu tả ở từng mùa khác nhau, khiến cho ngời đọc cảm nhận thấy cả bài thơ nh một bộ “tứ bình” Đầu tiên, mùa đông Việt Bắc hiện lên trớc mắt là một màu đỏ tơi của những chùm hoa chuối nổi bật trong nền rừng xanh trải dài Sự hài hoà giữa hai gam màu xanh và đỏ tơi, giữa màu nóng và màu lạnh tạo ra bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, giàu sức sống ngay cả giữa mùa đông giá rét Hay đó cũng chính là con ngời Việt Bắc kiên cờng giữa bao gian khổ? Đi cùng với màu rực đỏ của hoa chuối, hình ảnh con ngời với lỡi dao sắc bén ở thắt lng tạo thành không gian ba chiều đặc sắc Lúc này, con ngời là chủ thể của thiên nhiên và thiên nhiên cũng hoà cảm với con ngời
Và ngay sau mùa đông, bức tranh về mùa xuân ấp áp với màu trắng hoa mơ hiện ra trong không gian trong sáng, tơi đẹp Hoa mơ đây là đặc trng của vùng núi phía Bắc, cứ mỗi độ xuân về, khắp núi rừng lại tràn ngập một màu trắng tinh khiết, nhẹ nhàng mà không cảm thấy lạnh lẽo Nếu nh ta đặt bên cạnh
sự tinh khiết ấy một ngời lao động vất vả có lẽ sẽ không phù hợp Hoa mơ nở làm đẹp cho mùa xuân thì những ngời đan nón bằng sự tài hoa của mình sẽ làm
đẹp cho cuộc sống
Bức tranh mùa hè hiện ra thật rực rỡ, chói chang Cách dùng từ của nhà thơ khiến cho ngời đọc có cảm giác chính tiếng “ve kêu” làm cho “rừng phách
đổ vàng”, một màu vàng chảy tràn ra trong nắng hè Màu sắc nối với âm thanh,
âm thanh tác động đến màu sắc tạo ra khung cảnh tng bừng của mùa hè Việt Bắc Giữa bức tranh sôi động ấy là hình ảnh cô em gái đang lặng lẽ trong công việc bình dị của mình Tuy nhiên, cô gái ấy không cô đơn bởi cô đã có cả dàn nhạc núi rừng ở bên Đó là sự kết hợp hết sức nhuần nhuyễn giữa cảnh và ngời
Nếu nh ba cảnh ở trên đều là cảnh đẹp ban ngày thì đêm thu đến cảnh rừng nơi đây lại càng lung linh, huyền ảo Đêm trăng thu gợi lên khung cảnh hoà bình mà mọi ngời đều trông đợi Cũng chính trong khung cảnh ấy mà cán
Trang 36bộ ta nhớ đến tiếng hát ân tình thuỷ chung đã từng gắn bó trong suốt quãng thời gian kháng chiến.
Không những thiên nhiên Việt Bắc đẹp mà Việt Bắc còn đánh giặc rất giỏi:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
”
Những ngời lính cụ Hồ đã dựa vào địa thế đặc biệt của Việt Bắc để chiến
đấu với quân thù Và thiên nhiên nơi đây cũng không phụ công con ngời: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù ” Nh vậy, thông qua bài thơ này ta thấy rõ thiên nhiên, đất nớc ta không những đẹp mà còn gắn kết sâu sắc với con ngời, tạo thành chỉnh thể thống nhất
Nằm trong khu vực nhiệt đới nên thiên nhiên u đãi cho nớc ta có hệ thống sông ngòi hết sức phong phú và đa dạng Chỉ với một con sông thôi, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho ta thấy đợc cả một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc luôn biến đổi theo thời gian, theo màu trời, màu nắng, màu cỏ cây:
“Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thiết tha
Tra về trời rộng bao la
áo xanh sông mặc nh là mới may
Chiều trôi thơ thẩn áng mây Cài lên màu áo hây hây ráng vàng
Rèm thêu trớc ngực vầng trăng Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên
Khuya rồi sông mặc áo đen Nép trong rừng bởi lặng yên đôi bờ
Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ
Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa
Ngớc lên bỗng gặp la đà
Trang 37Ngàn hoa bởi đã nở nhoà áo ai ”
(Dòng sông mặc áo - Nguyễn Trọng Tạo)
Cả bài thơ là những quan sát, phát hiện của tác giả về vẻ đẹp của dòng sông quê hơng, một dòng sông rất duyên dáng luôn luôn có sự thay đổi Dòng sông thay đổi màu sắc giống nh con ngời thay đổi màu áo Cách nói “dòng sông mặc áo” rất lạ mà cũng rất hay, đây là hình ảnh nhân hoá làm cho sông trở
nên gần gũi với con ngời Ban ngày, dòng sông mặc tấm áo lụa đào, nhng tra về, khi nắng đã soi rõ thì bóng của những hàng cây thay cho sông một tấm áo mới
Đó là một màu xanh của nền trời, của cỏ cây Sông nh đợc hoà lẫn với tiếng thở của đất trời, mọi cảnh vật cùng hỗ trợ cho nhau tạo nên bức tranh bình yên Chiều đến, khi ánh nắng không còn chói chang nh ban tra, khi ánh hoàng hôn dạo chơi qua dòng sông thì chiếc áo đẹp của sông đợc tô điểm bởi màu vàng hây hây Từ những thay đổi theo thời gian, chiếc áo của dòng sông còn thay đổi theo màu trời Lúc trăng lên, bầu trời nhuộm màu tim tím thiết kế cho sông kiểu
áo nhung có muôn ngàn vì sao tô điểm Nhng khi khuya rồi, sông lại lặng lẽ nép mình trong rừng hoa bởi với chiếc áo đen huyền bí Nó đã khoác lên mình đủ loại áo với nhiều màu sắc và mức độ đậm nhạt khác khau Phải chăng bầu trời là nhà hoạ sĩ đã vẽ nên cùng một khổ giấy những bức tranh khác nhau? Dòng sông mặc áo là hình ảnh làm nổi bật sự thay đổi màu sắc của dòng sông, và nhà thơ cũng thông qua đó, ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông quê hơng Qua việc tìm hiểu bài thơ, mỗi ngời chúng ta nh thấy thêm yêu hơn dòng sông thân thơng của quê hơng mình
Mỗi quốc gia có niềm tự hào riêng về đất nớc thân yêu Việt Nam cũng vậy, ngoài những con ngời anh hùng, quê hơng ta rất tự hào về các địa danh với những cảnh đẹp hết sức nên thơ:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
* Gió đa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xơng.
Trang 38Mịt mù khói toả ngàn sơng, Nhịp chày Yên Thái, mặt gơng Tây Hồ.
*
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ.
* Hải Vân bát ngát nghìn trùng Hòn Hồng sừng sững đứng trong vịnh Hàn.
* Nhà Bè nớc chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về ”
(Cảnh đẹp non sông - Ca dao)
Dọc chiều dài đất nớc, từ Bắc vào Nam, đất nớc ta có biết bao nhiêu cảnh
đẹp Lạng Sơn với Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Nhắc đến Lạng Sơn, ai cũng nhớ tới các địa danh đó không chỉ bởi nó
đẹp mà còn mang trong mình bao nhiêu sự tích Câu chuyện về nàng Tô Thị hoá
đá chờ chồng không một ngời dân Việt nào lại không biết Hay đến với thủ đô
Hà Nội, ta tự hào với tiếng chuông Trấn Vũ, với canh gà Thọ Xơng, với nhịp chày Yên Thái, với mặt gơng Tây Hồ Đó là những cảnh đẹp hết sức cổ kính, từ những tiếng phát ra ở làng nghề cho đến cảnh đẹp thiên nhiên đều toát lên một
vẻ uy nghi, trầm lắng của thủ đô văn hiến Tiến vào miền trong một chút, đi qua
xứ Nghệ, ta không chỉ khâm phục những con ngời cần cù, chất phác nơi đây mà còn bị chinh phục bởi bức tranh phong cảnh mà thiên nhiên ban cho Nơi đây có cả non, cả nớc với những đờng uốn lợn nh ai khéo vẽ vào Đi qua khu vực miền Trung, ta bắt gặp con đèo hiểm trở mà hùng vĩ: Hải Vân Một bên là núi cao, một bên là vực thẳm với con đờng uốn lợn, ngoằn ngoèo nối liền cố đô Huế với thành phố Đà Nẵng Nơi đây còn có Hòn Hồng sừng sững ngay trong vịnh Hàn tạo nên bức tranh tĩnh với sự gắn bó giữa non và nớc Xa hơn nữa, vào đến miền Nam, thiên nhiên nơi đây hiện ra với Nhà Bè, Gia Định, Đồng Nai Thủ phủ Gia
Định đợc nối liền với tỉnh Đồng Nai bằng con sông Nhà Bè Trên khắp đất nớc
Trang 39có biết bao cảnh đẹp đã đi vào các câu ca dao, đi vào lời ru của bà của mẹ nhờ
đó mà đến với trẻ em nhanh chóng và thuận tiện Thông qua việc tìm hiểu vẻ
đẹp của thiên nhiên đất nớc, sách giáo khoa còn hớng các em đến việc giữ gìn, tô điểm cho non sông ngày càng đẹp hơn
Nh vậy, cảm hứng ca ngợi thiên nhiên, quê hơng, đất nớc trong thơ lục bát ở Tiểu học chủ yếu là ca ngợi những cảnh đẹp gắn bó với con ngời, gắn bó với các em thiếu nhi: cây tre, cây dừa, dòng sông, phong cảnh Những hình
ảnh gần gũi, quen thuộc và bình dị ấy đợc các nhà thơ nhìn bằng “con mắt thơ” cho nên tất cả đều trở nên sống động và hấp dẫn đối với các em, với ngời đọc Chúng đã đợc hình tợng hoá để ngời đọc cảm nhận đợc cái đẹp, từ đó thêm yêu quê hơng, đất nớc mình
3.2.2 Tình yêu cuộc sống, yêu con ngời; những bài học quý
Cuộc sống cứ trôi đi, mang trong nó biết bao nhiêu điều khiến ngời ta phải suy ngẫm, phải có sự trải nghiệm mới rút ra đợc Chắc hẳn chúng ta ai cũng có niềm đam mê và quan niệm sống của riêng mình, nhng cùng tụ lại ở một điểm khá rõ đó là tình yêu Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học với những bài thơ lục bát góp phần giáo dục cho các em học sinh tình yêu cuộc sống, tình yêu con ngời và rút ra những bài học quý Chúng tôi đã xếp vào phần
có nội dung giáo dục này những bài thơ sau:
Mỹ Dạ, thì: “Chỉ còn truyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình ” Thời gian ngày càng đẩy lùi những năm tháng xa xa ra khỏi đời sống
Trang 40hiện tại, song không vì thế mà các thế hệ mất liên lạc với nhau Vẫn còn đó một nguồn mạch tinh thần chảy mãi trong sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng
đồng Làm nên nguồn mạch ấy, có sự góp phần của những câu chuyện cổ:
“Tôi yêu truyện cổ nớc tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thơng ngời rồi mới thơng ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
ở hiền thì lại gặp hiền Ngời ngay thì đợc phật, tiên độ trì.
Đẽo cày theo ý ngời ta
Sẽ thành khúc gỗ, chẳng ra việc gì
Tôi nghe chuyện cổ thầm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.
(Truyện cổ nớc mình Lâm Thị Mỹ Dạ)–Mặc dù không gọi tên, nhng ta vẫn nhận ra những truyện cổ quen thuộc
ẩn hiện, quấn quýt trong những dòng thơ lục bát Xuyên suốt những câu chuyện
đó, nhà thơ đã vẽ đợc chân dung ông cha mình – một bức chân dung tinh thần với những đờng nét vừa khái quát, vừa sinh động Qua đoạn trích trên, ta thấy
tác giả đã sử dụng hai câu truyện cổ là: Tấm Cám và Đẽo cày giữa đờng để làm
dẫn chứng cho kho tàng truyện rộng lớn Mỗi câu chuyện trong kho tàng đó là một ớc mơ tốt lành về quan hệ giữa con ngời với con ngời, là một lời ngợi ca nhân nghĩa mà ông cha ta gửi gắm cho các thế hệ sau