1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khóa luận tốt nghiệp ĐHTH

69 295 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu phân môn Tập làm văn trong SGK lớp 4 chương trình mới
Tác giả Vũ Thị T
Người hướng dẫn Giảng viên Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên
Chuyên ngành Giáo viên Tiểu học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 621,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các kỹ năng này do phân môn TLV rèn luyện và phát triển cho nên có thể nói nhiệm vụ chủ yếu của phân môn TLV là giúp học sinh sau một quá trình luyện tập lâu dài và có ý thức, dần dần nắ

Trang 1

Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu häc Kim X¸ 2, tập thể giáo viên trường Tiểu học Kim X¸ 2 - huyÖn VÜnh Têng - tỉnh Vĩnh Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình điều tra và nghiên cứu.

Do thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ hiểu biết cũng như kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên nội dung bài tập này không tránh khỏi những thiếu sót Em trân trọng kính mong sự chỉ bảo và giúp đỡ của các thầy,

cô giáo cũng như bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Phần 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1 Lí do chọn đề tài :

TLV ở Tiểu học là môn học có tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp

và sáng tạo Mang tính chất thực hành, vì nhiệm vụ chủ yếu của nó là hình thành cho học sinh hệ thống kỹ năng nói và viết văn bản Mang tính toàn diện, tổng hợp vì TLV xây dựng trên thành tựu của nhiều môn khoa học khác nhau, trong đó nổi bật là lí thuyết hoạt động lời nói, các hiểu biết về ngữ pháp văn bản, vì TLV đòi hỏi học sinh huy động vốn kiến thức nhiều mặt từ các hiểu biết về cuộc sống tri thức văn học, khoa học thường thức, vì TLC đòi hỏi học sinh không chỉ vận dụng các hiểu biết lí luận mà còn cả cảm xúc, tình cảm, khi làm bài Vì TLC sử dụng nhiều loại kỹ năng dựng đoạn, viết bài các kỹ năng này do nhiều phân môn của môn Tiếng Việt rèn luyện

Tuy nhiên, trong những năm trước, việc học TLV chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn Các giờ làm văn nói học sinh gặp rất nhiều khó khăn như : sự e thẹn, rụt rè làm các em rối trí quên cả nội dung cần nói Học sinh không dám nói hoặc nói theo bài đọc thực chất là đọc bài viết đã chuẩn bị Bài TLV chỉ có một hình thức độc thoại trước lớp Mà suốt bậc Tiểu học không có tiết nào, bài học nào hướng dẫn trình bày độc thoại trước mọi người Người dạy

và người học tự giải quyết vấn đề này bằng kinh nghiệm của bản thân Còn trong giờ TLV viết do thời lượng bài viết dài, thời gian phân tích đề ít nên học sinh lúng túng nhiều khi không biết viết gì

Nhận thấy những hạn chế trên, chương trình Tiếng Việt Tiểu học mới đã

có nhiều thay đổi để phù hợp với việc dạy và học hiện nay Chương trình có rất nhiều điểm mới, đặc biệt phân môn TLV có sự thay đổi rõ rệt Nó là phân môn thể hiện rõ nhất quan điểm dạy học theo hướng tích cực Là một giáo sinh sư phạm, là một cô giáo Tiểu học tương lai, việc làm sao để giảng dạy phân môn này đạt hiệu quả cao là điều mà chúng tôi luôn mong muốn Vì vậy chúng tôi

Trang 3

muốn đi sâu vào tìm hiểu phân môn TLV trong chương trình Tiểu học mới Vì

thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung “Tìm hiểu phân môn TLV trong SGK lớp 4 chương trình mới”

2 Mục đích nghiên cứu :

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích sau :

1- Nắm kỹ hơn những điểm mới về kiến thức, kỹ năng của phân môn TLV trong SGK Tiếng Việt lớp 4

2- Trên cơ sở hiểu được cấu trúc, cách biên soạn các bài TLV ta có thể vận dụng những phương pháp dạy linh hoạt chuẩn bị cho công tác giảng dạy sau này

3- Rèn luyện tư duy nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ nhận thức của bản thân

3 Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các bài TLV, các thể loại TLV trong chương trình TLV sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu :

Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu, khoá luận cần thực hiện những nhiệm vụ sau :

- Tìm hiểu về cấu trúc, nội dung các bài TLV trong chương trình lớp 4

- So sánh để thấy được những điểm mới của chương trình, đặc biệt là quan điểm dạy giao tiếp trong dạy TLV

- Nêu một vài suy nghĩ của bản thân khi nghiên cứu chương trình

5 Phương pháp nghiên cứu :

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp :

1- Phương pháp thống kê phân loại tài liệu :

Chúng tôi tiến hành thống kê về quy mô, số lượng phân loại các dạng bài TLV lớp 4

2- Phương pháp so sánh đối chiếu :

Trang 4

Chúng tôi so sánh chương trình lớp 4 cũ và mới về quy mô số lượng, cấu trúc nội dung bài học, kỹ năng làm văn để thấy được điểm khác biệt giữa hai chương trình.

3- Phương pháp phân tích tổng hợp :

Phân tích từng thể loại văn, phân tích từng đặc điểm của các bài TLV, trên cơ sở đó rút ra đặc điểm của chương trình TLV mới

6 Giới hạn của đề tài :

Vì thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các bài tập, các loại bài học của phân môn TLV trong SGK Tiếng Việt lớp 4 chương trình mới của Nhà xuất bản giáo dục năm 2005

7- Lịch sử của đề tài :

TLV là một phân môn được rất nhiều tác giả quan tâm :

Trong cuốn “Dạy TLV ở Tiểu học” xuất bản năm 2001, tác giả Nguyễn Trí đã phân tích mối quan hệ giữa TLV với các loại bài học khác trong môn Tiếng Việt, giới thiệu ngắn gọn chương trình, các mức độ yêu cầu và các dạng bài TLV ở Tiểu học Bên cạnh đó tác giả còn giới thiệu một số nét khái quát về quan niệm dùng là cơ sở cho chương trình TLV sau năm 2000 Sách cũng trình bày phương pháp dạy TLV theo chương trình hiện hành trên hai phương diện : theo kỹ năng cần rèn luyện ở các tiết dạy trong quy trình dạy một đề bài và theo các kiểu bài TLV Tác giả cũng nêu những kiến thức cơ sở cần vận dụng vào TLV và dạy TLV Tuy nhiên do phạm vi hạn hẹp, cuốn sách chưa thể giới thiệu hết các kiến thức cơ sở và cũng chưa thể đi sâu vào từng vấn đề

“Dạy văn cho học sinh Tiểu học” của các giả Hoàng Hoà Bình đã đề cập đến việc dạy tích hợp văn với TLV, đưa ra quy trình dạy TLV miêu tả và kể chuyện ở lớp 4 và lớp 5 Song do phạm vi nội dung cuốn sách, tác giả chỉ giành một phần cho TLV nên không thể đề cập sâu đến từng vấn đề cụ thể

Trong cuốn “Dạy TLV 4” tác giả Đặng Mạnh Thường lại nêu mục tiêu của môn Tiếng Việt, quan điểm đổi mới thể hiện ở SGK Tiếng Việt 4, cấu trúc

Trang 5

của SGK Tiếng Việt 4, nội dung dạy các kiểu bài tập, các biện pháp dạy học chủ yếu trong phân môn TLV.

Ngoài ra, có một số sinh viên khoa Đào tạo Giáo viên Tiểu học đã nghiên

cứu về chương trình TLV như đề tài khoá luận tốt nghiệp : Tìm hiểu về văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học 2000” của sinh viên Tạ Thị

Thu Hương K37 Trong đề tài này tác giả đã so sánh chương trình cũ với chương trình mới, tổng hợp các dạng bài TLV và nêu việc dạy tích hợp trong TLV Tuy nhiên, tất cả những vấn đề trên tác giả mới chỉ khảo sát ở một dạng văn - đó là văn miêu tả ở Tiểu học mà chủ yếu là ở lớp 4; lớp 5

Một đề tài nữa của sinh viên Thạch Thị Thu Hiền K38 “Thiết kế các dạng bài cung cấp kiến thức làm văn cho học sinh lớp 4 theo hướng dạy học tích cực”, tác giả chủ yếu đi sâu vào thiết kế một số tiết TLV theo hướng dạy

học tích cực Còn các kiểu bài TLV trong chương trình TLV 4, quan điểm giao tiếp của nó như thế nào chưa có tác giả nào đề cấp đến Nhằm góp phần cho việc nghiên cứu các dạng bài Tập làm văn và đáp ứng cho việc giảng dạy Tiếng Việt 4 và quan điểm dạy học theo hướng tích cực trong phân môn TLV

8 Cấu trúc đề tài :

Phần 1 : Một số vấn đề chung

Phần 2 : Nội dung nghiên cứu

Chương 1 : Cơ sở lí luận chung

Chương 2 : Các dạng bài TLV trong Tiếng Việt lớp 4

Chương 3 : Những điểm mới của chương trình TLV lớp 4

Phần 3 : Kết luận chung

Trang 6

Phần 2NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1 : Cơ sở lí luận chung

1.1 Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học trong chương trình mới:

Theo tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hoà Bình, Nguyễn Thị Hạnh trong tài liệu “Bồi dưỡng giảng viên sư phạm và cán bộ chỉ đạo sở Giáo dục và đào tạo về chương trình SGK Tiểu học 2000” mục tiêu của chương trình môn Tiếng Việt Tiểu học 2000 được xác định như sau :

1- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

2- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hoá văn học của người Việt Nam và nước ngoài

3- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ở lớp 4, mục tiêu nói trên được cụ thể hoá thành những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng đối với học sinh như sau :

- Nghe hiểu các tác phẩm hoặc đoạn trích, văn học dân gian, thơ, truyện, kịch, nhớ được nội dung nhân vật, chi tiết có giá trị nghệ thuật, biết nhận xét

về nhân vật, sự kiện trong tác phẩm tự sự

Trang 7

- Ghi được ý chính của các văn bản đã nghe.

* Nói :

- Biết trình bày, trao đổi tranh luận về những vấn đề gần gũi với đời sống

và phù hợp với trình độ của học sinh lớp 4

- Biết cách giới thiệu về lịch sử, hoạt động hoặc về các nhân vật tiêu biểu của trường hay với trình độ của học sinh lớp 4

- Biết kể lại một truyện đã học, đã nghe hoặc một việc đã làm, đã chứng kiến

* Đọc :

- Biết cách đọc các loại văn bản hành chính, khoa học, bái chí, văn học phù hợp với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện được tình cảm thái độ của tác giả, giọng điệu nhân vật

- Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 3

- Biết cách xác định đại ý, chia đoạn văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các đồ vật, tình tiết trong bài, biết nhận xét về một số hình ảnh nhân vật trong bài tập đọc có giá trị văn chương

- Biết sử dụng từ điển học sinh, có thói quen biết cách ghi chép các thông tin

* Viết :

- Viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, viết hoa đúng quy định Có khả năng tự sửa lỗi chính tả Có thói quen biết cách lập sổ tay chính tả, hệ thống hoá các quy tắc chính tả đã học

- Biết cách lập dàn ý cho bài văn, rút ra dàn ý từ đoạn văn đã cho sẵn, chuyển dàn ý thành đoạn văn

- Biết cách viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn, làm các bài văn kể chuyện, miêu tả đồ vật, cây cối, con vật Nắm vững cách viết mở bài, kết bài và đoạn văn

* Kiến thức Tiếng Việt và văn học (học thành tiết riêng)

- Về từ vựng :

Trang 8

+ Học thêm khoảng 700 từ, thành ngữ tục ngữ theo chủ điểm Nắm được nghĩa của một số yếu tố Hán - Việt, một số thành ngữ, tục ngữ thông dụng Nắm được nghĩa bóng của một số từ trong tác phẩm văn học.

+ Nắm được cấu tạo 3 phần của văn bản

- Về văn học :

+ Làm quen với một số tác phẩm văn học hoặc trích đoạn tác phẩm văn học dân gian, truyện, thơ, kịch, văn miêu tả của các tác giả trong và ngoài nước

+ Nắm được các khái niệm cốt truyện, đề tài, nhân vật,

1.2 Phân môn TLV ở Tiểu học :

1.2.1 Vụ trí, nhiệm vụ của phân môn TLV ở Tiểu học :

- Phân môn TLV rèn luyện cho học sinh các ký năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem từng phần, từng mặt thông qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác TLV đã góp phần hiện thực hai mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh học, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học

1.2.1.2 Nhiệm vụ :

- Sản phẩm của phân môn TLV là các bài văn biết hoặc nói theo các kiểu bài do chương trình quy định Để sản sinh được các văn bản này, học sinh phải

Trang 9

có thêm nhiều kỹ năng nghe ngoài kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, dùng từ, đặt câu, đó là các kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lựa chọn ý, lập dàn ý, viết đoạn, liên kết đoạn, các kỹ năng này do phân môn TLV rèn luyện và phát triển cho nên có thể nói nhiệm vụ chủ yếu của phân môn TLV là giúp học sinh sau một quá trình luyện tập lâu dài và có ý thức, dần dần nắm được các cách viết bài văn theo nhiều phong cách khác nhau do chương trình quy định.

- Ở tiểu học phân môn TLV còn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng từ

óc quan sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được tới khả năng nhào nặn các vật liệu có thực trong đời sống để xây dựng lên nhân vật, xây dựng cốt truyện Khả năng tư duy logic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình học các kiểu bài có phong cách nghệ thuật

1.2.2 Tính chất của phân môn TLV :

- Tính tổng hợp

+ Phân môn TLV sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kỹ năng viết chữ, đọc, nghe, nói, ) khi sử dụng, phân môn TLV cũng góp phần phát triển và hoàn thiện chúng

+ Phân môn TLV còn sử dụng kiến thức và kỹ năng do nhiều môn học khác trong nhà trường cung cấp (ví dụ : các hiểu biết do môn TNXH, do môn đạo đức, môn hát, vẽ , cung cấp)

+ Phân môn TLV còn huy động toàn bộ vốn sống hoặc những mảnh vốn sống của học sinh có liên quan đến đề bài Tả một cây đang ra hoa hoặc quả, tả một con mèo bắt chuột hoặc một con gà đang kiếm mồi, học sinh đâu có thể chỉ huy động vốn trí thức qua các bài học mà còn huy động tất cả những tình cảm, ấn tượng, cảm xúc, những ký ức còn lưu giữ được về các con vật hoặc cây đó

- Tính chất sáng tạp của phân môn TLV :

Khi làm bài văn, học sinh thực hiện một hoạt động giao tiếp Mỗi bài văn

là sản phẩm không lặp lại của từng học sinh trước đề bài Do đó có thể nói

Trang 10

trong việc học làm văn, học sinh được chủ động, tự do thể hiện cái “tôi” của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn Dạy TLV là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình.

1.2.3 Các kỹ năng làm văn : Được rèn luyện thông qua bài tập thực hành.

- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp :

+ Nhận diện đặc điểm loại văn bản

+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu

- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp

+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho

+ Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện

+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn miêu tả

- Kỹ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp :

+ Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)

+ Liên kết các đoạn thành bài văn

- Kỹ năng kiểm tra đánh giá hoạt động giao tiếp :

+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đoạt

+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

Trang 11

Chương 2 :

CÁC DẠNG BÀI TẬP LÀM VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 4

2.1 Nhận xét chung :

2.1.1 Cấu trúc chương trình Tập làm văn :

Dựa vào chương trình Tiểu học (ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và đào tạo), SGK Tiếng Việt 4 hai tập đã thiết kế chương trình TLV 4 như sau :

Số tiết trong bảng được thực hiện trong 31 tuần không kể 4 tuần (tuần 9, tuần 18, tuần 27, tuần 35) là thời gian dành cho ôn tập giữa học kỳ và cuối học kỳ

- Như vậy mỗi tuần có 2 tiết TLV, mỗi tiết dạy một bài học

- Các loại văn bản khác được bố trí dạy xen kẽ với văn kể chuyện và văn miêu tả

- Với số lượng tiết TLV đó, nó chiếm 20% tổng số tiết dạy của môn Tiếng Việt 4 chương trình mới

2.1.2 Yêu cầu của phân môn Tập làm văn 4 :

Đối với học sinh lớp 4 đòi hỏi những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng như sau :

Trang 12

- Khả năng đọc thầm, đọc lướt để xác định đề tài, ý chính và những từ ngữ chi tiết chưa hiểu tốt hơn trước, bước đầu biết đọc một cách diễn cảm một cách có ý thức, xác định được đề tài, nhận ra các đoạn văn, các tình tiết chính, mạnh cảm xúc trong bài văn.

- Biết và tích cực hoá vốn từ để dùng đúng từ (có thể là hay nữa) trong nói, viết và hiểu nghĩa của câu văn được sử dụng ý nghệ thuật, hiểu ý nghĩa của bài đọc được tác giả gửi trong tác phẩm

- Biết nhận xét với óc phê phán nhân vật, sự việc về cảm xúc và nghệ thuật của tác giả trong bài

- Biết lập dàn bài sơ lược hay chi tiết, liên kết các câu thành đoạn văn, chuyển câu văn ở dạng nói sang dạng viết hoặc ngược lại, biết kể hay tả bằng một văn bản ngắn, trọn vẹn điều đã nghe, đã đọc, đã thấy, đã cảm, đã thích thú, biết viết thư cho bạn bè và người thân, bước đầu biết tranh luận, bảo vệ ý kiến

cá nhân bằng chứng lý, biết tóm tắt thông tin

2.1.3 Nội dung của các bài TLV 4 :

Nội dung của các bài tập làm văn ở lớp 4 thường gắn liền với các chủ điểm đang học Đó là những vấn đề về đời sống tinh thần của con người như tính cách, đạo đức, sở thích, năng lực, cụ thể như sau :

Tập I gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần

Tuần 1; 2; 3; : Thương người như thể thương thân (nhân ái)

Tuần 4; 5; 6 : Măng mọc thăng (trung thực, tự trọng)

Tuần 7; 8; 9 : Trên đôi cách ước mơ (ước mơ)

Tuần 10 : Ôn tập giữa học kỳ I

Tuần 11; 12; 13 : Có chí thì nên (nghị lực)

Tuần 14; 15; 16; 17: Tiếng sáo diều (vui chơi)

Tuần 18 : Ôn tập cuối kỳ I

Tập II gồm 5 chủ điểm học trong 17 tuần

Tuần 19; 20; 21 : Người là hoa đất (năng lực, tài trí)

Tuần 22; 23; 24 : Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mỹ)

Trang 13

Tuần 25; 26; 27 : Những người quả cảm (dũng cảm).

Tuần 28 : Ôn tập giữa học kỳ II

Tuần 29; 30; 31 : Khám phá thế giới (du lịch, thám hiểm)

Tuần 32; 33; 34 : Tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời)

Tuần 35 : Ôn tập cuối kỳ II

Ở các lớp dưới, học sinh học tập làm văn chủ yếu là rèn luyện các nghi thức lời nói, viết văn bản dưới dạng một đoạn văn

Lên lớp 4 các em phải viết một bài văn hoàn chỉnh, đây là bước nhảy vọt

về chất từ viết đoạn lên viết bài Chính vì vậy SGK đã chú ý trang bị cho học sinh một số hiểu biết ban đầu về những đặc điểm chính cụ thể như sau :

- Với các bài văn củng cố kiến thức làm văn

+ Viết thư : Mục đích viết thư, cấu tạo một bức thư và cách viết thư

+ Trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu hoạt động của địa phương, tóm tắt tin tức, nắm được mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và cách thức thực hiện giao tiếp

Trang 14

+ Điền vào các giấy tờ in sẵn, nắm được mục đích và cách thức thực hiện.

- Với các kỹ năng làm văn

Ở dạng bài này chủ yếu rèn cho học sinh các kỹ năng làm văn, giúp học sinh luyện tập, củng cố các kiến thức Tập làm văn như :

+ Luyện tập tóm tắt tin tức

+ Luyện tập phát triển câu

+ Luyện tập miêu tả các bộ phận cây cối

2.1.4 Các loại bài học :

Chương trình Tập làm văn 4 được cụ thể hoá trong SGK Tiếng Việt 4 (2 tập) chủ yếu qua 2 loại bài học : Loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành

* Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần :

Gồm từ 1 đến 3 bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học sinh củng cố

và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học

* Loại bài luyện tập thực hành đơn giản nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc một đề TLV kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo 2 hình thức : nói, viết

Quy trình viết các loại bài đó như sau :

+ Đối với loại bài hình thành kiến thức :

a) Hướng dẫn học sinh nhận xét :

Dựa theo câu hỏi, bài tập gợi ý của mục I (Nhận xét) trong SGK giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm của loại văn thông qua việc khảo

Trang 15

sát văn bản, thảo luận, trả lời câu hỏi nhằm tự tìm ra những đặc điểm cần ghi nhớ (được diễn đạt ngắn gọn, xúc tích ở mục II trong SGK).

Các thao tác cần được thực hiện theo trình tự :

- Yêu cầu học sinh đọc mục Nhận xét trong SGK, khảo sát ngữ liệu (văn bản) để trả lời từng câu hỏi gợi ý

- Hướng dẫn học sinh trao đổi thảo luận nhằm rút ra những nhận xét đặc điểm loại văn (kiến thức cần ghi nhớ)

b) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ :

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ nội dung mục II (Ghi nhớ) trong SGK sau đó nhắc lại (không nhìn sách) để học thuộc và nắm vững

c) Hướng dẫn học sinh luyện tập :

Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện từng bài tập ở mục III (Luyện tập) trong SGK theo trình tự các thao tác :

- Đọc và nhân hiểu yêu cầu của bài tập (giáo viên có thể gợi ý thêm bằng câu hỏi hoặc lời giải thích)

- Thực hành luyện tập theo từng yêu cầu của bài tập (có thể làm thử một phần bài tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó trao đổi, thảo luận theo cặp hoặc nhóm, )

- Nêu kết quả trước lớp để giao viên nhận xét, đánh giá nhằm củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng theo yêu cầu của bài học

+ Đối với loại bài luyện tập thực hành :

Đây là loại bài chủ yến nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng làm văn Nội dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc một đề TLV

Dựa vào mục đích, yêu cầu của bài dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự các thao tác đã nêu ở mục c) của loại bài hình thành kiến thức, hoặc hướng dẫn học sinh thực hiện lần lượt từng nội dung gợi ý trong SGK để luyện tập các kỹ năng TLV dưới hình thức nói, viết theo đề bài cho trước, VD : Ở các bài luyện tập thực hành theo đề bài TLV, giáo viên cần thực hiện các thao tác sau :

Trang 16

- Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng nội dung yêu cầu của đề.

- Hướng dẫn học sinh dựa vào gợi ý SGK để thực hiện từng yêu cầu (theo hình thức nói hay viết)

- Tổ chức nhận xét, đánh giá kết quả thực hành nhằm trau dồi các kỹ năng làm bài văn cho học sinh

2.2 Các dạng Tập làm văn :

2.2.1 Văn kể chuyện :

2.2.1.1 Số bài và thời lượng học:

Văn kể chuyện được học trong 19 tiết từ tuần 1 đến hết tuần 13 chiếm khoảng 30% tổng số tiết làm văn, cụ thể gồm những tiết sau :

- Thế nào là văn kể chuyện : 1 tiết

- Đặc điểm của nhân vật (ngoại hình, hành động, lời nói, ý nghĩ) : 4 tiết

- Phát triển câu chuyện : 4 tiết

- Mở bài trong bài văn kể chuyện : 1 tiết

- Kết bài trong bài văn kể chuyện : 1 tiết

2.2.1.2 Yêu cầu của văn kể chuyện :

- Văn kể chuyện đòi hỏi phải có chuyện (cốt truyện) Mỗi câu chuyện viết ra đâu chỉ đơn giản là kể lại mà thông qua đó ta muốn kể về ý nghĩa của cuộc sống xung quanh, về phẩm chất, tính cách con người Từ đó thấy cái hay, cái dở của cuộc sống để thêm tin yêu, hăng hái phấn đấu, tu dưỡng cho cuộc đời thêm tốt đẹp Do đó “sự việc có diễn biến” chỉ là phương tiện còn “ý nghĩa, điều muốn nói” mới là mục đích của truyện Người kể chuyện có thể kể câu chuyện thật cũng có thể bịa ra câu chuyện, nhân vật dựa trên kinh nghiệm sống của mình nhưng không thể bịa ra ý nghĩa cuộc đời Ý nghĩa đó phải rất thật, gắn

Trang 17

bó, thể hiện sâu sắc cách hiểu, niềm tin, lí tưởng đạo đức thiêng liêng của con người Tóm lại truyện có hay hay không chính là ở ý nghĩa cuộc sống của nó mang lại cho người đọc.

- Khi kể chuyện cần đảm bảo các yếu tố : cách sắp xếp câu chuyện, cách

mở đầu kết thúc, cách thắt nút, cách lựa chọn ngôi kể, giọng kể, lựa chọn chi tiết tình huống hay

2.2.1.3 Các dạng bài Tập làm văn kể chuyện :

- Kể chuyện đã nghe, đã đọc, đã học :

Dạng bài này bên cạch nhiệm vụ chủ yếu là rèn cách viết văn, kể chuyện cho học sinh, nó còn có tác dụng củng cố và đi sâu hơn vào những tri thức mà các em đã có

VD : Kể lại một câu chuyện đã học (qua các bài tập đọc, kể chuyện, tập làm văn) trong đó các sự việc được sắp xếp theo trình tự thời gian

Hay VD : Dựa theo nội dung trích đoạn kịch “Ở vương quốc tương lai” (Bài tập đọc tuần 7) hãy kể lại câu chuyện ấy theo trình tự thời gian

(Bài 1/84-SGK T1)

Hệ thống ngữ liệu được sử dụng trong dạng văn này thường là các bài tập đọc đã được học Quá trình học sinh thực hiện các kỹ năng phân tích để tìm ý, viết đoạn là cơ hội giúp các em mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học

- Kể chuyện theo trí tưởng tượng :

Đặc điểm của dạng bài này là đề bài mở ra nhiều hướng để mỗi học sinh

có thể làm theo cảm nhận dựa vào những hiểu biết, vốn sống của bản thân Nó rèn trí tưởng tượng phong phú, phát huy tối đa sức sáng tại của trẻ

VD : Cho tình huống sau :

Một bạn nhỏ mải vui đùa, chạy nhảy lỡ làm ngã một em bé Em bé khóc

Em hãy hình dung sự việc và kể tiếp câu chuyện theo một trong hai hướng sau :

a) Bạn nhỏ biết quan tâm đến người khác

b) Bạn nhỏ không biết quan tâm đến người khác

Trang 18

(Bài tập 2/14-SGK T1)Hay VD : Hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật : bà mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và bà tiên.

(Bài tập /45-SGK T1)Giải quyết các bài tập trên, học sinh còn rút ra được những kinh nghiệm giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường

2.2.1.4 Các kiểu bài tập trong văn kể chuyện :

Do TLV 4 hướng vào rèn luyện kỹ năng lập dàn ý, viết đoạn, quan sát, cho nên ứng với mỗi tiết đều có kiểu bài tập khác nhau phục vụ cho việc luyện tập các kỹ năng đó

Cụ thể như sau :

* Bài tập tìm hiểu đặc điểm của nhân vật :

- Điền tên nhân vật vào chỗ trống :

Đặc điểm : Dựa vào đặc điểm của nhân vật đã cho sẵn và những tình huống trong truyện, học sinh phải điền tên nhân vật vào chỗ trống sao cho phù hợp với nhân vật đó

VD : Chim sẻ và chim Chính là đọi bạn thân nhưng tính tình khác nhau Chính xởi lởi, hay giúp bạn Còn Sẻ thì đôi khi bụng dạ hẹp hòi Dưới đây là hành động của hai nhân vật ấy trong câu chuyện “Bài học quý” Em hãy điều tên nhân vật (Chích hoặc Sẻ) vào trước hành động thích hợp và sắp xếp các hành động ấy thành một câu chuyện

1 Một hôm được bà gửi cho một hộp hạt kê

2 Thế là hằng ngày nằm trong tổ ăn hạt kê một mình

3 đi kiếm mời tìm được những hạt kê ngon lành ấy

4 Khi ăn hết ben quẳng chiếc hộp đi

5 không muốn chia cho cùng ăn

6 bèn gói cẩn thận những hạt kê còn sót lại vào một chiếc lá rồi đi tìm người bạn thân thiết của mình

7 Gió đưa những hạt kê còn sót trong hộp bay xa

Trang 19

8 vui vẻ đưa cho một nửa.

9 .ngượng nghịu nhận quà của và tự nhủ “ đã cho mình một bài học quý về tình bạn”

(Bài tập /21-SGK T1)Mục đích : Kiểu bài này rèn cho học sinh nhận diện về hành động, tính cách của nhân vật trong truyện và sắp xếp các hành động ấy theo một trình tự hợp lí

- Miêu tả ngoại hình nhân vật :

Đặc điểm : Cho đoạn văn, yêu cầu học sinh xác định những chi tiết miêu

tả ngoại hình của nhân vật

VD : Cho đoạn văn sau miêu tả ngoại hình của một chú bé liên lạc cho

bộ đội trong kháng chiến Tác giả đã chú ý đến miêu tả những chi tiết nào? Các chi tiết ấy nói lên điều gì về chú bé?

Tôi nhìn em Một em bí gầy, tóc húi ngắn, hai túi của chiếc áo cánh nâu trễ xuống tận đùi như phải chịu nhiều thứ quá nặng Quần của em chỉ ngắn tới đầu gối để lộ đôi bắp chân nhỏ luôn động đậy Tôi đặc biệt chú ý đến đôi mắt của em, đôi mắt sáng và xếch khiến người ta có ngay cảm giác là một em bé vừa thông minh vừa gan dạ

(Bài 1/24-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh biết dựa vào đặc điểm ngoại hình để xác định tính cách nhân vật và ý nghĩa của truyện khi đọc truyền, tìm hiểu truyện Bước đầu biết lựa chọn chi tiết tiêu biểu để ta ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện

- Sự chuyển đổi giữa lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp :

Đặc điểm : Cho những đoạn văn trong đó lời trong truyện có thể là lời của người dẫn truyện cũng có thể là lời của người trực tiếp tham gia vào tình huống truyện Yêu cầu học sinh chuyển từ lời dẫn truyện trực tiếp sang lời dẫn truyện gián tiếp và ngược lại

VD 1: Chuyển lời dẫn truyện gián tiếp thành lời dẫn trực tiếp

Trang 20

Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà hàng nước xem trầu đó ai têm Bà lão bảo chính tay bà têm Vua gặng hỏi mãi bà lão đành nói thật là con gái bà têm.

* Bài tập về xây dựng cốt truyện :

Gồm các loại bài :

- Sắp xếp các ý thành câu chuyện :

Đặc điểm L Chi các ý chính của câu chuyện trong đó chúng bị xáo trộn Yêu cầu học sinh sắp xếp theo một trình tự logic

VD : Truyện “Cây khế” bao gồm các sự việc chính sau :

+ Chim chở người em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có

+ Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được một cây khế.+ Người anh biết chuyện đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em bằng lòng

+ Cây khế có quả, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn bằng vàng.+ Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ nhưng người anh may túi quá to và lấy quá nhiều vàng

+ Người anh bị rơi xuống biển và chết

(Bài 1/43-SGK T1)

Trang 21

Mục đích : Giúp học sinh nắm được thế nào là một cốt truyện và ba phần

cơ bản của cốt truyện (mở đầu, diễn biến, kết thúc) Bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học để sắp xếp các sự việc chính của một câu chuyện

- Kể lại vắn tắt một câu chuyện :

Đặc điểm : Đề bài thuộc dạng này chỉ yêu cầu học sinh kể một câu chuyện trong đó làm nổi bật được những ý chính

VD : Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện có ba nhân vật : bà mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và một bà tiên

(bài tập /45-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh thực hành tưởng tượng và tạo lập một cốt truyện đơn giản theo gợi ý đã cho sẵn nhân vật, chủ đề câu chuyện

* Bài tập xây dựng đoạn văn trong bài kể chuyện :

Gồm các loại bài :

- Viết tiếp đoạn văn còn thiếu :

Đặc điểm : Cho đoạn văn đã viết được phần mở đầu, diễn biến hoặc kết thúc Yêu cầu học sinh hoàn thành nốt những phần còn thiếu

VD : Bạn Hà viết thử 4 đoạn của câu chuyện “Vào nghề” nhưng chưa viết được đoạn nào hoàn chỉnh Em hãy giúp bạn hoàn chỉnh một trong các đoạn ấy :

b) Đoạn 2 :

+ Mở đầu : Rồi một hôm, rạp xiếc thông báo tuyển diễn viên Valia xin

bố mẹ cho đi học nghề

+ Diễn biến :

Trang 22

+ Kết thúc : Bác giám đốc gật đầu cười và bảo em : Công việc của người diễn viên phi ngựa, đánh đàn bắt đầu như thế đấy cháu ạ Cái tháp nào cao cũng phải xây lên từ mặt đất.

c) Đoạn 3 :

+ Mở đầu :

+ Diễn biến : Những ngày đầu, Valia rất bỡ ngỡ Có lúc em nản chí Nhưng cứ nhớ đến hình ảnh cô diễn viên phi ngựa, em lại thấy phấn chấn hẳn lên

- Phát triển ý chính thành đoạn văn :

Đặc điểm : Cho một số bức tranh minh hoạ Dưới mỗi bức tranh đều là các ý chính Dựa vào đó mỗi ý chính phát triển thành một đoạn văn

VD : Bài tập 2/64-SGK T1 gồm 6 bức tranh nói về câu chuyện “Ba lưỡi rìu” Yêu cầu học sinh phát triển thành 6 đoạn văn

Mục đích : Giúp các em biết phát triển ý thành một đoạn văn

* Bài tập về phát triển câu chuyện.

Đặc điểm :Dạng bài tập này thường là những đề văn hoàn chỉnh

VD : Trong giấc mơ em được bà tiên cho ba điều ước và em đã thực hiện

ca ba điều ước đó hãy kể lại câu chuyện theo trình tự thời gian

Trang 23

(Bài tập /75-SGK T1)hoặc dựa theo nội dung trích đoạn kịch “Ở vương quốc tương lai” hãy kể lại câu chuyện ấy theo trình tự thời gian.

(bài tập /84-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh biết cách sắp xếp các đoạn văn kể chuyện

theo trình tự thời gian, trình tự không gian

* Bài tập về cách viết mở bài, kết bài trong bài văn kể chuyện :

Gồm các loại bài :

- Nhận diện các cách mở bài, kết bài :

Đặc điểm : Cho một số cách mở bài, kết bài khác nhau của cùng một đề bài Yêu cầu học sinh xác định xem đó là cách mở bài, kết bài nào?

VD : Đọc các mở bài sau và cho biết đó là những cách mở bài nào?

a) Có một con rùa sống bên bờ sông Biết mình chậm chạp nên hôm nào cũng vậy, vừa sáng sớm tinh mơ nó đã ra bờ sông tập chạy

b) Xưa nay người cậy tài giỏi mà chủ quan, biếng nhác thì chẳng làm nên việc

gì Ngược lại sức nó kem những quyết tâm nhận nại ắt thành công Câu chuyện

“Rùa và Thỏ” chứng minh điều đó

c) Đầu năm học vừa qua lớp em có mấy bạn vì chủ quan lười biếng nên kết quả học tập sút hẳn so với hồi lớp 3 Cô giáo bèn kể chuyện “Rùa và Thỏ” khuyên các bạn phải cố gắng chăm chỉ Câu chuyện như sau :

d) Trong các loài thú mấy ai chạy nhanh bằng Thỏ chúng tôi Thấy bóng chúng tôi trên đường đua thì hươu nai còn phải nể, chưa nói gì tới bác trâu hay lợn Thế mà có lần Thỏ tôi phải ngậm đắng nuốt cay chịu thu anh chàng Rùa nổi tiếng lù dù, chậm chạp Câu chuyện ấy dạy cho tôi một bài học nhớ đời Đầu đuôi thế này :

(Bài 1/113-SGK T1)Hoặc VD :

Sau đây là một số kết bài của truyện “Rùa và Thỏ” Em hãy cho biết đó

là cách cách kết bài nào?

Trang 24

a) Lúc sực nhớ đến cuộc thi, ngẩng đầu lên, thấy Rùa đã gần tới đích bèn vắt chân lên cổ mà chạy Nhưng muộn mất rồi Rùa đã tới đích trước nó.

b) Câu chuyện “Rùa và Thỏ” là lời nhắc nhở nghiêm khắc đối với những ai hay

ỉ vào sức mình mà chủ quan biếng nhác

c) Đó là toàn bộ câu chuyện về chú Thỏ hợm hĩnh phải nếm mùi thất bại trước anh chàng Rùa có quyết tâm cao

d) Nghe xong câu chuyện cô giáo kể, ai cũng tự nhủ : không bao giờ được lơ là trong học tập và rèn luyện bản thân

e) Cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyện chạy thi với Rùa, tôi vẫn đỏ mặt

vì xấu hổ Mong sao đừng ai mắc bệnh chủ quan hợm hĩnh như Thỏ tôi ngày nào!

(Bài 1/123-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh nhận diện được các cách mở bài, kết bài, hiểu được thế nào là mở bài trực tiếp, mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng

- Xác định mở bài, kết bài trong câu chuyện :

Đặc điểm : Cho một câu chuyện Yêu cầu học sinh xác định phần mở bài, kết bài

VD : Tìm phần kết bài của các truyện sau và cho biết đó là những cách kết nào theo cách nào?

a) Một người chính trực

b) Nỗi dặn vặt của An - đrây - ca

(Bài 1/123-SGK T1)Mục đích : Giúp các em xác định được phần mở bài, kết bài trong một câu chuyện

- Viết mở bài, kết bài theo yêu cầu :

Đặc điểm : Đề bài thường yêu cầu học sinh kể theo nội dung đã cho sẵn.VD1 : Kể lại phần mở đầu của câu chuyện “Hai bàn tay” theo cách mở bài gián tiếp

Trang 25

2.2.2 Văn miêu tả :

2.2.2.1 Quy mô, số lượng :

Văn miêu tả được học trong 30 tiết từ tuần 14 đến tuần 35 (trừ tuần 18; tuần 27; tuần 35) chiếm khoảng 48% tổng số tiết TLV

Văn miêu tả trong chương trình TLV 4 được chia ra như sau :

1- Miêu tả đồ vật 10 tiết (6 tiết học ở học kỳ I và 4 tiết học ở học kỳ II)

và học từ tuần 14 đến tuần 21

2- Miêu tả cây cối gồm 11 tiết từ tuần 21 đến tuần 27

3- Miêu tả con vật gồm 8 tiết từ tuần 29 đến tuần 34

Cả ba loại văn miêu tả đều được học theo các tiết học sau :

- Tiết học cấu tạo văn miêu tả :

Tiết học này giúp học sinh rút ra được cấu tạo của bài văn miêu tả thuộc một kiểu bài nhất định Biết được cấu tạo của một bài văn, học sinh sẽ có định hướng quan sát cũng như lập dàn ý và dựng đoạn văn

- Tiết học về kỹ năng quan sát :

Nếu không có sự quan sát thì học sinh không thể viết được bài văn miêu

tả Ở mỗi kiểu bài miêu tả đều có cách quan sát khác nhau, tiết học này giúp học sinh biết quan sát đối tượng cho từng bài văn miêu tả

- Tiết học luyện tập xây dựng đoạn :

Tiết học này luyện cho học sinh kỹ năng dựng đoạn văn cho từng kiểu bài Trong đó có các tiết học riêng cho việc viết đoạn mở bài, kết bài của bài văn miêu tả Nhờ các tiết học này mà học sinh sẽ không bị lúng túng khi viết

mở bài và kết bài

Trang 26

- Tiết kiểm tra viết :

Qua các tiết học trước học sinh đã luyện tập các kỹ năng để viết bài văn

Ở tiết học này học sinh sẽ làm một bài văn có cấu trúc hoàn chỉnh Các em phải vận dụng các kỹ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn và liên kết các đoạn

để viết một bài văn hoàn chỉnh trong tiết học này, SGK đưa ra một số đề bài gợi ý, giáo viên chọn ra một trong số các đề bài đó để học sinh kiểm tra viết Việc lựa chọn này phải phù hợp với đối tượng học sinh, có như vật học sinh mới có hứng thú khi viết bài và bài văn mới đạt hiệu quả

- Tiết trả bài :

Tiết học này sẽ giúp học sinh nhận thức đúng và biết chữa lỗi trong bài viết của mình và bài viết của bạn khi đã được thầy cô giáo chỉ rõ, nhận thức được cái hay của các bài văn thông qua việc nghe và thảo luận về cái hay của các đoạn, các bài văn được thầy cô giáo khen Qua đó các em sẽ tự chọn trong bài của mình và viết lại theo cách hay hơn

2.2.2.2 Yêu cầu của bài văn miêu tả :

Văn miêu tả được học nhiều nhất với số lượng trong phân môn TLV 4 bởi văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lí tuổi thơ (ưu quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thiên về cảm tính, ) góp phân nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó, quan trọng nhất

là với thiên nhiên góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp, phát triển ngôn ngữ ở trẻ Học văn miêu tả học sinh có thêm điều kiện để tạo nên

sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ

Để bài văn đạt kết quả tốt cần phải đảm bảo :

- Tính chân thực của bài văn miêu tả

Bài miêu tả phải bắt nguồn tự sự quan sát trực tiếp đối tượng kết hợp với kinh nghiệm sống, trí tưởng tượng của học sinh, thể hiện được tình cảm, cảm xúc của các em trước đối tượng miêu tả

Trang 27

- Bài văn mang tính thông bái thẩm mĩ chứa đựng tình cảm của người viết Người viết đánh giá chúng theo quan điểm thẩm mĩ gửi vài bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá của mình.

- Bài văn phải có tính sinh động tạo hình nghĩa là phải làm cho các sự vật, đồ vật, cây cối được miêu tả quan từng câu, từng dòng tưởng như có thể cầm nắm được Làm nên sự sinh động tạo hình của bài văn là những chi tiết gây

ấn tượng Cần chú ý tránh đưa quá nhiều chi tiết rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần gạt bỏ những chi tiết thừa, không có sức gợi cảm để bài văn miêu tả gọn và giàu chất tạo hình

2.2.2.3 Đối tượng, nội dung và ngôn ngữ miêu tả :

- Đối tượng miêu tả :

Đó là những vật gần gũi xung quanh cuộc sống của các em như cái trống, cặp sách, con mèo, cây ăn quả,

- Nội dung miêu tả :

Mỗi vật thường có những cấu tạo riêng, hình dáng riêng, màu sắc riêng, hương vị riêng, Những đặc điểm riêng như vậy cần được chú ý trong văn miêu tả Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là miêu tả đủ các bộ phận, đặc điểm của vật định tả mà chỉ nhằm vào những dấu hiệu đặc trưng nào đó gây ấn tượng cảm xúc đối với người viết như : đối với đồ vật, cần miêu tả những đặc điểm nổi bật về hình dáng, miêu tả về công cụ ích lợi của nó với con người Đối với cây cối thì thuỳ thuộc vào từng đặc điểm của loại cây, cây cho quả cần tập trung miêu tả mùi vị của cây, cây lấy hương cần tả hương, cây lấy bóng mát cần

tả dáng cây, tán lá Đối với con vật cần tả hình dáng bên ngoài lẫn hoạt động tính nết của con vật

Văn miêu tả thường chứa đựng nhân tố cảm xúc và bộc lộ rõ những tình cảm riêng của người viết với vật định tả

- Ngôn ngữ miêu tả :

Phương pháp nhân hoá được sử dụng khá phổ biến trong văn miêu tả Biện pháp này giúp cho bài văn thể hiện rõ hơn tình cảm của người viết Các

Trang 28

đại từ xưng hô : chú, bác, anh, chị, tớ, và hàng loạt các từ chỉ hoạt động chỉ tính chất được nói đến trong văn miêu tả đồ vật và con vật Ngoài ra phép so sánh cũng giúp cho người đọc hình dung đối tượng miêu tả một cách dễ dàng, lời văn sinh động giàu hình ảnh.

2.2.2.4 Các kiểu bài tập trong văn miêu tả :

* bài tập về cách nhận diện thể loại văn miêu tả :

Đặc điểm : Cho một văn bản Yêu cầu học sinh tìm những từ, những đoạn văn có tác dụng miêu tả

VD : Tìm những câu văn miêu tả trong bài “Chú đất nung”

(Bài 1/142-SGK T1).Mục đích : Giúp các em hiểu được thế nào là miêu tả

* Bài tập về cấu tạo của bài văn miêu tả :

Gồm các loại bài :

- Xác định cấu tạo của bài văn miêu tả :

Đặc điểm : Cho một bài văn hoặc một phần của bài văn miêu tả Yêu cầu học sinh khảo sát văn bản bằng cách trả lời các câu hỏi bên dưới

VD : Ở phần thân bài tả cái trống trường, một bạn học sinh đã viết :

“Anh chàng trống này tròn như cái chum, lúc nào cũng trễm trệ ngồi trên một cái giá gỗ kê ở trước phòng bảo vệ Mình anh ta được ghép bằng những mảnh gồ đều chằn chặn, khum nhỏ lại hai đầu Ngang lưng quấn vành đai to bằng con rắn cạp nong, nom rất hùng dũng, hai đầu bịt bằng da trâu thuộc kĩ, căng rất phẳng.

Sáng sáng đi học tới gần trường, nghe thấy tiếng ồm ồm giục giữ “Tùng! Tùng! Tùng!” là chúng tôi giảo bước cho kịp giờ học Vào những lúc tập thể dục anh trống lại “cầm càng” cho chúng tôi theo nhịp “Cắc tùng! cắc tùng!” đều đặn Khi anh ta “xả hơi” một hồi trống dài là lúc chúng tôi xả hơi sau buổi học.”

Em hãy :

a) Tìm câu văn tả bao quát cái trống

Trang 29

b) Nêu tên những bộ phận cái trống được miêu tả.

c) Tìm những từ ngữ tả hình dáng, âm thanh của cái trống

d) Viết thêm phần mở bài, kết bài để tạo thành bài văn hoàn chỉnh

Mục đích : Giúp các em nắm được cấu tạo của một bài văn miêu tả, hiểu được trình tự miêu tả

- Lập dàn ý trong bài văn miêu tả :

Đặc điểm : Đề bài thường yêu cầu học sinh lập dàn ý miêu tả một vật nào

đó theo gợi ý cho sẵn

VD : lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen thuộc theo một trong hai cách sau

+ Tả lần lượt từng bộ phận của cây

+ Tả lần lượt từng thời kỳ phát triển của cây

Hay VD : Lập dàn ý chi tiết tả một con vật nuôi trong nhà (chim, chó, mèo)

Mục đích L Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý cho học sinh để chuẩn bị cho việc viết bài

* Bài tập về quan sát, tìm ý :

Gồm các loại bài :

- Quan sát quan việc khảo sát văn bản :

Đặc điểm : Cho một văn bản Dựa vào những câu hỏi cho bên dưới học sinh tìm hiểu cách quan sát

VD : Đọc lại ba văn bản miêu tả cây cối (sầu riêng, bãi ngô, cây gạo) và nhận xét :

a) Tác giả mỗi bài văn quan sát cây theo trình tự nào?

b) Chỉ ra những hình ảnh so sánh và nhân hoá mà em thích Theo em các hình ảnh so sánh và nhân hoá có tác dụng gì?

c) Trong ba bài văn trên bài nào miêu tả một loại cây, bài nào miêu tả một cây cụ thể?

(Bài /39-SGK T1)

Trang 30

Mục đích : Giúp học sinh biết quan sát theo một trình tự hợp lí bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, ) phát hiện ra những điểm riêng biệt của nó.

- Quan sát thong qua thực tế :

Đặc điểm : Đề bài thường yêu cầu học sinh quan sát những vật gần gũi với cuộc sống của các em

VD : Quan sát và miêu tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó) của nhà em hoặc nhà hàng xóm

(Bài 3/120-SGK T1)Mục đích : Luyện tập cách quan sát, vận dụng những cái đã biết vào để quan sát trong thực tế

* Bài tập luyện tập xây dựng đoạn văn :

Gồm các loại bài :

- Xác định đoạn văn trong một bài văn :

Đặc điểm : Chọn một bài văn Tìm các đoạn văn và nội dung của các đoạn văn đó thông qua việc trả lời những câu hỏi bên dưới

VD : Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi :

Cây bút máy

Hồi lớp hai em thường ao ước có một cây bút máy nhưng bố mẹ em bảo :

“Bao giờ lên lớp bốn hãy dùng con ạ” Rồi ngày khai giảng lớp bốn đến, bố mẹ mua cho em một cây bút máy bằng nhựa Cây bút vẫn còn thơm, nom nhẵn bóng Nắp bút màu hồng có cái cài bằng sắt mạ bóng loáng.

Mở nắp ra em thấy ngòi bút sáng loáng hình lá tre, nhìn không rõ Mỗi khi lấy mực một nửa ngòi bút đẫm màu mực tím Em viết lên trang giấy, nét bút trơn tạo những dòng chữ đều đặn, mềm mại Khi viết xong em lấy giẻ lau nhẹ cho mực khỏi két vào Rồi em tra nắp cho ngòi khỏi bị toè trước khi cất vào cặp.

Đã mấy tháng rồi mà cây bút vẫn còn mới Bút cùng em làm việc chăm chỉ ngày ngày như chiếc cày của các nông dân cày trên đồng ruộng.

a) Bài văn gồm mấy đoạn

Trang 31

b) Tìm đoạn văn tả hình dáng bên ngoài của cây bút.

c) Tìm đoạn văn tả cái ngòi bút

d) Hãy tìm câu mở đoạn và câu kết đoạn của đoạn văn thứ ba Theo em đoạn văn này nói về cái gì?

(Bài tập /145-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh hiểu được cấu tạo cơ bản của đoạn văn trong văn miêu tả, hình thức thể hiện giúp nhận biết mỗi đoạn văn

- Sắp xếp các câu văn thành đoạn văn :

Đặc điểm : Cho các câu văn bị xáo trộn trật tự Yêu cầu học sinh sắp xếp sao cho hợp lôgic

VD : Sắp xếp các câu sau thành một đoạn văn

a) Đôi mắt nâu trầm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc

b) Con chim gáy hiền lành béo lục

c) Chàng chim gáy nào giọng càng trong càng dài thì quanh cổ càng được đèo nhiều vòng cườm đẹp

(Bài 2/130-SGK T1)Mục đích : Giúp các em hiểu biết trình tự của một đoạn văn trong bài văn miêu tả

- Viết đoạn văn dựa vào gợi ý :

Đặc điểm : Đề bài cho sẵn các gợi ý Học sinh dựa vào đó viết thành đoạn văn

VD : Hãy viết một đoạn văn tả đặc điểm bên trong chiếc cặp của em theo gợi ý dưới đây : Chiếc cặp có mấy ngăn? Vách ngăn được làm bằng gì? Trông như thế nào? Em đựng gì ở mỗi ngăn?

(Bài 3/173-SGK T1)Mục đích : Giúp học sinh làm quen với viết đoạn văn

- Viết đoạn văn theo yêu cầu :

Đặc điểm : Đề bài yêu cầu viết đoạn văn theo nội dung đã cho

Trang 32

VD : Quan sát ngoại hình của một con vật mà em yêu thích và viết một đoạn văn miêu tả ngoại hình của con vật đó.

(Bài 2/140-SGK T1)Mục đích : Rèn luyện cách viết một đoạn văn đầy đủ ba phần mở đầu, diễn biến, kết thúc

* Bài tập luyện tập miêu tả các bộ phận :

Gồm các loại bài :

- Xác định đặc điểm của từng bộ phận vật cần miêu tả :

Đặc điểm : Cho một loạt những từ ngữ miêu tả Yêu cầu học sinh quan sát đối tượng miêu tả và tìm những từ thích hợp với đối tượng đó

VD : Quan sát các bộ phận của một con vật mà em yêu thích và tìm những từ ngữ miêu tả những đặc điểm của các bộ phận đó

Về màu sắc con mèo : Đen thì đen như than, mắt vàng như lửa đèn Trắng thì trắng như tuyết, mắt xanh như da trời Đỏ thì đỏ như ngọn lửa Trắng với những đốm đỏ Đỏ với những đốm trắng Xám như khói Xám với lông vằn như hổ Những đốm xám như báo Xám với những màu vằn như mai rùa Màu vàng cam, Màu vàng đào Màu kem sữa Màu xanh nhạt như sương mù buổi sớm

Về lông mèo : Sao lại có những con có nhiều lông đến thế, tưởng như đây không phải là con mèo mà là những quả cầu bằng lông với những con mắt màu vàng Lông ở một số con mèo giống như lông cáo Ở những con khác lại dài và mỏng, loại thứ ba như lưỡi mác

(Bài 3/128-SGK T1)Mục đích : Nhằm làm cho học sinh có cách nhìn chính xác khi quan sát vật để miêu tả một cách chận thực, phù hợp với đặc điểm của vật đó

- Nêu ý kiến của mình về cách miêu tả :

Đặc điểm : Cho một số đoạn văn miêu tả các bộ phận khác nhau Học sinh phải nêu nhận xét của mình về cách miêu tả đó

Trang 33

VD : Bài tập 1/50-SGK T2 gồm 4 đoạn văn miêu tả các bộ phận : hoa sầu đâu, hoa mai vàng, quả cà chua, trái vải.

Yêu cầu học sinh nêu nhận xét của mình về cách miêu tả của tác giả.Mục đích : Giúp học sinh biết nhìn nhận đánh giá cái hay, cái đẹp trong cách miêu tả của người khác bằng ý kiến chủ quan của mình

- Viết một đoạn văn miêu tả một bộ phận nào đó :

Đặc điểm : Đây là những yêu cầu đơn giản viết đoạn văn về một bộ phận của vật cần miêu tả

VD : Hãy viết một đoạn văn tả một loài hoa hoặc một thứ quả mà em yêu thích

(bài 2/51-SGK T2)Mục đích : Rèn luyện cách viết đoạn văn trong đó nội dung cả đoạn chỉ miêu tả một bộ phận của nhân vật

* Bài tập luyện cách viết mở bài, kết bài trong văn miêu tả :

Gồm các loại bài tương tự như trong văn kể chuyện :

- Nhận diện các cách mở bài, kết bài :

Đặc điểm : Cho một số mở bài (kết bài) của cùng một đề văn Yêu cầu học sinh xác định xem những mở bài (kết bài) đó được viết theo cách nào?

VD : Dưới đây là một số đoạn mở bài cho bài văn miêu tả cái cặp sách Các đoạn ấy có gì giống nhau :

a) Vài ngày khai trường, bố em mua cho em một chiếc cặp sách rất đẹp.b) Ai là học sinh mà chẳng có cặp sách Thế mà suốt mấy năm nay em chỉ có một chiếc túi vải đơn sơ mang đến trường

c) Chủ nhật vừa qua mưa nặng hạt, em không đi thăm bà ngoại được, ba bảo em giúp bà sắp xếp lại chiếc tủ ở trong buồng Giữa đống đồ đạc cũ ba dỡ

từ trên nóc tủ xuống, chợt em gặp lại chiếc cặp nhỏ đã theo em suốt hai năm lớp một và lớp hai

(Bài 1/10-SGK T2)

Trang 34

Mục đích : Giúp các em nhận biết các cách mở bài và kết bài trong văn miêu tả.

- Xác định mở bài, kết bài trong văn miêu tả :

Đặc điểm : Cho một bài văn miêu tả hoàn chỉnh Yêu cầu học sinh xác định mở bài và kết bài trong bài văn đó và cho biết chúng thuộc cách nào?

VD : Bài tập 1/141-SGK T2 có bài “Chim công múa” Học sinh đọc và trả lời các câu hỏi sau :

a) Tìm đoạn mở bài, kết bài

b) Các đoạn trên có giống cách mở bài, kết bài nào đã học?

c) Em có thể chọn những câu nào trong bài văn để :

+ Mở bài theo cách trực tiếp

+ Kết bài theo cách không mở rộng

Mục đích : Làm cho học sinh nhận biết được mở bài, kết bài trong một bài văn miêu tả

- Viết mở bài, kết bài theo gợi ý có sẵn :

Đặc điểm : Đề bài chỉ yêu cầu viết theo gợi ý :

VD 1 : Dựa vào gợi ý dưới đây hãy viết đoạn mở bài (theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp) cho bài văn tả cây mai, cây phượng, cây dừa

a) Cây phượng vĩ trồng giữa sân nhà em

b) Trước sân nhà em bố em trồng một cây mai

c) Đầu xóm có một cây dừa

(Bài 2/75-SGK T2)VD2 : Viết đoạn kết bài cho bài văn miêu tả con vật em vừa làm ở tiết trước theo cách kết bài mở rộng

(Bài 3/142-SGK T2)Mục đích : Rèn luyện cách viết mở bài và kết bài theo những cách đã được học

- Phân biệt đoạn văn là mở bài (kết bài) với những đoạn văn khác :

Ngày đăng: 29/07/2013, 01:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Sách giáo khoa Tiếng Việt Tập 1 (NXB giáo dục 2005) 2- Sách giáo khoa Tiếng Việt tập 2 (NXB giáo dục 2005) 3- Sách giáo viên Tiếng Việt tập 1 (NXB giáo dục 2005) 4- Sách giáo viên Tiếng Việt tập 2 (NXB giáo dục 2005) Khác
5- Tài liệu tập huấn cốt cán cấp tỉnh dạy chương trình SGK lớp 4 (NXB giáo dục 2005) Khác
6- Tài liệu bồi dưỡng giảng viên sư phạm và cán bộ chỉ đạo Sở giáo dục đào tạo về chương trình và SGK Tiểu học 2000 của các tác giả Nguyễn Trí; Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hoà Bình, Nguyễn Thị Hạnh (xuất bản năm 2001) Khác
7- Dạy văn cho học sinh Tiểu học (Ts Hoàng Hoà Bình - xuất bản năm 2001) 8- Dạy TLV ở trường Tiểu học (Ts Nguyễn Trí - xuất bản năm 2000) Khác
9- Dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học (Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ đại học của các tác giả Nguyễn Trí, Phan Phương Dung) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Số tiết trong bảng được thực hiện trong 31 tuần khụng kể 4 tuần (tuần 9, tuần 18, tuần 27, tuần 35) là thời gian dành cho ụn tập giữa học kỳ và cuối học  kỳ. - Khóa luận tốt nghiệp ĐHTH
ti ết trong bảng được thực hiện trong 31 tuần khụng kể 4 tuần (tuần 9, tuần 18, tuần 27, tuần 35) là thời gian dành cho ụn tập giữa học kỳ và cuối học kỳ (Trang 11)
3.2. So sỏnh chương trỡnh TL V4 cũ và chương trỡnh TL V4 mới: - Khóa luận tốt nghiệp ĐHTH
3.2. So sỏnh chương trỡnh TL V4 cũ và chương trỡnh TL V4 mới: (Trang 58)
số tiết trong bảng khụng giành cho ụn tập, kiểm tra cuối học kỳ. - Khóa luận tốt nghiệp ĐHTH
s ố tiết trong bảng khụng giành cho ụn tập, kiểm tra cuối học kỳ (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w