1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BỘ MÁY AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ CỦA TRUNG QUỐC THỜI ĐƯỜNG (679 – 905)

132 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với các triều đại đô hộ trước, nhà Đường đã thiết lập ở Giao Châu một bộ máy cai trị đặc biệt, được gọi là An Nam đô hộ phủ.. Các công trình có đề cập đến An Nam đô hộ phủ, chẳng hạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CỦA SINH VIÊN LƯ VĨ AN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Học tập là cả một quá trình phấn đấu không ngừng với nỗ lực, đam mê để vượt qua các thử thách đạt đến thành công Chặng đường bốn năm đại học đã kết thúc, để đạt được kết quả như ngày hôm nay và thể hiện qua khoá luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy, cô và bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ em suốt thời gian qua

Em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý Thầy, Cô khoa Lịch sử, Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng cho em nhiều kiến thức và bài học kinh nghiệm quý báu

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô trong bộ môn Lịch sử Thế giới Quý Thầy, Cô đã trực tiếp giảng dạy, dìu dắt em trong thời gian qua

Hơn hết, để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và đặc biệt nhất đến TS Đỗ Thị Hạnh Cô đã luôn quan tâm, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ

em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em cũng xin cảm ơn Cô, ThS Triệu Thị Nhân Hậu đã giúp đỡ em trong việc dịch và

khảo đính tài liệu “Nghiên cứu chế độ đô hộ” (tiếng Hoa) của tác giả Lý Đại Long

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2014,

Sinh viên Lư Vĩ An

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

DẪN LUẬN - 01

1 Lý do chọn đề tài - 01

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu - 02

3 Nguồn tài liệu sử dụng - 05

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - 05

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 06

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài - 06

7 Cấu trúc của đề tài - 07

NỘI DUNG - 08

Chương 1 Bối cảnh và điều kiện thiết lập bộ máy An Nam đô hộ phủ thời Đường (679 – 905) - 08

1.1 Những vấn đề cơ bản về chế độ đô hộ phủ trong lịch sử Trung Quốc - 08

1.1.1 Khái niệm “đô hộ phủ” - 08

1.1.2 Khái quát về các bộ máy đô hộ trong lịch sử Trung Quốc - 10

1.1.3 Những ghi chép của sử sách Trung Quốc về chế độ đô hộ - 14

1.2 Trung Quốc thời nhà Đường (618 – 907) và việc thiết lập bộ máy đô hộ phủ ở An Nam - 17

1.2.1 Đặc điểm của chế độ phong kiến thời Đường - 17

1.2.2 Vị thế, vai trò của vùng đất An Nam thuộc Đường - 20

1.2.3 Nhu cầu và điều kiện thiết lập An Nam đô hộ phủ thời Đường - 26

Chương 2 Sự hình thành và phát triển của bộ máy An Nam đô hộ phủ thời Đường (679 – 905) - 38

2.1 Các giai đoạn lịch sử của An Nam đô hộ phủ - 38

2.1.1 Giai đoạn 679 – 757 - 39

2.1.2 Giai đoạn 757 – 866 - 41

2.1.3 Giai đoạn 866 – 905 - 47

2.2 Tổ chức và cơ chế hoạt động của An Nam đô hộ phủ - 50

2.2.1 Tổ chức đơn vị hành chính - 50

2.2.2 Quan chế của An Nam đô hộ phủ - 56

2.2.3 Công cụ thống trị và phương thức bóc lột - 60

Trang 6

Chương 3 Đặc điểm, bản chất và vai trò, tác động lịch sử của An Nam đô hộ phủ

thời Đường (679 – 905) - 65

3.1 Đặc điểm, bản chất của bộ máy An Nam đô hộ phủ - 65

3.1.1 Đặc điểm - 65

3.1.2 Bản chất - 72

3.2 Vai trò, tác động lịch sử của bộ máy An Nam đô hộ phủ - 81

3.2.1 Kinh tế - 81

3.2.1 Chính trị - an ninh - 85

3.2.3 Xã hội - 87

3.2.4 Văn hoá - tư tưởng - 92

KẾT LUẬN - 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 99 PHỤ LỤC

Sơ đồ: Niên biểu lịch sử của An Nam đô hộ phủ (679 – 905)

Bảng: Danh sách các quan đô hộ ở An Nam thời thuộc Đường

Biểu: Biên chế chức quan của phủ đô hộ thời Đường trong Cựu Đường thư

và Tân Đường thư

Hình ảnh

Trang 7

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam và lịch sử các nước trong khu vực bao giờ cũng có sự liên đới, chịu ảnh hưởng lẫn nhau Trong lịch sử, đã có một quãng thời gian kéo dài hơn 1000 năm, Việt Nam bị lệ thuộc và sáp nhập trở thành một bộ phận lãnh thổ Trung Quốc Đó là thời Bắc thuộc (179 trCN - 905 CN) Biên giới Trung Quốc thời kì này kéo dài đến tận miền bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc của người Việt bị biến trở thành một quận nằm ở biên giới phía nam của các triều đại phong kiến Trung Quốc, với tên gọi Giao Chỉ, rồi Giao Châu Tuy nhiên, người Việt đã có một quá trình đấu tranh không khoan nhượng để chống Bắc thuộc và giành lại chủ quyền của mình Trước khi giành lại độc lập hoàn toàn vào thế kỉ X, Giao Chỉ đã hai lần giành được quyền tự chủ tạm thời (giai đoạn 40 – 43 và 544 – 602), nhưng rồi vẫn bị thất bại, phải trải qua hai lần Bắc thuộc kéo dài

Vào đầu thế kỉ VII, Giao Châu bước vào thời kì Bắc thuộc lần thứ III (602 – 905) với

sự thống trị của hai triều Tuỳ, Đường Trong đó, từ năm 622 đến 905 là thời kì đô hộ của nhà Đường Khác với các triều đại đô hộ trước, nhà Đường đã thiết lập ở Giao Châu một

bộ máy cai trị đặc biệt, được gọi là An Nam đô hộ phủ Đó là một bộ máy quân chính được thiết lập dùng để “phủ dụ, vỗ về” nhưng thực chất là để trấn áp và bóc lột vùng đất

An Nam Đáng lưu ý, An Nam đô hộ phủ là một trong số 6 phủ đô hộ quan trọng nhất thời Đường Cùng với các phủ đô hộ khác, An Nam đô hộ phủ đã tạo thành một hệ thống phủ đô hộ giữ vai trò trọng yếu đối với biên giới của nhà Đường

Hầu hết các học giả Trung Quốc đều tiếp cận, nghiên cứu vấn đề này ở góc độ lịch sử biên giới Nhưng hơn hết, An Nam đô hộ phủ còn là một đặc thù của lịch sử Việt Nam thời thuộc Đường, với vai trò, ảnh hưởng đáng kể đến tiến trình lịch sử của dân tộc Song, vấn đề An Nam đô hộ phủ vẫn chưa được các học giả trong nước quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống Ngay cả ở Trung Quốc, việc nghiên cứu lý luận về chế độ

đô hộ phủ thì rất nhiều nhưng đi sâu vào nghiên cứu An Nam đô hộ phủ thì cũng chưa đáng kể So với các phủ đô hộ khác của nhà Đường thì An Nam đô hộ phủ là vấn đề ít được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất1 Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, gồm

cả khách quan và chủ quan, mà phần lớn là do sự thiếu hụt tài liệu

1

李大龙 (2003),《都护制度研究》, 黑龙江教育出版社, 页 279。

Trang 8

Với mong muốn được tiếp cận nghiên cứu các vấn đề lịch sử thế giới cổ - trung đại, nhất là lịch sử các quốc gia ở phương Đông có nhiều sự gắn bó và liên hệ với Việt Nam,

người viết quyết định chọn vấn đề “Bộ máy An Nam đô hộ phủ của Trung Quốc thời

Đường (679 – 905)” để làm công trình khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Ở trong nước

Nhìn chung, việc nghiên cứu về chế độ đô hộ phủ thời Đường còn rất tản mát và chưa

có hệ thống Cho đến nay, hầu như chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu về chế độ

đô hộ phủ thời nhà Đường, cũng như đi sâu tìm hiểu từng bộ máy đô hộ phủ cụ thể Những công trình, ấn phẩm có liên quan đều chỉ nhắc đến tên gọi từng đô hộ phủ mà chưa đi vào trình bày chi tiết Còn An Nam đô hộ phủ thì cũng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, phần lớn đều chỉ đề cập đến An Nam đô hộ phủ với tư cách bối cảnh, điều kiện bùng phát các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc Các công trình có đề cập đến

An Nam đô hộ phủ, chẳng hạn:

Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, xuất bản năm 1960 do Trần Quốc Vượng,

Hà Văn Tấn biên soạn, trong đó chương thứ 7 “Thời kì thống trị của Tuỳ - Đường (602 - 905) những điều kiện tiền đề cho sự thành lập nhà nước phong kiến độc lập” có đề cập đến An Nam đô hộ phủ dưới góc độ là một hiện tượng lịch sử gắn với thời thuộc Đường Tuy nhiên, công trình không đi sâu phân tích một cách có hệ thống toàn bộ tổ chức và hoạt động của An Nam đô hộ phủ

Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1964, sau được tái bản nhiều lần Tác phẩm cũng được dịch sang tiếng Hoa với nhan đề Việt Nam lịch đại cương vực, do Thương vụ ấn thư quán phát hành năm 19731) là một công trình địa lý học lịch sử nổi tiếng Trong phần cương vực thời Đường, tác giả đã trình bày khá tường tận về địa giới hành chính của An Nam đô hộ phủ

Một số công trình khác khi viết về thời Bắc thuộc cũng đề cập hoặc nhắc tới An Nam

đô hộ phủ như: Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 2 (Viện Lịch sử quân sự chủ trì, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản, 2001), Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến thế kỉ X (do Viện

Sử học chủ trì, Đỗ Văn Ninh chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản, 2001), Lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử đến thế kỉ X (đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Sử học năm 2008)

1

陶维英 (1973),《越南历代疆域》.钟民岩 译; 岳胜 校.北京:商务印书馆。

Trang 9

Gần đây, việc nghiên cứu về chế độ đô hộ thời Đường và An Nam đô hộ phủ bắt đầu được chú ý trong các cuộc hội thảo về Việt Nam học Tiêu biểu có các bài viết của ThS Phạm Lê Huy (Khoa Đông phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội): “Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường”; “Diện mạo và vị trí địa lý của An Nam đô hộ phủ thời thuộc Đường”; “Hệ thống giao thông thời Đường qua các tư liệu văn học - trường hợp An Nam đô hộ phủ”; “On some Jimi provinces from Tang dynasty to the Ly dynasty during the 8 th – 11 th century” (Về một số châu ki mi từ

thời Đường qua thời Lý trong giai đoạn thế kỉ VIII – XI)

Ngoài ra, còn có bài “Bối cảnh và nguyên nhân nổ ra cuộc khởi nghĩa Hoan châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo năm 713” của TS Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học Việt Nam)

- Ở nước ngoài

Trước đây, một số học giả người Pháp nổi tiếng như Henri Maspero, Paul Pelliot

trong các công trình đăng trên Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient tạp chí của

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp cũng có ít nhiều nghiên cứu về An Nam đô hộ phủ, song

cũng chỉ tập trung vào vấn đề địa giới hành chính Có thể kể đến các bài “Le Protectorat général a’Annam sous les T’ang” (An Nam đô hộ phủ thời Đường), BEFEO, Tome 10

và “La frontière de l’Annam et du Cambodge du VIIIe au XIVe siècle” (Biên giới giữa

An Nam và Chân Lạp từ thế kỉ VIII đến XIV), BEFEO, Tome 18 của Henri Maspero Các học giả Trung Quốc nghiên cứu tương đối có hệ thống về đô hộ phủ thời Đường Tiêu biểu có công trình《都护制度研究》(Nghiên cứu chế độ đô hộ) do Lý Đại Long1

chủ biên (Nxb Giáo dục Hắc Long giang phát hành, 2003), nằm trong tùng thư về sử địa biên cương của Trung tâm nghiên cứu Sử Địa biên cương, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Đây là một công trình tổng hợp những lý luận nghiên cứu về chế độ đô hộ trong lịch sử Trung Quốc qua các thời kì, cũng như đi vào trình bày cụ thể từng bộ máy

đô hộ phủ An Nam đô hộ phủ tuy chỉ chiếm 18 trang (từ trang 279 đến trang 296), trên tổng số 361 trang nhưng cũng đã trình bày được những vấn đề cơ bản mà các công trình trước đó không hề có được

1

Lý Đại Long (sinh 1964) là cán bộ của Trung tâm nghiên cứu Sử Địa biên cương thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Từ tháng 7 năm 1986 làm việc tại Sở Dân tộc học, đến tháng 8 năm 2000 thì chuyển về công tác tại Trung tâm nghiên cứu Sử Địa biên cương Ông là tác giả của nhiều chuyên khảo về lịch sử biên giới Trung Quốc, cũng như giảng dạy các chuyên đề về lý luận hình thành cương vực Trung Quốc thời cổ đại

Trang 10

《唐刺史考》(Đường thứ sử khảo) của học giả Uất Hiền Hạo1

là một công trình rất công phu Bộ 5 tập được Giang Tô cổ tịch xuất bản xã ấn hành lần đầu năm 1987, sau đó được Trung Hoa thư cục, Hương Cảng phân cục với Giang Tô cổ tịch xuất bản xã tái bản cùng năm Đến năm 2000 được bổ sung thành bộ 6 tập, gọi là《唐刺史考全编》(Đường thứ sử khảo toàn biên), do Đại học An Huy phát hành Công trình đã khảo sát chi tiết về tất cả Thứ sử trấn nhậm ở các châu của Trung Quốc thời Đường, trong đó có Giao châu tức An Nam đô hộ phủ (quyển 310, từ trang 3338 đến trang 3355)

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành ở Trung Quốc cũng đăng tải một số bài viết

về An Nam đô hộ phủ, tiêu biểu như cụm bài của học giả Trần Quốc Bảo (khoa Lịch sử, Đại học Trung Sơn, Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc):『安南都护府与唐代边疆 防御体系的构建及影响』(Việc xây dựng và ảnh hưởng của An Nam đô hộ phủ đối với

hệ thống phòng ngự biên cương thời Đường) đăng trên《中国边疆史地研究》(Tạp chí Nghiên cứu Sử Địa biên cương), quyển 30, kỳ số 3 năm 2010;『论南诏人犯安南对唐代国家安全的影响』(Bàn về ảnh hưởng việc Nam Chiếu xâm lược An Nam đối với an ninh quốc gia thời Đường) đăng ở《云南民族大学学报:哲学社会科学版》(Học báo Đại học Dân tộc Vân Nam, bản Triết học, Khoa học Xã hội), quyển 28, kỳ số 1 năm 2011;『安南都护府与唐代南疆羁縻州管理研究』(Nghiên cứu việc quản lý châu ki mi của An Nam

đô hộ phủ và biên cương phía nam nhà Đường) đăng ở《广西师范大学学报:哲学社会科学版》(Học báo Đại học Sư phạm Quảng Tây, bản Triết học Khoa học Xã hội), quyển 49,

kỳ số 4 năm 2013

Bên cạnh đó là bài viết『论唐代安南都护府及其属州建制的演变』(Diễn biến việc quản lý châu ki mi của An Nam đô hộ phủ thời Đường) của học giả Tống Kiến Oánh đăng trên《西安文理学院学报:社会科学版》(Học báo Học viện Văn lý Tây An, bản Khoa học Xã hội), quyển 13, kỳ số 2 năm 2010

Một học giả Đài Loan là Chu Đạt Quân (khoa Lịch sử, Đại học Đài Nam) có bài viết về『唐代對安南之治理』(Phương pháp cai trị của thời Đường đối với An Nam) đăng ở

《2006 竹園學術論文専輯社會科學》(Tập chuyên luận khoa học Trúc Viên, Khoa học

Trang 11

Trên đây là những nét khái quát chính về một số công trình trong nước và nước ngoài

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đây là những công trình tiêu biểu và nổi bật nhất về

An Nam đô hộ phủ Bên cạnh đó, vẫn còn một số công trình khác mà người viết chưa có điều kiện để thu thập và tiếp cận đầy đủ

3 Nguồn tài liệu sử dụng

Nguồn tài liệu được sử dụng trong khoá luận có thể tạm phân loại thành 3 nhóm: (1) thư tịch cổ; (2) sách, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước; (3) sách, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành ở nước ngoài (tiếng Hoa) Trong đó:

+ Tài liệu nhóm (1) gồm có An Nam chí lược của Lê Tắc; Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cùng Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn Ngoài ra còn

có bản trích dịch An Nam chí (An Nam chí tổng yếu) của Cao Hùng Trưng

+ Tài liệu nhóm (2) gồm có Đất nước Việt Nam qua các đời (Đào Duy Anh); Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: tập 1 (Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn); “Về một số thủ lĩnh

An Nam thời thuộc Đường”, “Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819 - 820)” (Phạm

Lê Huy); “Đặc điểm hệ thống hành chính thời Bắc thuộc” (Phạm Đăng Hiến)

+ Tài liệu nhóm (3) gồm Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc (Tề Cát Tường, Trần Long Đào, Chu Phát Tăng đồng chủ biên, Nguyễn Văn Dương dịch); Trung Quốc văn hoá sử tam bách đề (Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt và Đào Phương Chi dịch); Trung Việt văn hoá luận tập (Quách Đình Di chủ biên, Mai Chưởng Đức dịch)

Các tài liệu nguyên văn tiếng Hoa gồm Nghiên cứu chế độ đô hộ phủ (Lý Đại Long chủ biên); Tuyển biên tư liệu sử về quan hệ Trung Việt cổ đại (Sở Nghiên cứu Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc); Đường thứ sử khảo toàn biên (Uất Hiền Hạo), các

bài viết của Trần Quốc Bảo (Đại học Trung Sơn) và Chu Đạt Quân (Đài Loan)

Ngoài ra, đề tài còn tra cứu nguồn dữ liệu toàn văn trực tuyến Cựu Đường thư và Tân Đường thư các mục Địa lý chí, Bách quan chí có liên quan đến An Nam đô hộ phủ được

đăng tải trên website: http://www.guoxue.com (mạng Quốc học) của Trung Quốc

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài vận dụng phương pháp luận của sử học marxist làm cơ sở định hướng cho quá trình nghiên cứu vấn đề

Trang 12

- Hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng kết hợp chặt chẽ để tìm hiểu An Nam đô hộ phủ Trong đó:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu và trình bày những sự kiện, diễn biến quan trọng gắn chặt với lịch sử của An Nam đô hộ phủ

Phương pháp logic được sử dụng để phân tích những yếu tố, điều kiện cần và đủ để thiết lập, cũng như đặc điểm, bản chất và vai trò, tác động lịch sử của An Nam đô hộ phủ Ngoài ra, đề tài còn vận dụng kết hợp ở mức độ tương đối phương pháp nghiên cứu của chính trị học và các thao tác bổ trợ như so sánh, thống kê, lập sơ đồ, bảng biểu

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu bộ máy An Nam đô hộ phủ được nhà Đường (Trung Quốc) lập ra để thống trị Việt Nam trong thời gian từ năm 679 đến năm

905

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về thời gian, được giới hạn trong khoảng từ đầu thế kỉ VII đến nửa đầu thế kỉ X,

trong đó tập trung vào thời gian tồn tại phủ đô hộ An Nam từ năm 679 đến năm 905

Về không gian, tập trung trong bối cảnh Việt Nam thời Bắc thuộc, cụ thể là thời thuộc

Đường Đó là không gian “động” có sự liên đới giữa hai quốc gia Việt Nam, Trung Quốc

Về nội dung, đề tài tập trung phân tích bối cảnh, điều kiện thiết lập, diễn biến lịch sử,

đặc điểm, bản chất, cùng vai trò và tác động lịch sử của An Nam đô hộ phủ, bước đầu có

so sánh với các phủ đô hộ khác của nhà Đường

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: trên cơ sở trình bày một cách khái quát các giai đoạn lịch sử của

An Nam đô hộ phủ, đề tài sẽ làm rõ tổ chức và cơ chế hoạt động, cũng như phân tích các đặc điểm, bản chất của bộ máy An Nam đô hộ phủ thời thuộc Đường, vốn là vấn đề còn thiếu hụt về tài liệu và chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ nhưng lại là vấn đề cần lưu ý khi tiếp cận nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc ở thế kỉ VII đến thế kỉ X

- Ý nghĩa thực tiễn: nâng cao nhận thức và mở rộng hướng nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lịch sử phương Đông thời cổ - trung đại, làm rõ một số vấn đề liên quan đến địa danh, dân tộc và chủ quyền biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc trong lịch sử, cũng như góp thêm tư liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu các vấn đề về lịch sử Trung Quốc và Việt Nam thời cổ - trung đại

Trang 13

7 Cấu trúc của đề tài

Phần chính văn của đề tài được cấu trúc thành 3 chương, ngoài ra còn có các phần dẫn luận, kết luận và phụ lục Cấu trúc chi tiết của 3 chương như sau:

Chương 1 Bối cảnh và điều kiện thiết lập bộ máy An Nam đô hộ phủ thời Đường (679 - 905) trình bày các vấn đề cơ bản về chế độ đô hộ phủ trong lịch sử Trung Quốc,

đặc điểm của chế độ phong kiến thời Đường và nhu cầu thiết lập An Nam đô hộ phủ của nhà Đường, cùng điều kiện của nhà Đường và vùng đất An Nam để thiết lập bộ máy

Chương 2 Sự hình thành và phát triển của bộ máy An Nam đô hộ phủ thời Đường (679 – 905) trình bày các giai đoạn lịch sử, tổ chức và cơ chế hoạt động (về tổ chức các

đơn vị hành chính, đội ngũ quan chức, phương thức tuyển nhậm và chế độ bổng lộc, các công cụ thống trị và phương thức bóc lột) của An Nam đô hộ phủ

Chương 3 Đặc điểm, bản chất và vai trò, tác động lịch sử của An Nam đô hộ phủ thời Đường (679 – 905) trình bày các đặc điểm, bản chất cơ bản của bộ máy, có so sánh

bước đầu với các đô hộ phủ khác của nhà Đường Từ đó, phân tích các vai trò, tác động lịch sử của An Nam đô hộ phủ đối với nhà Đường và vùng đất An Nam

Trang 14

Chương 1 BỐI CẢNH VÀ ĐIỀU KIỆN THIẾT LẬP BỘ MÁY AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ

THỜI ĐƯỜNG (679 – 905) 1.1 Những vấn đề cơ bản về chế độ đô hộ phủ trong lịch sử Trung Quốc

1.1.1 Khái niệm “đô hộ phủ”

“Đô hộ” là một từ được sử dụng khá quen thuộc trong sử học, thường được hiểu gắn với sự áp bức, bóc lột Tuy nhiên trong cổ sử, “đô hộ” không chỉ mang ý nghĩa như trên

mà còn có những ý nghĩa khác, phức tạp hơn, gắn liền với khái niệm “đô hộ phủ”

Theo Hán – Việt từ điển giản yếu, quyển thượng của Đào Duy Anh do Hãn Mạn Tử

(Phan Bội Châu) hiệu đính thì “đô” (都) là một khu vực lớn hơn ấp, là chỗ chính phủ trung ương ở Sách này cũng giải nghĩa “đô hộ” (都护) là chức trưởng quan thống trị các

thuộc quốc của nước Tàu về đời nhà Hán, nhà Đường Hán – Việt từ điển giản yếu,

quyển hạ thì giải thích “phủ” (府) là chỗ chứa sách vở, tiền của, nha môn, nhà to, là một khu vực trong tỉnh, lớn hơn huyện1

Theo phần mềm Hanosoft 3.0 (phiên bản 2010) được phát triển bởi Tống Phước Khải dựa trên cơ sở dữ liệu Hán – Việt của từ điển Thiều Chửu và từ điển Trần Văn Chánh thì

“đô” (都) [dōu] có nghĩa là thâu tóm, đại đô大都: đại khái tất cả, đô thị 都是: đều là Còn

“hộ” (护) [hù] là giữ gìn, giúp đỡ như hộ vệ 护卫, bảo hộ 保护, che chở như đản hộ 袒护

“Phủ” (府) [fǔ] là nơi làm việc của quan lại thời xưa: 官府 quan phủ, 政府 chính phủ Phủ còn là khu vực hành chánh thời xưa: 承天府 phủ Thừa Thiên2

Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này đều giải thích khái niệm “đô hộ” và “đô hộ phủ” giống nhau

Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông do Phan Ngọc Liên chủ biên cho biết “đô hộ” là

(chế độ) cai trị của một nước đối với một nước khác bị xâm chiếm, như chế độ đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam; đồng thời cũng là (chức quan) của nhà Hán, nhà Đường (Trung Quốc) đặt ở các nước bị lệ thuộc Còn “đô hộ phủ” là hệ thống cai trị các vùng biên giới của vương triều Trung Quốc Các đô hộ phủ lo việc biên phòng, hành chính và các tộc người3 Ở mục từ có liên quan tới An Nam, từ điển cũng giải thích “đô hộ phủ” là

tổ chức bộ máy cai trị bằng bạo lực quân sự đối với các nước bị đô hộ

Trang 15

Từ điển chức quan Việt Nam của Đỗ Văn Ninh thì giải thích đô hộ theo nghĩa là một

chức quan Theo đó, đô hộ là chức quan quản lý Thượng đô hộ phủ (phân biệt rõ với Đại

đô hộ là chức quan quản lý Đại đô hộ phủ) được lập thời Đường Còn đô hộ phủ được

giải thích là “đầu đời Đường đặt đô hộ phủ ở những khu vực biên cương, làm cơ cấu quản lý các dân tộc ít người”1

Một tài liệu khác là Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc do Chu Phát Tăng,

Trần Long Đào, Tề Cát Tường chủ biên thì cho biết “đô hộ phủ” (phủ đô hộ) là tổ chức hành chính quân sự do nhà Đường lập ở vùng đất của các dân tộc thiểu số biên cương2

Đô hộ ngụ ý là giám sát toàn bộ và phủ đô hộ được xếp vào bộ máy quản lý quân sự Ngoài ra, trong phần khu vực hành chính Tuỳ, Đường, tài liệu chỉ ra rằng phủ thời kì này với châu hoặc quận đều cùng một cấp, tuy nhiên có thể thay đổi tên gọi là để đề cao vị trí của phủ Theo đó, phủ ở đế đô hay hành đô gọi là phủ kinh đô, phủ ở khu vực đóng giữ quan trọng trong nước gọi là phủ đô đốc, còn phủ ở vùng biên cương thì gọi là phủ đô hộ Những vùng mới giành được nhờ chinh phục cũng xây dựng phủ đô hộ

Công trình Nghiên cứu chế độ đô hộ do Lý Đại Long chủ biên xem xét từ “hộ” (护) ở

hai khía cạnh Nếu theo nghĩa từ hiện đại thì hiểu là “bảo hộ”, còn nếu theo nghĩa từ cổ,

như ghi chép của Hán thư, quyển 70, truyện Trịnh Cát thì “hộ” là “thống hạt” (统辖), tức

cai quản, thống lĩnh tất cả mọi việc3

Như vậy, có thể thấy “đô hộ” hay “đô hộ phủ” là một khái niệm cần được giải nghĩa

rõ theo từng góc độ, điều kiện cụ thể: theo quan chế (chức quan) thì đô hộ được hiểu là quan đô hộ đứng đầu đô hộ phủ, ngoài ra nó còn được hiểu là một chế độ, bộ máy cai trị với các chức năng nhất định và theo tổ chức đơn vị hành chính, nhấn mạnh yếu tố “phủ”

Có thể khái quát khái niệm “đô hộ” theo ba nghĩa chính:

- Theo quan chế, đô hộ là chức quan thuộc chế độ quan lại của nhà Đường, đó là quan đứng đầu đô hộ phủ

- Theo đơn vị hành chính, đô hộ là một đơn vị hành chính cấp phủ (phủ đô hộ) thuộc khu vực hành chính thời Đường, tương đương với phủ kinh đô và phủ đô đốc

- Theo tính chất, đô hộ là một bộ máy quân chính do nhà Đường lập để quản lý những vùng đất mới chinh phục ở vùng biên cương (in order to administer its borderland area)

Trang 16

Trong công trình này, “đô hộ” được sử dụng kết hợp theo cả ba nghĩa đã nêu, vừa là một đơn vị hành chính cấp phủ đứng đầu bởi quan Đô hộ, vừa là một bộ máy quân chính được nhà Đường thiết lập để quản lý vùng biên cương phía nam

1.1.2 Khái quát về các bộ máy đô hộ trong lịch sử Trung Quốc

Chức quan đô hộ và bộ máy đô hộ đã có từ lâu trong lịch sử Trung Quốc Đầu tiên là Tây Vực đô hộ phủ được thiết lập vào thời Tây Hán (Tiền Hán, 206 trCN – 08 CN) Đây

là một tổ chức quản hạt hành chính được lập ra năm Thần Tước thứ 2 (60 trCN) đời Hán Tuyên đế Trị sở đặt ở thành Ô Luỹ (thuộc vùng phụ cận Đông Dã và Câu Vân, huyện Luân Đài, khu tự trị Tân Cương hiện nay) Phủ này quản lí Ngọc Môn quan, Dương quan

về phía tây, Thiên Sơn, các tiểu quốc ở Tây Vực (lúc đầu là 36 nước, về sau lên đến 50) như Ô Tôn, Đại Uyển, Thông Lĩnh Sau năm 16, niên hiệu Thiên Phụng thứ ba, đời của Vương Mãng nhà Tân thì Tây Vực không còn thông thương được nữa nên đô hộ phủ cũng bị triệt tiêu

Sang thời Đông Hán (Hậu Hán, 25 – 220), triều đình đã hai lần lập lại Tây Vực đô hộ phủ (năm 74 – 76 và năm 91 – 107) và dời phủ trị đến thành Đà Càn xứ Quy Tư (tây nam thành cũ Đại Vọng Khố Mộc, huyện Tân Hoà, khu tự trị Tân Cương hiện nay)

Mục đích của hai triều nhà Hán trong việc đặt đô hộ phủ là nhằm củng cố các mối quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hoá ở khu vực Trung nguyên với một phần Tây Vực, để phát triển sức sản xuất của địa phương Tây Vực, bảo vệ sự thông thương của con đường thương mại từ đông sang tây Do có những tác dụng tích cực đó mà thời Lưỡng Hán đều tăng cường lập đô hộ phủ, quản lý sự vụ vùng đất Tây Vực

Thời Đông Hán, ngoài hai lần thiết lập Tây Vực đô hộ phủ, còn lập thêm Tiên Tạo đại đô hộ, đô hộ Tướng quân, Hán An đô hộ, Thượng thư đô hộ Sang thời Tam quốc (220 – 280) thì lập Tả, Hữu, Trung đô hộ Thời Lưỡng Tấn (265 – 420) thì lập đô hộ đại Tướng quân, Chinh thảo đô hộ Thập lục quốc (một giai đoạn khá phức tạp trong lịch sử Trung Quốc, từ đầu thế kỉ IV đến giữa thế kỉ V) lập Tây Vực đô hộ, Tây Vực đại đô hộ, Xích Thuỷ đô hộ, Dương Bắc đô hộ Còn về phía Nam triều: nhà Tống (420 – 479), Tề (479 – 502) thì lập Tây Giang đô hộ, Lưỡng Giang đô hộ1 Tuy đều có tên gọi là đô hộ nhưng các bộ máy này lại có cơ cấu và tổ chức hoạt động không giống nhau và cũng không giống với chế độ đô hộ của nhà Đường

1

李大龙 (2003), 《都护制度研究》, 黑龙江教育出版社, 页 2。

Trang 17

Sang thời Đường (618 – 907) là thời kì phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến Trung Quốc thì cũng là lúc chế độ đô hộ phát triển mạnh, đạt đến đỉnh cao hoàn thiện cả

về quy mô, cơ cấu tổ chức, lẫn chức năng, vai trò hoạt động Từ đời Đường Thái Tông đến Vũ Tắc Thiên, nhà Đường đã thiết lập được tất cả 9 đô hộ phủ là An Đông, Đông Di,

An Bắc, Thiền Vu, An Tây, Bắc Đình, Côn Lăng, Mông Trì và An Nam đô hộ phủ Trong số đó có 6 đô hộ phủ chính yếu là An Tây, Bắc Đình, Yên Nhiên (sau đổi thành Hãn Hải, An Bắc), Thiền Vu, An Đông và An Nam đô hộ phủ Ở thời Đường, đô hộ phủ được phân biệt thành đại, thượng, trung đô hộ Trong đó, Đại đô hộ phủ do Thân vương nhậm chức từ xa, có phó Đô hộ quản lý việc phủ Thông thường, mỗi phủ đô hộ đặt 1 quan Đô hộ, 2 phó Đô hộ (hai phủ An Bắc và Thiền Vu chỉ lập 1 phó Đô hộ) Về phụ tá

có chức Trưởng sử, Tư mã, Lục sự, Công tào, Thương tào, Hộ tào, Binh tào, Pháp tào…, mỗi phủ đều đặt 1 người; Tham quân sự 3 người; nhưng hai phủ An Bắc và Thiền Vu chỉ

có một Tư mã; một Thương tào, một Binh tào, những chức còn lại đều không đặt

Dưới đây là bảng liệt kê 6 phủ đô hộ quan trọng dưới thời nhà Đường, lần lượt theo thời gian thiết lập

Stt Tên phủ đô hộ Đạo quản lý Thời gian thiết lập Thời gian giải thể

về Quy Tư, bắt đầu lập bốn trấn là Quy Tư, Sơ Lặc, Vu Điền, Toái Diệp Năm Vĩnh Huy nguyên niên (650) thì bãi bỏ, đến năm Hiển Khánh thứ 3 (658) thì lại khôi phục Lúc này bốn trấn có Yên Kỳ mà không có Toái Diệp Năm 670 bị Thổ Phồn đánh chiếm Đến năm 679 (Điều Lộ nguyên niên), quan Đô hộ An Tây là Vương Phương Dực cho xây thành Toái Diệp và phục hồi lại bốn trấn Toái Diệp, Quy Tư, Sơ Lặc, Vu Điền Nhưng

Trang 18

không lâu sau, lại bãi bỏ Năm 693, khi nhà Đường đánh thắng Thổ Phồn đã cho lập lại các trấn Năm Khai Nguyên thứ 7 (719), bỏ thành Toái Diệp cho khả hãn Tây Đột Quyết, rồi lại lấy Yên Kỳ làm một trong bốn trấn Sau vụ loạn An Sử, Thổ Phồn sở hữu đạo Lũng Hữu, khiến An Tây ngăn cách với Trung nguyên, đến sau niên hiệu Trinh Nguyên (790) thì phủ đô hộ bị rơi vào tay Thổ Phồn1

Ở Tây Vực, ngoài An Tây đô hộ phủ còn có một đô hộ phủ khác có vai trò quan trọng không kém là Bắc Đình đô hộ phủ, được nhà Đường thiết lập để quản lý vùng Thiên Sơn Niên hiệu Hiển Khánh năm thứ 2 (cuối năm 657 đầu năm 658) đời Đường Cao Tông, quan nhà Đường là Tô Định Phương đánh bại khả hãn Tây Đột Quyết, đã phân khu vực thành Mông Trì đô hộ phủ, Côn Lăng đô hộ phủ, thuộc vào An Tây đại đô hộ phủ Đến năm 702, đời Vũ Tắc Thiên, cải gọi hai phủ đô hộ trên thành Bắc Đình đô hộ phủ, phủ trị đặt tại Đình Châu (hương Bắc Đình, khu tự trị Tân Cương hiện nay) Năm 709, Bắc Đình

đô hộ phủ được nâng cấp thành đại đô hộ phủ, trở thành phủ đô hộ đồng cấp với An Tây đại đô hộ phủ Đến năm 790, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 6 đời Đường Đức Tông thì Thổ Phồn đánh chiếm Bắc Đình đô hộ phủ

Phủ đô hộ được thiết lập thứ hai sau An Tây đô hộ phủ là An Bắc đô hộ phủ (năm 647), thống hạt khu vực Ngoại Mông Cổ hiện nay Lúc đầu, tiền thân của An Bắc đô hộ phủ là Yên Nhiên đô hộ phủ, trị sở phủ đô hộ đặt tại Âm Sơn (thuộc kỳ Hàng Cẩm hậu, Nội Mông Cổ hiện nay) Đến năm 663, đổi gọi là Hãn Hải đô hộ phủ, phủ trị dời đến Caracorum (Cát Nhĩ Hoà Lâm, CHND Mông Cổ hiện nay) Tới năm 669 thì đổi thành

An Bắc đô hộ phủ Sau năm 754 thì lại đổi gọi là Trấn Bắc đô hộ phủ Cuối cùng, vào năm 784 thì phế bỏ phủ đô hộ này Một phủ đô hộ khác là Thiền Vu đô hộ phủ vào năm

845 đã đổi danh xưng trở thành An Bắc đô hộ phủ An Bắc đô hộ phủ thứ hai này thực tế

là Thiền Vu đô hộ phủ, tồn tại sau khi An Bắc đô hộ phủ chính bị phế bỏ

Thiền Vu đô hộ phủ được thiết lập để cai quản các vùng đất của Đông Đột Quyết bị nhà Đường đánh chiếm (ngày nay là khu vực Nội Mông Cổ) Năm 650, vào đời Đường Cao Tông lập Yên Nhiên đô hộ phủ Đến năm 663, đổi gọi là Vân Trung đô hộ phủ Qua năm 664 thì đổi gọi là Thiền Vu đô hộ phủ Sau khi hậu Đột Quyết kiến lập, năm 698, phế bỏ Thiền Vu đô hộ phủ, nhập vào An Bắc đô hộ phủ Đến năm 720 thì lập mới Vào năm 845, sau khi An Bắc đô hộ phủ đầu tiên bị phế bỏ, thì nhà Đường đã lấy Thiền Vu

1

Chu Phát Tăng - Trần Long Đào - Tề Cát Tường (chủ biên, 2001), Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc,

Nxb Trẻ, tr 301

Trang 19

đô hộ phủ, cải xưng làm An Bắc đô hộ phủ Đầu thời Ngũ đại (907), Khiết Đan (cũng gọi

là Khất Đan) bắt đầu xâm nhập vào Thiền Vu đô hộ phủ Đến năm 916 thì Khiết Đan chiếm được phủ thành là Vân Trung, phủ đô hộ bị dẹp bỏ

An Đông đô hộ phủ cũng là một trong 6 đô hộ phủ chính được thiết lập thời Đường, niên hiệu Tổng Chương thứ 2 (tháng 12 năm 669), để quản lý vùng đất mà nhà Đường mới xâm chiếm được ở bán đảo Triều Tiên, vốn là lãnh thổ của hai vương quốc Bách Tế (Paekche) và Cao Câu Ly (Koguryo) Lúc đầu, vào năm 661, sau khi liên quân Đường – Tân La (Silla) đánh bại được Bách Tế, nhà Đường đã lập Kê Lâm đại đô đốc phủ ở tại nơi trước đây là 5 pang (phương: đơn vị tỉnh của Bách Tế) Đến năm 668 khi diệt được Cao Câu Ly thì nhà Đường lập tiếp tục 9 đô đốc phủ Bao trùm lên hết thảy là An Đông

đô hộ phủ, phủ trị đặt tại Bình Nhưỡng (Pyongyang) Tân La vốn là đồng minh của nhà Đường cũng có nguy cơ bị xâm chiếm Do đó, Tân La đã tập hợp lực lượng đẩy lùi nhà Đường vào năm 676 Nhà Đường buộc phải dời An Đông đô hộ phủ từ Bình Nhưỡng về Liêu Đông (Liaotung, ngày nay là Liêu Dương, Liêu Ninh)1

Sau khi đã dời về Liêu Đông, năm 698, phủ đô hộ được đổi thành phủ đô đốc Năm

705 khôi phục lại phủ đô hộ và dời về U Châu (phía tây nam Bắc Kinh ngày nay), dùng

Đô đốc của U Châu để kiêm chức Đô hộ Đến năm 714, lại dời phủ đô hộ đến Bình Châu (thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay) Vào năm 743, niên hiệu Thiên Bảo thứ 2, phủ đô hộ dời

về quận thành cũ ở Liêu Tây (nằm ở phía đông nam huyện Nghĩa, tỉnh Liêu Ninh) Về quan chế, từ năm Khai Nguyên thứ 7 (719) trở đi thì Tiết độ sứ Bình Lô kiêm lĩnh cả chức Đô hộ phủ An Đông Cuối cùng, vào niên hiệu Thượng Nguyên thứ 2 đời Đường Túc Tông, năm 761, khi Tiết độ sứ của Bình Lô dời xuống phía nam đến Trì Thanh thì phủ đô hộ An Đông bị bãi bỏ

An Nam đô hộ phủ - đối tượng nghiên cứu chính của đề tài cũng là một trong 6 phủ

đô hộ chính yếu được thiết lập vào thời Đường Còn các phủ đô hộ khác được lập ra dưới thời Đường như phủ đô hộ Trấn Bắc thuộc đạo Quan nội, phủ đô hộ Bảo Ninh thuộc đạo

Kiếm Nam, tuy cũng được gọi là phủ đô hộ nhưng theo Địa lý chí, Tân Đường thư thì

các phủ đô hộ này đều không được liệt vào danh sách 6 phủ đô hộ chính yếu thời Đường2

1

Lee Ki Baik (Lê Anh Minh dịch – Dương Ngọc Dũng hiệu đính) (2002), “Korea xưa và nay – lịch sử Hàn Quốc

tân biên”, Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 94-95

2

Chu Phát Tăng - Trần Long Đào - Tề Cát Tường (chủ biên, 2001), Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc,

Nxb Trẻ, tr 298

Trang 20

Có thể thấy, không thời kì nào, chế độ đô hộ lại phát triển và để lại dấu ấn sâu đậm bằng thời Đường Sau khi nhà Đường diệt vong, các triều đại kế tiếp vẫn thiết lập chế độ

đô hộ như thời Tống (960 - 1279) lập Lũng Hữu đô hộ Thời Nguyên lập Bắc Đình đô hộ phủ Đến thời Minh cũng lập Kim Ngô Thị vệ thân quân đô hộ phủ Chế độ đô hộ trong lịch sử Trung Quốc đã có quá trình phát triển lâu dài, hơn 1500 năm Các nguồn sử liệu

Trung Quốc như Nhị thập tứ sử, thể biên niên sử, thể kỉ sự bản mạt và một số thể khác

đều có những ghi chép về chế độ đô hộ

1.1.3 Những ghi chép của sử sách Trung Quốc về chế độ đô hộ

Trước hết là Nhị thập tứ sử (tức 24 bộ sử được coi là chính sử của Trung Quốc, tính

từ Sử ký của Tư Mã Thiên đến Minh sử của Trương Đình Ngọc) Trong 24 bộ sử này, chỉ

có Sử ký, Nam sử và Bắc sử là thuộc loại thông sử, còn lại đều thuộc loại đoạn đại sử Một số ý kiến lại cho rằng chính sử có đến 25 bộ (Nhị thập ngũ sử) hay 26 bộ (Nhị thập

lục sử) Đó là do thêm vào Tân Nguyên sử của Kha Chiêu Vận và Thanh sử cảo của

Thanh sử quán Tuy nhiên, do hai bộ sử được thêm vào sau này đều được biên soạn ở thời dân quốc, nên không còn thuộc hệ thống chính sử của triều đình phong kiến như 24

bộ sử đã biết1 Việc ghi chép của chính sử về chế độ đô hộ cũng chỉ tập trung ở 24 bộ sử,

chủ yếu là từ Hán thư đến Minh sử

Những ghi chép về chế độ đô hộ trong Hán thư tập trung tại các quyển 70 (truyện

chép về Trịnh Cát, Cam Duyên Thọ, Trần Đoạn), quyển 94 (Hung Nô truyện), quyển 96 (Tây Vực truyện), quyển 99 (truyện về Vương Mãng) Ngoài ra, quyển 8 (Tuyên đế kỷ)

và quyển 19 (Bách quan công khanh biểu) cũng có các ghi chép về đô hộ2 Hậu Hán thư

đề cập đến đô hộ ở quyển 1 hạ (Quang Vũ đế kỷ), quyển 2 (Minh đế kỷ), quyển 4 (Thương đế), quyển 5 (An đế kỷ), quyển 9 (Hiến đế kỷ), quyển 16 (Ngũ hành tứ), quyển

19 (Cảnh Yểm truyện), quyển 20 (Sái Tuân truyện), quyển 25 (Lỗ Cung truyện), quyển

33 (Trịnh Hoằng truyện), quyển 47 (Ban Siêu, Lương Cận liệt truyện), quyển 57 (Lý Vân truyện), quyển 65 (Đoạn Huỳnh truyện), quyển 86 (Nam Man Tây Nam Man Di liệt truyện), quyển 87 (Tây Khương truyện), quyển 88 (Tây Vực truyện), quyển 89 (Nam Hung Nô liệt truyện), quyển 90 (Ô Hoàn Tiên Ty liệt truyện)

1

Phạm Hoàng Quân (2011), “Những ghi chép liên quan đến biển Đông Việt Nam trong chính sử Trung Quốc”,

Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (118), tr 23-26

2

李大龙 (2003), 《都护制度研究》, 黑龙江教育出版社, 页 6。

Trang 21

Nội dung đô hộ trong Tam quốc chí tương đối tập trung ở các quyển 9 (Nguỵ thư, Hạ

Hầu Uyên truyện), quyển 25 (Tân Tỷ truyện), quyển 28 (Gia Cát Đản truyện), quyển 58 (Lục Tốn truyện), quyển 52 (Gia Cát Cẩn truyện), quyển 55 (Đinh Phụng truyện), quyển

51 (Tông thất truyện), quyển 33 (Hậu chủ truyện), quyển 35 (Gia Cát Lượng truyện),

quyển 40 (Lý Nghiêm truyện), quyển 44 (Tưởng Uyển truyện) Tấn thư ở các quyển 3

(Thành đế kỷ), quyển 14 (Địa lý chí), quyển 20 (Lễ chí), quyển 24 (Chức quan chí), quyển 66 (Lưu Hoằng truyện), quyển 81 (Chu Tự truyện), quyển 102 (Lưu Thông tái kí), quyển 104 (Thạch Lặng tái kí), quyển 113 (Phù Kiên tái kí), quyển 122 (Lữ Quang tái kí), quyển 94 (Tứ Di – Đột Dục Hồn)1

Những ghi chép về Đô hộ phủ thời nhà Đường tập trung chủ yếu trong hai bộ sử là

Cựu Đường thư và Tân Đường thư

Trong Cựu Đường thư, nội dung về đô hộ được đề cập đến ở các quyển 4 (Cao Tông

bản kỷ thượng), quyển 5 (Cao Tông bản kỷ hạ), quyển 8 (Huyền Tông bản kỷ thượng), quyển 9 (Huyền Tông bản kỷ hạ), quyển 12 (Đức Tông bản kỷ thượng), 13 (Đức Tông bản kỷ hạ), quyển 15 (Hiến Tông bản kỷ hạ), quyển 16 (Mục Tông bản kỷ), quyển 17 (Kính Tông bản kỷ), quyển 38 (Địa lý chí, nhất), quyển 39 (Địa lý chí, nhị), quyển 40 (Địa lý chí, tam), quyển 41 (Địa lý chí, tứ), quyển 42 (Chức quan chí, nhất), quyển 44 (Chức quan chí, tam), quyển 83 (Quách Hiếu Khác truyện), 103 (Quách Kiền Quán truyện), quyển 104 (Cao Tiên Chi, Phong Thường Thanh, Ca Thư Hàn truyện), quyển

185 (Lý Tố Lập, Điền Nhân Hội truyện), quyển 194 (Đột Quyết truyện), quyển 196 (Thổ

Phồn truyện), quyển 198 (Tây Vực truyện), v.v…Trong Tân Đường thư, là các quyển 3

(Cao Tông bản kỷ), quyển 5 (Duệ Tông bản kỷ), quyển 37 (Địa lý, nhất), quyển 43 hạ (Địa lý, thất), quyển 111 (Quách Hiếu Khác truyện), quyển 133 (Quách Kiền Quán truyện), quyển 135 (Cao Tiên Chi, Phong Thường Thanh, Ca Thư Hàn truyện), quyển

215 (Đột Quyết truyện), quyển 216 (Thổ Phồn truyện), quyển 217 (Hồi Hột truyện), quyển 220 (Đông Di truyện), quyển 221 (Tây Vực truyện, thượng), quyển 222 (Nam Chiếu truyện, trung), v.v2

Trong thể loại sử biên niên như Tư trị thông giám, Tư trị thông giám trường biên, Tam triều bắc minh hội biên, Kiến viêm dĩ lai hệ niên yếu lục cũng có ghi chép về chế độ

đô hộ Chẳng hạn, Tư trị thông giám viết về đô hộ chủ yếu tập trung tại các quyển 25, 26,

Trang 22

27, 29, 30 đến 35, 37, 38, 40, 41, 43 đến 49, 54, 67, 70, 72, 74, 76, 77, 79, 85, 87, 91,

101, 104, 108, 193, 195 đến 220, 222, 225 đến 227, 233, 238, 239, 241, 243, 247, 249,

250, 291 Tư trị thông giám trường biên, Tam triều bắc minh hội biên và Kiến viêm dĩ lai

hệ niên yếu lục đề cập Lũng Hữu đô hộ thời Tống, phần đầu rải rác trong các quyển 50,

106, 107, 128, 132, 159, 181, 203, 243, 279, 309, 354, 405, 479, 514, 519, 520 v.v , phần giữa ghi chép không nhiều, rải rác trong bốn quyển 139, 195, 196 và 239, phần sau tập trung trong số các quyển 14, 15, 50, 76, 114, 118, 146, 169

Một số thể loại biên niên khác có đề cập đến đô hộ như Tây Hán niên kỷ quyển 20, 21,

23, 24; Đại sự ký tục biên quyển 10, 29, 49, 52, 57, 58, 67 Các tác phẩm sử học thuộc thể kỷ sự bản mạt như Thông giám kỷ sự bản mạt cũng có đề cập đến đô hộ rải rác từ

quyển 3 đến 13, quyển 17 hạ, quyển 28 đến 32, quyển 35 hạ, quyển 36 thượng hạ

Thuộc thể loại chính thư (sách chính trị) có đề cập đến đô hộ như Thông điển, quyển

2, 6, 15, 19, 25, 26, 29, 32, 33, 35, 36, 40, 75, 157, 172, 173, 174, 179, 180, 191, 192,

193, 195, 198 đến 200; Đường đại chiếu lệnh tập, quyển 27, 28, 29, 35, 36, 37, 38, 42,

46, 52, 54, 59, 61, 63, 116, 118, 123, 130; Văn hiến thông khảo, quyển 22, 37, 55, 61, 63,

174, 176, 180, 182 đến 184, 188, 189, 191, 196, 197, 199 Các loại sách về bách quan nói

đến đô hộ phủ có Đường lục điển tập trung ở các quyển 3, 4 và 30; Khâm định lịch đại bách quan biểu, quyển 22, 50, 53, 56, 58, 63, 70, 711

Như vậy, chế độ đô hộ đã được sử sách của Trung Quốc ghi chép khá tường tận Không chỉ riêng Trung Quốc, trong lịch sử các quốc gia Triều Tiên và Việt Nam cũng từng thiết lập bộ máy đô hộ Như ở Triều Tiên vào thời kì Goryeo (Cao Ly, 918 - 1392) cũng đã thành lập các phủ đô hộ Anbuk, Annam, Anseo, Anbyeon Ở Việt Nam, thời Đinh đặt Đô hộ phủ sĩ sư trông coi việc hình án trong triều đình, cuối thời Trần đặt phủ

Đô hộ để coi việc binh xung quanh kinh thành Thăng Long Tuy nhiên, các bộ máy này

có đặc điểm, tính chất hoàn toàn khác với chế độ đô hộ đã biết ở Trung Quốc

1

李大龙 (2003), 《都护制度研究》, 黑龙江教育出版社, 页 10~12。

Trang 23

1.2 Trung Quốc thời nhà Đường (618 - 907) và việc thiết lập bộ máy đô hộ phủ ở

An Nam

1.2.1 Đặc điểm của chế độ phong kiến thời Đường

Trung Quốc sau một thời kì lịch sử đầy biến động khoảng 500 năm, kể từ Tam quốc đến Lưỡng Tấn, Nam – Bắc triều, đã bước vào thời kì ổn định và phát triển từ cuối thế kỉ

VI, khi nhà Tuỳ được thành lập Tuy nhiên, nhà Tuỳ tồn tại không được bao lâu thì đã sụp đổ bởi sự phát triển mạnh mẽ của phong trào khởi nghĩa nông dân Nhân cơ hội đó, năm 617, một viên quan của nhà Tuỳ là Lý Uyên đã cùng con là Lý Thế Dân khởi binh chống lại nhà Tuỳ ở Thái Nguyên (Sơn Tây) Tháng 5 năm 618, Lý Uyên lên ngôi, lập ra nhà Đường, đóng đô ở Trường An Dầu vậy, tình hình nội chính Trung Quốc vẫn hết sức bất ổn bởi các thế lực cát cứ địa phương của Vương Thế Sung, Lý Mật, Đậu Kiến Đức, Lương Sử Đô Mãi đến năm 628, khi các thế lực cát cứ bị dẹp yên và cuộc thanh trừng nội bộ trong triều đình (sự biến Huyền Vũ môn) kết thúc thì cục diện đất nước mới đi vào ổn định hoàn toàn

Do tổ phụ, rồi thân phụ và cả bản thân Lý Uyên được phong chức Đường quốc công nên sau khi lập ra triều đại mới, Lý Uyên đã lấy tước hiệu Đường để đặt tên nước1 Tuy được thành lập trong một bối cảnh hết sức rối ren, đầy biến động phức tạp nhưng nhà Đường lại là một triều đại phát triển, với thời gian tồn tại kéo dài 289 năm (618 - 907) gồm 21 đời vua Sử sách thường chia nhà Đường làm ba giai đoạn: thiết lập – khẳng định

tức sơ diệp 初叶 (sơ Đường 618 - 713), cường thịnh tức trung diệp 中叶 (trung Đường

713 - 823) và suy vong tức mạt diệp 末叶 (mạt Đường 823 - 907)

Ngô Kinh Quốc trong Lịch sử hưng vong của các triều đại phong kiến Trung Quốc, thời Tuỳ - Đường thì chia nhà Đường làm các giai đoạn: thành lập (khai quốc 开国) từ

618 đến giữa thế kỉ VII, phát triển (đỉnh thịnh 鼎盛) từ giữa thế kỉ VII đến giữa thế kỉ VIII và trung hưng (中兴) từ nửa sau thế kỉ VIII đến đầu thế kỉ IX rồi suy vong (衰亡) từ nửa đầu thế kỉ IX đến 9072 Mặc dù có khác nhau đôi chút song cả hai cách phân kì đều phản ánh được đặc thù từng giai đoạn của nhà Đường, theo các quy luật vận động có tính tất yếu, khách quan của lịch sử, từ xác lập đến phát triển rồi suy vong và sụp đổ

Trang 24

Dưới thời nhà Đường, chế độ phong kiến Trung Quốc đã phát triển đạt đến đỉnh cao của sự toàn thịnh, được biểu hiện trên nhiều phương diện về kinh tế - xã hội, tổ chức chính trị - bộ máy nhà nước lẫn cương vực lãnh thổ

Về kinh tế - xã hội, nền kinh tế Trung Quốc thời Đường là một nền kinh tế phồn vinh

Thời sơ diệp, nhà Đường thi hành chế độ quân điền, lấy ruộng đất bỏ hoang hoặc vô chủ cấp cho nông dân, gồm hai loại: vĩnh nghiệp (20 mẫu, nông dân có quyền mua bán, chuyển nhượng và thừa kế), khẩu phần (sau khi chết phải trả lại) Chế độ quân điền không xâm phạm đến lợi ích của giai cấp địa chủ, mặt khác lại ràng buộc được nông dân vào ruộng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cho nhà nước theo chế độ tô, dung, điệu nên thúc đẩy sức sản xuất phát triển Dân số tăng nhanh, công tác thuỷ lợi được chú trọng Đà tăng trưởng của nông nghiệp kéo theo sự phát triển của công thương nghiệp, thị trường hàng hoá tiền tệ bước đầu phát triển, nhiều thành thị lớn cũng hình thành

Để củng cố chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, nhà Đường cải cách chế độ sĩ tộc, không theo dòng dõi huyết tộc như trước nữa mà theo phẩm trật cao thấp: thứ nhất là quý tộc, thứ hai là ngoại thích, tiếp đến là các thị tộc khác chia làm chín bậc Đồng thời, còn tăng cường chế độ khoa cử nhằm lôi kéo giới địa chủ bình dân tham gia vào chính quyền, hình thành một tầng lớp quan lại địa chủ và sử dụng tầng lớp này để làm chỗ dựa trong xã hội Điều đó đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng của chế độ phong kiến Trung Quốc, từ quân chủ quý tộc sang quân chủ quan lại

Về tổ chức bộ máy nhà nước, ở trung ương, nhà Đường thiết lập chính sự đường để

Tể tướng trông coi việc chung, lúc đầu đặt tại môn hạ tỉnh, về sau dời đến trung thư tỉnh, đổi làm trung thư môn hạ, gọi tắt là trung thư, cũng gọi là chính phủ Chính phủ bắt đầu được dùng ở Trung Quốc như một cơ quan quốc gia kể từ thời Đường1 Bộ máy quan lại dưới thời Đường đã được hệ thống hoá với 9 chức tước và 9 phẩm trật khác nhau, các triều đại sau đều áp dụng theo Đó là một hệ thống quan lại hoàn chỉnh Việc thiết lập các

cơ cấu và quan chế này chứng tỏ chế độ quan liêu thời Đường đã đạt đến mức hoàn thiện Chế độ phong kiến thời nhà Đường có đặc điểm là nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Hoàng đế là người đứng đầu cả nước, nắm đại quyền tập trung Hệ thống chính trị thời Đường là biểu hiện tập trung của tính nhất nguyên chế, quân quyền trên hết, không tồn tại cơ cấu tam quyền phân lập với ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp

1

Ngô Vinh Chính (chủ biên, 2004), Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc, Nxb Văn hoá Thông tin, tr 353

Trang 25

Về cương vực lãnh thổ, vào thời Đường, chức năng xâm lược, bành trướng vốn là

chức năng cơ bản của các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng được đẩy mạnh ở mức cao nhất Có thể nói, thế kỉ VII là thế kỉ bành trướng của Trung Quốc Đường Thái Tông

đã từng nói về võ công chinh phục và thành quả mở rộng đất đai của mình như sau:

“chinh phục Man Di ngày trước, chỉ có Tần Thuỷ Hoàng và Hán Vũ Đế Ta nay với thanh gươm ba thước, đã khuất phục 20 vương quốc, dẹp yên bốn bể, bọn Man Di ở cõi

xa cũng lần lượt về quy phục”1 Sử sách Trung Quốc đánh giá công trạng của Đường

Thái Tông là “sự nghiệp cũng to lớn như Hán Cao Tổ” Phía bắc, nhà Đường lần lượt

chinh phục Đông Đột Quyết (630) và Tiết Diên Đà (646) Ở phía tây, lần lượt thôn tính Đột Dục Hồn và các nước nhỏ ở Tây Vực Sang phía đông bắc, nhà Đường mưu toan đánh chiếm bán đảo Triều Tiên, kết quả là tiêu diệt nước Bách Tế (660) và Cao Câu Ly (668) Trải qua 40 năm, nhà Đường đã thiết lập một đế quốc có lãnh thổ rộng lớn bậc nhất đương thời, diện tích khoảng hơn 13 triệu km2, trải dài từ Triều Tiên sang sông Ili,

từ bắc mạc (hồ Baikal ở phía bắc dãy Hưng An Lĩnh - Liên Xô cũ) đến miền trung Việt Nam hiện nay Hộ dân lúc nhiều nhất, vào năm 755, niên hiệu Thiên Bảo thứ 14 đạt hơn 8,9 triệu hộ với hơn 52,9 triệu người2 Nhà Đường đã trở thành một triều đại cường thịnh bậc nhất của lịch sử Trung Quốc, thanh thế lẫy lừng hơn cả thời Tần - Hán

Với lãnh thổ rộng lớn như vậy, khu vực hành chính thời Đường có những đặc điểm

cơ bản là: 1) chia cả nước làm các đạo và căn cứ vào vị trí địa lý để đặt tên, hình thành nên khu hành chính có tên gọi khớp với thực tế; 2) thiết lập phủ, châu, huyện ràng buộc các vùng dân tộc thiểu số, do tù trưởng dân tộc thiểu số đảm nhiệm chức quan phụ trách hành chính địa phương, ban cho quyền tự trị khá lớn, bên trên có phủ đô hộ quản lý để tạo sự yên ổn, đoàn kết và thống nhất; 3) căn cứ vào vị thế chính trị, kinh tế, quân sự và nhân khẩu mà chia châu huyện thành nhiều cấp (thượng, trung, hạ); cấp khác nhau thì điều phối, bố trí quan lại có phẩm cấp tương ứng, áp dụng các chính sách khác nhau, có

sự phân loại để quản lý; 4) sáng lập chế độ phủ, dùng phủ quản lý huyện, được các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh noi theo; 5) từ thời trung Đường về sau, chia các khu trực thuộc Tiết độ sứ, Phòng ngự sử, Đoàn luyện sứ dần dần hình thành hàng chục khu quân chính gọi là phiên trấn

Trang 26

Bên cạnh đó, do nhà Đường xuất thân từ dòng dõi hỗn huyết Hán – Hồ (tổ tiên của

Lý Uyên là người họ Thành, gốc Địch ở Thiểm Tây, thân mẫu là người họ Độc Cô1) nên ngoài tính quan liêu chuyên chế, thể chế chính trị nhà Đường, nhất là thời sơ Đường còn mang nặng tính du mục, bán quân sự Đó vẫn là nền chính trị của giới quý tộc cả về mặt con người, lẫn các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá Các dòng họ có gốc Hồ như Vũ Văn,

Mộ Dung, Linh Hồ, Độc Cô, Uất Trì là những gia tộc có thế lực và ảnh hưởng chính trị lớn vào thời sơ Đường Dần về sau, từ thời trung Đường trở đi, nền chính trị mới được quan liêu hoá, việc tuyển chọn quan lại mới thực hiện qua con đường khoa cử một cách

1.2.2 Vị thế, vai trò của vùng đất An Nam thuộc Đường

Vùng đất An Nam thời thuộc Đường trước đó có các tên gọi là Giao Chỉ2 (thời thuộc Hán) và Giao Châu (từ cuối thời thuộc Đông Hán đến đầu thời Đường) Tên gọi An Nam chỉ mới bắt đầu có từ năm 679, khi nhà Đường thiết lập An Nam đô hộ phủ để cai quản vùng đất này

Hán – Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh giải nghĩa: “an” nghĩa là êm đềm, trái

với chữ nguy và “An Nam đô hộ phủ” là tên thủ phủ Việt Nam đời nội thuộc nhà Đường (618 – 907)3 Theo phần mềm Hanosoft 3.0 (phiên bản 2010) thì “an” (安) nghĩa là yên, như bình an: 平安, trị an: 治安, “an” còn có nghĩa là làm yên, như an phủ: 安抚 phủ dụ cho yên Còn “nam” (南) dùng để chỉ hướng nam, về phía nam, phương nam Như vậy,

“An Nam” có nghĩa là bình yên, trị an ở phía nam

“An Nam đô hộ phủ” được hiểu là phủ đô hộ được thiết lập nhằm dẹp yên, làm cho yên vùng đất biên cương phía nam của nhà Đường Có một thời gian ngắn (757 – 768), nhà Đường đổi gọi An Nam là Trấn Nam (填南) với ý là trấn thủ, trấn áp bằng vũ lực, tăng cường quân sự phía nam vì An Nam không còn yên nữa

Trang 27

Sau khi nhân dân An Nam giành lại được độc lập, quốc hiệu được đặt là Đại Cồ Việt (năm 968), đến năm 1054 thì cải gọi là Đại Việt (大越) Nhưng các triều đại phong kiến

ở Trung Quốc vẫn xem An Nam là một quận của họ với tên gọi trong quan hệ bang giao

là Giao Chỉ Năm 970, niên hiệu Khai Bảo thứ 3, đời Bắc Tống, triều đình nhà Tống đã

phong cho Đinh Tiên Hoàng là Giao Chỉ quận vương và Đinh Liễn là Kiểm hiệu thái sư Tĩnh hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ Đến năm 1174, niên hiệu Thuần Hi nguyên niên

đời Nam Tống thì triều đình Trung Quốc mới đổi gọi Giao Chỉ là An Nam quốc và

phong cho vua nhà Lý khi ấy là Lý Anh Tông làm An Nam quốc vương1 Từ đó, An Nam mới được các triều đại Trung Quốc công nhận là một nước độc lập và trở thành tên gọi chính thức dùng trong ngoại giao Đến thời Pháp thuộc, tên gọi An Nam được thực dân Pháp dùng để gọi với ý khinh miệt (Annamite) An Nam cũng là tên gọi của xứ Trung kỳ

- một trong 5 xứ trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Từ xa xưa, vùng đất mà vào thời thuộc Đường được gọi là An Nam luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng, nối liền lục địa Trung Hoa với toàn bộ bán đảo Đông Dương và

khu vực Đông Nam Á, cả trên đường bộ lẫn đường biển (minh hoạ hình ảnh ở trang sau)

Nó có vai trò to lớn đối với sự phát triển không chỉ của riêng nhà Đường mà còn của cả các triều đại trước đó

Ngay từ cuối thế kỉ I, con đường bộ đi từ An Nam, dọc thung lũng sông Thương qua Bằng Tường, Quảng Tây, Hồ Nam đã được khai phá Mặt khác, con đường hàng hải từ Giao Chỉ, Nhật Nam đến Ấn Độ, chạy dài cho tới Địa Trung Hải cũng đã hình thành

Ngoài ra, lại có con đường bộ qua miền Trung Á và vương quốc Parthe Nguỵ thư chép

“Đại Tần (Đông La Mã) về phía đông nam thông với Giao Chỉ”, lại chép thêm “dọc theo

bể mà đi về nam thông với miền ngoại di 7 quận của Giao Chỉ” Luồng thông thương

quốc tế, từ hải cảng Alexandrie toả sang miền nam Ấn Độ Từ đây, thương thuyền của Tây dương tiếp tục vượt biển qua miền Đông Dương mà giao thiệp buôn bán với vùng Hoa Nam, Trung Quốc Vì vậy, các thuyền buôn Trung Hoa, Ấn Độ, phương Tây thường qua lại vùng đất Giao Chỉ2 Rõ ràng, những thế kỉ đầu công nguyên, vùng đất Giao Chỉ - Giao Châu rồi An Nam đã là một chặng trong con đường thông thương giữa phương Tây, miền nam biển Đông với Trung Quốc

1

周浩 (1996), 《中国历史大辞典 (历史地理卷)》, 上海辞书出版社, 页 356。Sử sách Việt Nam đều chép là vào

năm 1164 (Giáp Thân), niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 2, đời Lý Anh Tông Duy chỉ riêng Việt sử lược căn cứ vào Tống sử mà chép vào năm 1174 (Giáp Ngọ) như tài liệu đã dẫn

2

Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: tập 1, Nxb Giáo dục, tr 83

Trang 28

Bản đồ đế quốc Đường và mạng lưới giao thông nối liền các nước trong khu vực

An Nam

Đường Thổ Phồn

Trang 29

Sang đến thế kỉ VII – VIII, An Nam vẫn tiếp tục giữ vị thế chiến lược quan trọng

Quyển 43 hạ, mục Địa lý chí trong Tân Đường thư có chép phần khảo cứu của Giả Đam,

Tể tướng nhà Đường dưới thời Trinh Nguyên (785 – 804), mô tả 7 con đường thông từ các xứ đến lục địa Trung Quốc 7 con đường đó là: 1) từ Doanh Châu vào An Đông; 2)

từ Đăng Châu theo đường biển vào Bột Hải; 3) từ vùng biển tại Hạ Châu đến Đại Đồng, Vân Trung; 4) từ thành Trung Thụ Hàng vào Hồi Hộc; 5) từ An Tây vào Tây Vực; 6) từ

An Nam đến Thiên Trúc và 7) từ Quảng Châu đến các xứ “di” trên biển, được gọi là

“Quảng Châu thông hải di đạo”

Như vậy, An Nam là một trong bảy con đường quan trọng, nối liền lục địa Trung Hoa với các xứ bên ngoài Riêng con đường thứ bảy, tức Quảng Châu thông hải di đạo được

ghi chép như sau: “từ Quảng Châu theo đường biển đi về hướng đông nam hai trăm dặm đến Đồn Môn sơn, cho buồm thuận gió đi theo hướng tây, 2 ngày thì đến hòn Cửu Châu (Cửu Châu thạch) Lại theo hướng nam đi hai ngày đến hòn Tượng (Tượng thạch), lại theo hướng tây nam đi ba ngày thì đến núi Chiêm Bất Lao, núi này ở giữa biển, cách nước Hoàn Vương hai trăm dặm về phía Đông Lại đi về nam hai ngày, đến Lăng sơn Lại đi một ngày, đến nước Môn Độc Lại đi một ngày, đến nước Cổ Đát Lại đi nửa ngày thì đến châu Bôn Đà Lãng Lại đi hai ngày, đến núi Quân Đột Lộng Lại đi năm ngày thì đến nơi eo biển, người Phiên gọi (chỗ này) là “chất”, nam bắc cách nhau một trăm dặm,

bờ phía Bắc là nước La Việt, bờ phía Nam là nước Phật Thệ”1

Sau này, P.Pelliot trong “Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècles”,

B.E.F.E.O tome IV, 1904 đã xác định được một cách khá hợp lý hệ thống địa danh được miêu tả nói trên Theo đó, có nhiều địa danh thuộc địa phận An Nam như Chiêm Bất Lao, tức cù lao Chàm, Bôn Đà Lãng tức Tân Đồng Long là phiên âm của Panduganra, nay gọi

là Phan Lung tức là Phan Rang, Môn Độc tương ướng với vùng Quy Nhơn, Cổ Đát tuy chưa xác định cụ thể là nơi nào nhưng có thể là Kauthara thuộc Nha Trang Rõ ràng,

Quảng Châu thông hải di đạo là cả một hải trình xuyên biển Đông của Việt Nam Nó

chứng tỏ vào khoảng thế kỉ VII – VIII, vùng đất An Nam đã giữ một vị thế quan trọng trong tuyến đường giao thông có tính khu vực và quốc tế thời bấy giờ

Mặt khác, An Nam lại là vùng đất có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, đất đai, sản vật, tài nguyên phong phú và có nguồn nhân lực dồi dào

1

Phạm Hoàng Quân (2011), “Những ghi chép liên quan đến biển Đông Việt Nam trong chính sử Trung Quốc”,

Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (118), tr 33

Trang 30

Về thổ sản, An Nam chí nguyên - tương truyền là của Cao Hùng Trưng1 đã dẫn lại các

ghi chép trong Tây Việt ngoại kỷ: “thổ địa ở Giao Châu, đời cổ gọi là lạc điền, chất đất màu mỡ, cấy lúa trồng rau, chăn nuôi thứ gì cũng hợp, duy không trồng được lúa mì Vải lụa thì có sa cát liễu, sa bình văn tảo tâm hoa, hợp sa, láng (quang quyến) bông, ỷ, lăng,

la, giày bằng tơ, các thứ này cũng khá tốt Tơ đay, tơ chuối có thể kéo sợi làm vải, mỏng như the lượt, rất hợp với mùa bức” An Nam chí nguyên cũng dẫn An Nam ký lược rằng ở

Giao Châu, ruộng đất nào làm thứ lúa gạo trắng thì tháng 6 cày cấy, tháng 10 gặt, làm thứ lúa gạo đỏ thì tháng 1 cày cấy, tháng 4 gặt, gọi là lúa hai mùa gặt Về việc chăn tằm thì mỗi năm được 8 lứa Muối ở An Nam trắng tinh như tuyết, lông chim trả thì có màu hồng tía rất đẹp Ngoài ra, còn vô vàn thổ san quý giá khác như vàng, ngọc châu, san hô, đồi mồi, chân châu, đan sa, thổ phàn (phèn), trầm hương, cánh kiến, nhan hoàng, đâu lâu hương, an tức hương, long nhị hương, phong chi hương, tô hợp hương, rồi vỏ ốc, du bì, bạch hợp hương2

Nhân lực của An Nam dồi dào, có tay nghề và trình độ chuyên môn cao Vào thời Tam quốc, khi nhà Ngô cát cứ ở Giang Đông đã bắt những thợ khéo đem về xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) Tôn Tư, quan thái thú Giao Chỉ đã bắt hơn

1000 thợ giỏi ở Giao Chỉ đem về dâng cho nhà Ngô Vào thời Lưỡng Tấn, theo ghi chép

của Tấn thư, Giao Châu khi đó có khoảng 23.600 hộ Đến thời Tuỳ, số hộ của Giao Châu theo thống kê được là 56.106 hộ Sang thế kỉ VII, theo Cựu Đường thư thì Giao châu có

dân số 98.788 người Đến giữa thế kỉ VIII, niên hiệu Thiên Bảo tăng lên 99.652 người3

Tân Đường thư thì thống kê được An Nam đô hộ phủ có 56.878 hộ

Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên: khí hậu, sông ngòi và thổ nhưỡng, từ sớm,

cư dân bản địa người Việt ở An Nam đã đạt đến trình độ phát triển nhất định Nhà nước đầu tiên đã được hình thành, đó là nhà nước Văn Lang và Âu Lạc Các phát hiện khảo cổ cũng đã chứng thực sự tồn tại của hai nhà nước này Đây chính là hai nhà nước sơ khai của cư dân người Việt ở giai đoạn quá độ từ mạt kì công xã nguyên thuỷ tiến lên xã hội

có giai cấp, nhà nước, tương tự như thời kì Nghêu, Thuấn, Vũ ở Trung Quốc hoặc thời kì của Basileus, Rex ở Hy Lạp, La Mã cổ đại

1

Học giả Trương Tú Dân trong bài viết “Phát hiện Giao Chỉ tổng chí thời Vĩnh Lạc” đăng trên Học báo Đại học

Lan Châu (bản KHXH), số 1 năm 1981 cho rằng An Nam chí nguyên kì thực gồm 2 bộ sách hợp thành: Tổng yếu

hay An Nam chí kỷ yếu của Cao Hùng Trưng viết thời Thanh, hai là Giao Chỉ tổng chí viết thời Minh

Trang 31

Tuy nhiên, sự phát triển đó đã bị gián đoạn bởi sự xâm lăng của nhà Triệu (Nam Việt) vào năm 179 trCN (thế kỉ II trCN) Từ đó cho đến đầu thế kỉ VII CN, các triều đại phương Bắc từ Triệu đến Lưỡng Hán, Ngô (Tam quốc), Lưỡng Tấn, Tống, Tề, Lương đã lần lượt thiết lập nền thống trị ở đây Trong quá trình này, sự liên hệ giữa An Nam với Trung Quốc lục địa ngày càng mật thiết Học giả Đài Loan là Quách Đình Di trong

Trung – Việt văn hoá luận tập cho biết “so sánh với Đài Loan, Việt Nam liên hệ với Trung Hoa trước vào khoảng 1800 năm”1 Căn cứ vào Sử ký Nam Việt Uý Đà liệt truyện

cho biết sự liên hệ Hoa – Việt khởi đầu từ cuộc nam chinh của nhà Tần, chẳng những các

cư dân ở Trung nguyên di cư xuống nam, mà còn có người Việt từ miền Bắc (Việt Nam)

di cư lên Họ từng giữ nhiều cấp bậc trong quân đội, lập chiến công hiển hách khắp nơi biên thuỳ, tiếng tăm lưu muôn thuở2

Điều đáng lưu ý là sự thống trị của các triều đại phương Bắc đối với An Nam không liên tục mà bị gián đoạn bởi sự nổi dậy của lực lượng bản địa người Việt như khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43), khởi nghĩa Bà Triệu (248), khởi nghĩa của Lý Bí và sự thiết lập nhà nước Vạn Xuân (544 – 602) Ngoài ra, còn do chính những biến động của tình hình Trung Quốc vào cuối các triều đại như cuối thời Đông Hán, cuối thời Ngô, cuối thời Tấn

mà vùng đất này đã thoát li khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương Đó là chưa kể,

bộ máy thống trị của các triều đại phương Bắc không áp đặt và kiểm soát được toàn bộ các đơn vị hành chính, nhất là cấp cơ sở (xã thôn)

Đầu thế kỉ VII, vùng đất An Nam khi ấy vẫn còn gọi là Giao Châu vừa chịu sự áp đặt thống trị của nhà Tuỳ chưa được bao lâu thì đã dần thoát li khỏi sự kiểm soát đó, bởi những biến loạn ở Trung Quốc khiến cho nơi đây hoàn toàn cách tuyệt với chính quyền trung ương Các quận thuộc Giao Châu lúc đó trên thực tế chỉ là “đất ràng buộc lỏng lẻo” của Trung Quốc Vào những năm triều Tuỳ có biến loạn, Lâm Sĩ Hoằng khởi nghĩa ở Giang Tây tự xưng là Sở đế, chiếm cứ từ Cửu giang (Giang Tây) đến Phiên Ngung Giới quan liêu, địa chủ cũng nổi dậy cát cứ Tiêu Tiễn (tôn thất nhà Lương) chiếm Ba Lăng

(Hồ Nam), sau chiếm đất của Lâm Sĩ Hoằng Cựu Đường thư chép: “Ninh Trường Chân đem đất Uất Lâm đi theo Tiêu Tiễn, Phùng Áng đem đất Châu Nhai và Phiên Ngung đi theo Lâm Sĩ Hoằng”3

Trang 32

Lúc Tuỳ Dưỡng đế chết (618), Thái thú Giao Chỉ là Khâu Hoà không hề hay biết Khâu Hoà bóc lột nhân dân Giao Chỉ thậm tệ, có nhiều minh châu, sừng tê, vàng bạc,

“giàu ngang vương giả” Tiêu Tiễn nghe tin, hám lợi đã sai Ninh Trường Chân đem quân

đi đánh Giao Chỉ Khâu Hoà sai Trưởng sử là Cao Sĩ Liêm đem quân đánh thắng nhưng

rốt cuộc Khâu Hoà vẫn đi theo Tiêu Tiễn Tân Đường thư chép: “cuối đời Đại Nghiệp, miền Hải Nam bị bọn quan lại nhũng nhiễu, [nhân dân] nhiều lần oán hận nổi lên”, cho

đến khi nhà Tuỳ mất, miền đất Giao Châu chỉ là nơi cát cứ của giới quan lại Trung Quốc,

nơi thường xuyên xảy ra tranh giành quyền lợi giữa họ Điều này chẳng thể nào “vỗ về hết lòng, miền xa xôi hoang vu này mới yên”1 Sau khi nhà Đường thành lập, mãi đến năm 621, Giao Châu mới lại chịu sự thống trị trực tiếp của chính quyền trung ương

Trung Quốc như Tân Đường thư viết: “Đầu đời Vũ Đức (618 – 626), các đất Ninh Việt, Uất Lâm đầu hàng, bấy giờ mấy châu Giao, Ái mới thông”

Như vậy, những phân tích trên đây đã cho thấy rằng An Nam vào đầu thế kỉ VII là một vùng đất có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nhà Đường Không những có

vị trí chiến lược quan trọng, sự giàu có, trù phú về tài nguyên, thổ sản, cùng với dân cư đông đúc của An Nam đã biến nơi đây trở thành vùng đất có nhiều lợi ích to lớn mà nhà Đường không thể từ bỏ Nó không đơn thuần là việc gìn giữ lợi ích đã có từ các triều đại trước đó mà còn là mục tiêu cho sự xác lập bá quyền thống trị cùng với ảnh hưởng mới của nhà Đường Đây chính là cơ sở để nảy sinh nhu cầu thiết lập bộ máy An Nam đô hộ phủ của nhà Đường không lâu sau đó

1.2.3 Nhu cầu và điều kiện thiết lập An Nam đô hộ phủ thời Đường

a) Nhu cầu thiết lập bộ máy An Nam đô hộ phủ của nhà Đường

Đặc điểm của chế độ phong kiến Trung Quốc thời Đường cùng với vị thế, vai trò của

An Nam đối với nhà Đường đã trở thành yếu tố làm nảy sinh nhu cầu thiết lập bộ máy

An Nam đô hộ phủ Nhu cầu của nhà Đường khi thiết lập An Nam đô hộ phủ vừa có những điểm đồng nhất với nhu cầu thiết lập các phủ đô hộ khác, vừa có điểm riêng biệt phù hợp với đặc điểm, tình hình của An Nam Nhà Đường thiết lập An Nam đô hộ phủ là nhằm để:

Một là, củng cố cơ sở thống trị đã được thiết lập, khống chế toàn bộ các vùng đất ở

An Nam, tạo cơ sở để bành trướng xuống phương nam

1

Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: tập 1, Nxb Giáo dục, tr 162

Trang 33

Khi bình định được Giao Châu năm 621, nhà Đường đã thừa hưởng một vùng đất tương đối rộng lớn, là kết quả của một quá trình thống trị, bành trướng lâu dài của các chính quyền đô hộ trước đó Vùng đất này có lãnh thổ tương ứng từ đồng bằng Bắc bộ đến miền Bình Trị Thiên của Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, nhà Đường đã thiết lập Giao Châu đại tổng quản phủ để quản lý Đó chính là tiền thân của An Nam đô hộ phủ Mặt khác, nhà Đường còn nhân đó đẩy mạnh việc bành trướng, mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, bình định các nhóm “Man” như Bạch Man, Ô Man, Lô Man, Ma Tá Man, Tầm Truyền Man (cũng có tài liệu chép 8 nhóm Man là Thiên Trúc, Khái Thủ, Tiêu Nghiêu,

Bí Chủng, Quán Hung, Đam Nhĩ, Cẩu Chỉ, Bàng Xuân1)

Hai là, hoàn thiện hệ thống tổ chức các đô hộ phủ của nhà Đường

Sự xuất hiện của đô hộ phủ là do nhu cầu phát triển khách quan của mối quan hệ giữa nhà Đường với các dân tộc vùng biên cương thời kì sơ Đường Bắt đầu từ đời Đường Thái Tông (626 – 649), nhà Đường lần lượt thu phục được các bộ tộc Đột Quyết (Turk, người Tuốc hay Tuyếc), Thiết Lặc, Đột Dục Hồn, Tiết Diên Đà, nhiều bộ tộc khác cũng xin phụ thuộc Vấn đề đặt ra cho nhà Đường lúc bấy giờ là phải đưa ra một phương thức giải quyết khéo léo, hữu hiệu, tránh xảy ra mâu thuẫn giữa các dân tộc với triều đình và giữa các bộ tộc với nhau Nếu để sự việc đó xảy ra, nó sẽ làm cho biên cương không luôn bất ổn, ảnh hưởng trực tiếp đến nền thống trị vừa được củng cố và đang trên giai đoạn phát triển của nhà Đường Lúc này, giữa triều đình nhà Đường với các bộ tộc là quan hệ hữu hảo, tính kỳ thị dân tộc, vị chủng chưa xuất hiện trong triều đình bởi như đã nói, thời

sơ Đường, giới quý tộc thống trị nhà Đường vẫn còn dòng máu hỗn huyết Hán – Hồ Chính vì vậy, nhà Đường quyết định mở rộng kinh nghiệm quản lý trong nội địa ra vùng biên cương Triều đình cho đặt các châu, huyện tại vùng dân tộc ở biên cương, cho các thủ lĩnh quản lý chính bộ tộc của họ Để có thể kiểm soát, khống chế các châu, huyện

ở đây, nhà Đường phỏng theo mẫu hình Tây Vực đô hộ phủ được lập ra từ thời Hán để thiết lập lần lượt các bộ máy đô hộ phủ Đô hộ phủ được lập ra trong thời kì đầu nhà Đường nhằm tăng cường sự thống trị của chính quyền trung ương đối với địa phương

Đó là một biện pháp quan trọng để xử lý hiệu quả mối quan hệ dân tộc Nó cũng chính là một trong các nguyên nhân của chính sự trong sạch, kinh tế phồn thịnh buổi sơ Đường2

1

Dương Tuấn Anh (2010), “Bàn về chữ Man người Trung Quốc dùng gọi tên người Việt”, Nghiên cứu Trung Quốc

số 06 (106), tr 85

2

Nguyễn Hữu Tâm (2013), “Bối cảnh, nguyên nhân nổ ra cuộc khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo

năm 713”, Nghiên cứu Lịch sử số 4 (444), tr 43

Trang 34

Từ điển lịch sử chính trị Trung Quốc cũng khẳng định: “thiết lập phủ, châu, huyện ràng buộc các vùng dân tộc thiểu số, do tù trưởng các dân tộc thiểu số đảm nhiệm chức quan phụ trách hành chính địa phương, ban cho quyền tự trị khá lớn, bên trên lập phủ

Đô hộ để quản lý, có lợi cho việc yên ổn, đoàn kết và thống nhất” Việc thiết lập An Nam

đô hộ phủ cũng nhằm mục đích chung là: giải quyết ổn thoả mối quan hệ giữa triều đình nhà Đường với các dân tộc ở biên cương phía nam Đặc biệt với An Nam, mối quan hệ này không phải mới được thiết lập mà đã có lịch sử lâu dài, gắn kết từ trước đó qua các triều nhà Tần, Lưỡng Hán, Tam quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều đến Tuỳ

Ba là, đề phòng sự xâm lấn, quấy phá và nguy cơ đe doạ của các nước Nam Chiếu,

Lâm Ấp (Hoàn Vương) và Chà Và

Cũng như các phủ đô hộ khác được lập ra nhằm để chống lại sự quấy nhiễu cùng với nguy cơ đe doạ (trực tiếp hoặc tiềm tàng) như An Tây đô hộ phủ, Bắc Đình đô hộ phủ chống lại Thổ Phồn (quốc gia của tộc người Tây Khương, tổ tiên của người Tạng, sống ở Thanh Hải và cao nguyên Khang Tạng)1, An Bắc đô hộ phủ, Thiền Vu đô hộ phủ chống Đột Quyết, Bột Hải (Parhae, quốc gia của tộc người Mạt Hạt) sau đó là Khiết Đan, phủ

đô hộ An Nam cũng phải đối phó với sự đe doạ của các thế lực ở biên cương phía nam nhà Đường như Nam Chiếu, Lâm Ấp (sau đổi gọi là Hoàn Vương) và Chà Và Vào thời

sơ Đường, các thế lực này vẫn còn yếu, chưa đủ mạnh để có thể trở thành mối đe doạ lớn đối với nền thống trị của nhà Đường ở An Nam Tuy nhiên, từ thời trung Đường trở đi, các thế lực này trở nên lớn mạnh, thường xuyên xâm lấn, cướp phá An Nam đô hộ phủ Trong số đó, Nam Chiếu là quốc gia của người Bạch (tức tổ tiên của người Thái ở tỉnh Vân Nam hiện nay) được lập ra từ thế kỉ VIII Ngay từ thời sơ Đường, thế lực của

họ đã ngày một phát triển, có sự liên hệ với cư dân đồng tộc (Lão, Thoán) ở miền tây bắc

An Nam Địa bàn cơ bản của Nam Chiếu, về đại thể phía đông giáp châu Thoán, phía đông nam giáp Giao Chỉ, tây giáp với Magadha (miền sông Hằng, Ấn Độ), tây bắc giáp Thổ Phồn, nam giáp nước Nữ vương, tây nam giáp nước Phiếu (Diến Điện, Myanmar), bắc giáp châu Ích (tây bắc Vân Nam), đông bắc giáp châu Kiềm (huyện Bành Thuỷ, tỉnh

Tứ Xuyên) Đó là địa bàn của Mông Xá chiếu, một trong 6 chiếu (bộ lạc) lớn hồi đó Do Mông Xá chiếu nằm ở phía nam nên gọi là Nam Chiếu2

Trang 35

Còn nước Lâm Ấp tuy thần phục nhà Đường nhưng cũng tìm cách chiếm lại ba châu trên đất Nhật Nam và phát triển xâm lược ra các châu Hoan, Ái Ngay từ thời sơ Đường, Trung Quốc chỉ kiểm soát được đất đai ở phía nam dãy Hoành Sơn một cách lỏng lẻo và giữ được các châu ở đây cũng không được lâu Đất đai ở đây đã nhanh chóng rơi vào tay

Lâm Ấp (Hoàn Vương - từ thế kỉ VIII) Theo ghi chép của Cựu Đường thư, biên giới của

Lâm Ấp đã giáp với Hoan châu của An Nam Trong lúc đó, ở Chà Và (Trảo Oa, tức Java)

đã xuất hiện một vương triều mới, hùng mạnh là Çailendra (“nhà vua xứ núi”) Họ được gọi là những người Chöp’o (Java = Chà Và) và K’ouen Louen (Côn Lôn, chỉ chung các hải đảo phương nam) với mưu toan đặt chân lên bán đảo Đông Dương1

b) Điều kiện thiết lập bộ máy An Nam đô hộ phủ

Việc thiết lập An Nam đô hộ phủ của nhà Đường nửa sau thế kỉ VII chính là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, hội đủ những điều kiện, tiền đề cả về phía nhà Đường (là chủ thể áp đặt sự thống trị) lẫn phía An Nam (là khách thể chịu sự thống trị)

Về phía nhà Đường

- Điều kiện kinh tế

Nhờ áp dụng chính sách hữu hiệu, nhà Đường có một nền kinh tế phát triển toàn diện

Trong nông nghiệp, một năm làm được hai vụ mùa, theo Tề dân yếu thuật, đương thời có

51 loại rau Chăn nuôi gia súc cũng phát triển Đường hội yếu, quyển 66 cho biết bấy giờ

có 605.603 con gia súc, trong đó ngựa chiếm quá nửa (125.792 con) Thương nghiệp thời Đường rất phồn vinh, bao gồm mậu dịch trong nước và ngoài nước Trong toàn quốc, từ cấp huyện trở lên đều có chợ Kinh đô Trường An là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước Hai chợ Đông, Tây của Trường An mỗi nơi có 220 hàng hội, Lạc Dương có 120 hàng hội Thị trường hoạt động với thời gian quy định, giữa trưa đánh 300 tiếng trống thì bắt đầu buôn bán, trước khi mặt trời lặn 3 khắc (một ngày một đêm là 100 khắc) lại đánh 300 tiếng trống thì ngừng việc mua bán Các thành thị lớn đều có đường giao thông liên lạc nối liền nhau, gồm đường bộ, đường thuỷ và đường trạm ngựa Cứ 30 dặm có một trạm, tạo thành hệ thống liên lạc trên khắp toàn quốc, lấy kinh đô Trường An làm trung tâm Nhà Đường có một hệ thống 1463 dịch trạm phủ dày đặc khắp cả nước, trong đó có 1297 trạm đường bộ và 166 trạm đường thuỷ2

1

G.E Coedes (2011), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hoá ở Viễn Đông, Nxb Thế giới, tr 166, 170

2

Nguyễn Tiến Lực (2013), “Khiển Đường sứ (Kentoshi) & việc tiếp nhận văn minh Trung Hoa”, Nhật Bản những

bài học từ lịch sử, Nxb Thông tin và Truyền thông, tr 32

Trang 36

Thương nhân thời Đường thường đi lại buôn bán bằng đường biển với các nước Arab,

Ba Tư, Ấn Độ, Indonesia…Thuyền biển của Trung Quốc rất lớn, dài hơn 20 trượng, đóng chắc chắn, đi lại trên biển đảm bảo được an toàn Những thuyền buôn của Arab và

Ba Tư cũng thường qua lại buôn bán ở vùng biển Đông, chở tới hương liệu, cây thuốc và châu báu Những đội lái buôn của Tây Vực dùng lạc đà và ngựa chở hàng (ngọc, lông thú, chăn bông) vượt sa mạc đến buôn bán ở các thành thị vùng biên giới của Trung Quốc

Họ thường mua hàng tơ lụa, gương đồng, đồ sứ, sắt, chè chở về nước Các thành thị lớn thời Đường là Trường An, Lạc Dương, Dương Châu, Thành Đô và Quảng Châu đều có thương điếm của thương nhân nước ngoài1

Con đường tơ lụa trên bộ, hình thành từ thời Tây Hán phát triển đến đỉnh cao dưới thời nhà Đường Đồng thời con đường tơ lụa trên biển (còn gọi là con đường gốm sứ, con đường gia vị - hương liệu) cũng hình thành, dần thay thế con đường tơ lụa trên bộ Vào thời Đường đã hình thành nên một mạng lưới thương mại xuyên lục địa có tầm vóc quốc tế, nối liền trung tâm nhà Đường với các nước xung quanh, trong đó có An Nam Tiềm lực kinh tế của nhà Đường thực sự rất lớn mạnh Chính nhờ vào đó mà nhà Đường

có thể thuận lợi thiết lập An Nam đô hộ phủ, biến vùng đất An Nam – nơi có cả những

ưu thế về đường bộ và đường thuỷ làm trạm trung chuyển trong mạng lưới thương mại của mình

- Điều kiện chính trị và tư tưởng

Thứ nhất,

Quan chế của nhà Đường đã đạt đến một trình độ hoàn bị Trong đó, quan chế ở các địa phương đóng một vai trò quan trọng đối với điều kiện để thiết lập An Nam đô hộ phủ, cũng như các phủ đô hộ khác Đặc biệt là ở cấp phủ, châu và huyện Phủ với châu, quận đều cùng một cấp nhưng thay đổi tên gọi để đề cao địa vị của nó Như đã nói, phủ thời Đường có ba loại: phủ kinh đô, phủ đô đốc và phủ đô hộ Đứng đầu phủ đô hộ là 1 viên

Đô hộ, giúp việc có các tham quân như Trưởng sử, Tư mã, Lục sự, Công tào, Thương tào,

Hộ tào, Binh tào, Pháp tào, Tham quân sự Còn châu với quận chẳng qua là hai tên gọi để chỉ cùng một cấp hành chính địa phương Vào thời Đường, đổi quận làm châu nên quan Thái thú đứng đầu quận cũng đổi làm Thứ sử Năm Trinh Quán thứ 23 (639), cả nước có

Trang 37

Căn cứ vào địa vị quan trọng hay không mà châu được chia làm 7 cấp với tiêu chuẩn phân chia khác nhau Đứng đầu châu là Thứ sử và một bộ máy giúp việc được biên chế rất chặt chẽ về tên gọi lẫn chức trách Đối với huyện cũng tương tự1

Thứ hai,

Vào thời Đường, hai công cụ cơ bản của nhà nước dùng để trấn áp là pháp luật và quân đội cũng đã được hoàn thiện Đây là một cơ sở quan trọng để nhà Đường lấy làm chỗ dựa cho bộ máy An Nam đô hộ phủ

Pháp luật thời Đường lấy luật làm hình thức căn bản, điển hình có bộ Vĩnh Huy luật (về sau có thêm sớ nghị, nên gọi là Vĩnh Huy luật sớ, có 12 thiên, 500 điều) Phụ vào đó còn có lệnh, cách, thức Sự phân biệt giữa chúng thì Đường lục điển và Hình pháp chí - Tân Đường thư giải thích không hoàn toàn giống nhau Về đại thể, luật là pháp điển về

hình pháp và tố tụng, lệnh là pháp quy về thể chế và chế độ cơ bản của nhà nước, cách là quy trình làm việc của cơ quan nhà nước, thức là trình thức công văn của nhà nước Ngoài ra còn có sắc, lệ, điển Sắc tức là chiếu sắc, lệ tức là lề phép xử án, điển tức là

Đường lục điển Đó là pháp lệnh đại toàn của quan chế trung ương và địa phương với

thiết chế, nhân viên, chức trách, phẩm vị và đãi ngộ thuộc về pháp điển hành chính Tuy

chưa được ban bố chính thức nhưng nội dung Đường lục điển là tập hợp các lệnh và thức

đương thời, có ý nghĩa quan trọng về mặt lập pháp2

Quân đội thời sơ Đường được tổ chức theo chế độ phủ binh (chế độ trưng binh trong nông dân dựa trên cơ sở của chế độ quân điền) Theo đó, nam giới từ 20 tuổi đến 60 tuổi đều có nghĩa vụ sung làm phủ binh, thời bình làm nghề nông, mùa đông huấn luyện và tuỳ theo sở trường, chia ra hai loại việt kị và bộ binh Lúc trưng phát thì tự lo vũ khí và lương thực, hoặc định kì đi thú giữ biên cương, hoặc luân phiên túc vệ kinh thành hoặc chống địch xâm phạm Do lúc bấy giờ, cương vực nhà Đường được mở rộng, cả nước có

10 đạo nên đặt 634 phủ binh, trong đó có 261 ở các đạo Quan nội, mục đích là “nội trọng, ngoại khinh” (nặng trong nhẹ ngoài) Phủ binh có 3 hạng: thượng phủ có 1200 người; trung phủ có 1000 người; hạ phủ có 800 người Tổ chức theo cơ cấu: 10 người biên chế thành 1 hoả, có Hoả trưởng, 50 người thành 1 đội, có Đội chánh, 300 người làm 1 đoàn,

có Hiệu uý Quan đứng đầu phủ binh gọi là Chiết xung đô uý

Trang 38

Ở thời chiến, triều đình cho trưng tập quân đội từ các phủ, hợp thành quân tác chiến

Căn cứ vào binh pháp chép trong Thông điển thì Đại tướng thống lĩnh 20.000 người, chia

làm 7 quân, trung quân có 4000 người, Tả ngu hầu, Hữu ngu hầu, mỗi đơn vị 2800 người,

Tả sương, Hữu sương, mỗi đơn vị 2600 người Mỗi quân có 70% là lính chiến và 30% lính quân nhu1

Nhờ thực hiện chế độ phủ binh mà nhà Đường đã có được một lực lượng quân đội rất

to lớn và có ưu thế hơn các quốc gia, bộ tộc láng giềng Hạt nhân quân đội thời sơ Đường vẫn là các tướng lĩnh quý tộc có truyền thống thượng võ, thiện chiến, có ảnh hưởng hoặc

có dòng dõi du mục Hoa Bắc Do vậy, nhà Đường đã có được những điều kiện thuận lợi

để thiết lập An Nam đô hộ phủ và xa hơn nữa là dùng công cụ có được để kiềm chế và trấn áp vùng đất này

có quy củ đã xuất hiện ngày một đông Họ đấu tranh chống lại chế độ tập ấm và nền thống trị của sĩ tộc để tiến bước vào quan trường Nho học cũng lan toả đến An Nam, dù chỉ mới bắt đầu ảnh hưởng ở tầng lớp trên trong xã hội nhưng nhờ vậy, nhà Đường cũng

đã có một chỗ dựa khá vững về tư tưởng chính trị - xã hội cho An Nam đô hộ phủ

- Điều kiện xã hội

Như đã trình bày, buổi đầu thành lập, tầng lớp thống trị trong triều đình nhà Đường vẫn là giới quý tộc có nguồn gốc du mục, hỗn huyết Hán – Hồ, chưa phải là giới quý tộc văn nhân Do đó, chủ trương bành trướng, mở rộng lãnh thổ và áp đặt sự chi phối đối với các vùng đất mới bình định được sự ủng hộ rất lớn từ giới quý tộc Việc thiết lập bộ máy phủ đô hộ ở An Nam cũng vậy Ngoài ra, vào lúc đầu khi chưa tạo lập được sự kiểm soát tuyệt đối ở An Nam, nhà Đường còn có một chỗ dựa khác là những thủ lĩnh cát cứ cuối thời Tuỳ đã hàng phục thời Đường như Khâu Hoà, Ninh Trường Chân, Cao Sĩ Liêm

Trang 39

Theo như ghi chép của Khâu Hoà truyện trong Cựu Đường thư (quyển 59) lẫn Tân Đường thư (quyển 90) thì Khâu Hoà là người Lạc Dương, trước làm quan nhà Bắc Chu

(557 – 581), sau theo nhà Tuỳ, làm quan ở 3 châu Tư, Lương, Bồ Khi nhà Tuỳ diệt vong (618), Khâu Hoà khi đó đang làm Thái thú Giao Châu đã theo Tiêu Tiễn - đang cát cứ và

tự xưng là Lương vương Đến năm 621 khi Tiêu Tiễn đầu hàng nhà Đường thì Khâu Hoà cũng hàng phục nhà Đường Nhà Đường vẫn cho Khâu Hoà giữ chức như cũ, phong tước Đàm quận công, làm Đại tổng quản Giao Châu Còn họ Ninh ở Uất Lâm trước kia theo

Tiêu Tiễn nay vẫn được làm quan Tân Đường thư chép: “Cao Tổ cho Trường Chân làm

đô đốc Khâm châu, lấy con là (Ninh) Tuyên là Thuần làm thứ sử Liêm châu, người họ là Đạo Minh, làm thứ sử châu Nam Việt” Còn Cao Sĩ Liêm trước làm chủ bạ ở Diễn Châu,

sau được Khâu Hoà cất nhắc lên làm Tư pháp thư tá Về sau, khi cùng Khâu Hoà ra hàng nhà Đường, Cao Sĩ Liêm đã được nhà Đường cho làm đến chức Hữu bộc xạ

Họ là chỗ dựa căn bản của nhà Đường khi tiến tới thiết lập phủ đô hộ ở An Nam Dần

về sau, khi thể chế chính trị nhà Đường đã quan liêu hoá, giới quý tộc văn nhân chiếm được ưu thế trong triều đình, việc tuyển chọn quan lại được thực hiện thông qua khoa cử thì nhà Đường bắt đầu dựa vào lực lượng này để củng cố cơ sở xã hội ở An Nam Lẽ đương nhiên, những lực lượng xã hội vốn có tính chất quần hùng cát cứ trên đây cũng bị thay thế

Về phía An Nam

- Điều kiện kinh tế

Trải qua thời Tam quốc và Nam – Bắc triều, chiến tranh và loạn lạc khiến cho kinh tế

An Nam bị đình trệ, lực lượng sản xuất suy kém Đến đầu thời thuộc Đường, để đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của giới quan lại thống trị, kinh tế An Nam đã được khôi phục và phát triển trở lại Do sự hưng thịnh của mậu dịch hàng hải thời Đường nên An Nam cũng

trở thành một đầu mối giao thương quan trọng Cựu Đường thư viết: “Giao Châu đô hộ khống chế các man Các nước ở Hải Nam đại để là ở phía nam và tây nam Giao Châu từ đời Hán Vũ Đế đến nay đến triều cống, đều do con đường Giao Chỉ” Đường giao thông

ở An Nam và đường giao thông nối liền An Nam với Trung Quốc và các nước phía nam cũng đã phát triển Ngoài đường biển nối liền Quảng Châu – Giao Châu với các nước ở Hải Nam, ở An Nam còn có đường ngựa trạm dùng để chuyển phát thư từ, truyền lệnh sắc chỉ của triều đình Trung Quốc sang Đặc biệt, An Nam còn có nhiều tuyến đường bộ quan trọng

Trang 40

Trong đó, con đường bộ dọc theo sông Hồng từng được nhắc đến trong lời tâu của

Mã Viện khi nam chinh đã trở thành đường hành quân của Lưu Phương nhà Tuỳ khi sang đàn áp Lý Phật Tử Đến đầu thời Đường, con đường này đã được khai thác trở lại Năm 638, đô đốc Giao Châu là Lý Đạo Ngạn đàn áp người Lão ở phía bắc Quý Châu chính là để duy trì con đường khai thông giữa An Nam, Quảng Tây, Vân Nam với thành

Trường An Con đường này được Giả Đam mô tả như sau: “từ An Nam đi qua Giao Chỉ, Thái Bình hơn 100 dặm thì đến Phong châu Lại đi qua Nam Điền 130 dặm đến huyện

Ân Lâu rồi đi đường thuỷ 40 dặm đến châu Trung Thành Lại đi 200 dặm đến Đa Lợi Lại đi 300 dặm đến châu Chu Quí Lại đi 400 dặm đến châu Đan Thường Đó đều là đất Sinh Lão Lại đi 450 dặm đến bến Cổ Dũng (Mạn Hảo), đường thuỷ cách An Nam 1550 dặm Lại đi 180 dặm qua núi Phù Động, núi Thiên Tỉnh Trên núi đường hẹp, đều là đất sụt lở, khó bước chân được Đi 30 dặm, sau 2 ngày đến châu Thang Tuyền lại đi 50 dặm đến châu Lộc Sách, lại đi 15 dặm đến châu Long Vũ (Lâm An) Đó đều là đất đai dân man Thoán trong cõi An Nam Lại đi 83 dặm đến Thảng Trì đồn, lại qua thành Bát Bình

80 dặm thì đến sông Động Thao Lại qua Nam Đình 160 dặm thì đến đất Khúc Giang của Kiếm Nam (đạo Kiếm Nam, bao gồm Tứ Xuyên, phần bắc và đông Vân Nam) Lại qua trấn Thông Hải 160 dặm qua Hải Hà, Lợi Thuỷ, đến huyện Giáng, lại đi 80 dặm đến trạm Tấn Ninh Đó là đất Nhung châu Sau 80 dặm đến thành Thác Đông (Côn Minh), sau 80 dặm nữa đến thành An Ninh (tây nam Côn Minh)”1

Còn từ An Nam đi vào các châu, quận có con đường đi dọc theo lưu vực sông Đáy, qua Tạc Khẩu (Thần Phù, Yên Mô, Ninh Bình) vào Cửu Chân Đời Tuỳ, Lưu Phương

sau khi đàn áp Lý Phật Tử tiến đánh Lâm Ấp đã đi theo con đường “qua sông Đồ Lê đi

30 dặm sang sông Gianh đến thành Khu Túc tiến đến sông Đại Duyên (Nhật Lệ) Đi qua cột đồng của Mã Viện, về phía nam 8 ngày đến quốc đô Lâm Ấp (Trà Kiệu, Quảng Nam” Con đường này vào thời Đường, được Giả Đam mô tả như sau: “từ Hoan châu đi về đông 2 ngày đến huyện An Viễn châu Đường Lâm (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), đi về nam qua sông Cổ La (sông Ròn) 2 ngày thì đến sông Đàn Động (sông Gianh) của Hoàn Vương”2

1

Trinh Nguyên thập đạo lục, Tân Đường thư, quyển 43 hạ, tờ 17b Paul Pelliot (1904), “Itinéraire par voie de terre”,

Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIème siècle, Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient Tome 4,

pp 364-371

2

Tân Đường thư, quyển 43 hạ, tờ 18a Henri Maspéro (1918), “IV: La frontière de l’Annam et du Cambodge du

VIIIe au XIVe siècle”, Etudes d’histoire d’Annam, Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient Tome 18, pp 30

Ngày đăng: 24/06/2021, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Đức An - Phạm Hồng Việt (1978), Lịch sử thế giới trung đại: quyển 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại: quyển 1
Tác giả: Đặng Đức An - Phạm Hồng Việt
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1978
2. Đào Duy Anh (1992), Hán - Việt từ điển giản yếu (thượng, hạ), Nxb. Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt từ điển giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp
Năm: 1992
3. Đào Duy Anh (1995), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Thuận Hoá
Năm: 1995
4. Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
5. Nguyễn Anh Dũng (1982), Về chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử, Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Nxb. Thông tin Lý luận
Năm: 1982
6. Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1993
7. Phan Ngọc Liên (cb, 2009), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
8. Nguyễn Tiến Lực (2013), “Khiển Đường sứ (Kentoshi) & việc tiếp nhận văn minh Trung Hoa”, Nhật Bản những bài học từ lịch sử, Nxb. Thông tin và Truy ền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khiển Đường sứ (Kentoshi) & việc tiếp nhận văn minh Trung Hoa”, "Nhật Bản những bài học từ lịch sử
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: Nxb. Thông tin và Truyền thông
Năm: 2013
9. Nguyễn Minh Mẫn - Hoàng Văn Việt (2007), Con đường tơ lụa: quá khứ và tương lai, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tơ lụa: quá khứ và tương lai
Tác giả: Nguyễn Minh Mẫn - Hoàng Văn Việt
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
10. Đỗ Văn Ninh (2002), Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chức quan Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2002
11. Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý (2009), Lịch sử Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2009
12. Lê Tắc (2009), An Nam chí lược, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Nam chí lược
Tác giả: Lê Tắc
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2009
13. Nguyễn Khắc Thuần (2005), Các đời đế vương Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đời đế vương Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
14. Nguyễn Việt (2010), Hà Nội thời tiền Thăng Long, Nxb. Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội thời tiền Thăng Long
Tác giả: Nguyễn Việt
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2010
15. Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: tập 1
Tác giả: Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1960
16. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử quân sự Việt Nam tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân sự Việt Nam tập 2
Tác giả: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
18. Viện Sử học (2006), Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thuỷ đến năm 1858, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.b) Tiếng Việt (bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thuỷ đến năm 1858", Nxb. Giáo dục, Hà Nội
Tác giả: Viện Sử học
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
19. Ngô Vinh Chính (chủ biên, 2004), Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
20. Đàm Gia Kiện và các tác giả (1993), Lịch sử văn hoá Trung Quốc, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện và các tác giả
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w