T. K. Nielsen (May 04): Water user associations
Để xác lập một nền quản lý về tài nguyên nước có sự tham gia của các địa phương, các ngành và của công chúng cần xây dựng một cơ chế công khai và dân chủ xuyên suốt quá trình lập quy hoạch lưu vực sông, phân bổ tài nguyên nước, cấp phép về nước, đồng thời xây dựng những hình thức tổ chức cần thiết, tạo cơ hội để các tổ chức này được tham gia vào những hoạt động liên quan đến quyền về nước. Một số khâu quan trọng tạo điều kiện để việc quản lý tài nguyên nước có sự tham gia của các bên:
- Quy hoạch lưu vực sông và các dự án quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch tài nguyên nước ở địa phương cần được thông báo cho các đối tượng có liên quan biết để có được những ý kiến đóng góp cho việc lập quy hoạch, thực hiện quy hoạch, rà soát, bổ sung, sửa đổi quy hoạch.
- Việc phân bổ nước, các ngành, các địa phương phải có sự bàn bạc, trao đổi cần thiết nhằm đi đến thống nhất về cơ bản các phương án chia xẻ nước lưu vực sông. Đây là một khâu quan trọng để cơ quan quản lý tài nguyên nước có thể đi đến quyết định đưa ra phương án chọn trong việc phân bổ nguồn ước. Đồng thời đây cũng là một trọng trách mà cơ quan quản lý nhà nước
ội đồng tài nguyên nước quốc gia VNMC: Ủy ban sông Mêkông Việt Nam
CLD RBO: Tổ chức lưu vực sông đồng bằng sông Cửu Long
SIWRP: Phân viện quy hoạch thuỷ lợi
tài chính để đứng ra chủ trì tổ chức thực hiện, có sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương liên quan. Trong những trường hợp khó đi tới thống nhất chọn phương án thì phải có ý kiến của Chính phủ thông qua ý kiến tư vấn của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước.
- Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước có vai trò, vị trí quan trọng trong việc tham gia phối hợp giữa các cơ quan trung ương tham gia quản lý tài nguyên nước, tư vấn cho Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Qua thực tiễn hoạt động trong những năm qua, Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước của Việt Nam đã tư vấn cho Chính phủ theo quy định của pháp luật và vai trò tư vấn chủ động đã tạo ra những đóng góp tích cực của Hội đồng đối với quản lý tài nguyên nước của Chính phủ.
- Việc thành lập các cơ quan lưu vực sông: Để quản lý tài nguyên nước sát hợp với đặc thù các lưu vực sông, bảo đảm tính hệ thống của tài nguyên nước không bị quản lý chia cắt theo địa giới hành chính, tiếng nói của cơ quan lưu vực sông là rất quan trọng. Cơ quan lưu vực sông được thành lập là trung tâm phối hợp để bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước giữa các địa phương thuộc lưu vực sông, là cầu nối giữa các cơ quan quản lý nước Trung ương tới cơ sở. Hình thái của cơ quan lưu vực sông có thể như một uỷ ban lưu vực sông. Tuy nhiên, tổ chức của từng uỷ ban lưu vực sông phải tuỳ thuộc vào những nội dung cụ thể của quản lý tài nguyên nước mà từng lĩnh vực đang đặt ra.
- Ở cấp tỉnh, vai trò tham mưu cho uỷ ban nhân dân trong các quyết định quan trọng về tài nguyên nước của tỉnh đang là vấn đề cần đặt ra. ở mỗi tỉnh hầu hết đều có cơ quan giúp việc cho uỷ ban nhân dân trong việc quản lý tài nguyên và môi trường. Song trong lĩnh vực tài nguyên nước, bộ phận giúp việc cho Sở Tài nguyên và Môi trường qua đó giúp việc cho uỷ ban nhân dân tỉnh còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ, khai thác, phát triển tài nguyên nước. Do vậy ngoài việc tăng cường năng lực cho bộ phận quản lý tài nguyên nước ở địa phương, cần sử dụng một hình thức tổ chức mang tính tư vấn về tài nguyên nước để tư vấn cho UBND trong các quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc địa bàn tỉnh. Hình thái tổ chức này được thành lập và đi vào hoạt động thì đó sẽ là tham gia hữu ích của các bên vào trong quản lý tài nguyên nước.
Vai trò của địa phương trong tham gia quản lý nước cần được thực hiện trong một cơ chế: khi có đơn xin lấy nước mới tại địa phương thì phải được sự đồng thuận của địa phương. Đương nhiên đây không phải là một cấp để cấp phép mới ngoài cấp có thẩm quyền theo pháp luật quy định mà sự đồng thuận của chính quyền cơ sở, nơi có nhu cầu mới về lấy nước phải có quyền trong việc quản lý tài nguyên nước ở địa phương, giúp cấp có thẩm quyền cấp phép có những quyết định cần thiết và sát thực trong việc cấp phép của mình (John Cantor 2003).
1.7.2 Các nhóm dùng nước
Trường hợp cấp nước sinh hoạt: Thường những người dùng nước là những người mua nước thụ động của sự cung cấp, và có ít sự ảnh hưởng đến các dịch vụ cấp nước.
Công nghiệp phải phụ thuộc vào sự cung cấp nước của họ và muốn làm chủ vận hành của họ cấp nước của họ, sự lựa chọn đang mở.
Trường hợp cấp nước tưới, tồn tại các phương thức khác nhau có thể người sử dụng làm chủ hệ thống tưới hoặc chính phủ làm chủ hệ thống hoặc có hệ thống tưới một phần do của công cộng một phần do người dùng nước làm chủ. Ví dụ, chính phủ làm chủ và vận hành các công trình đầu mối, trong khi người dùng nước làm chủ và vận hành hệ thống phân phối nước. Các khía cạnh từ trường hợp này đến trường hợp khác chỉ ra sự thích hợp hơn liên quan đến người làm chủ và kiểm soát vận hành và bảo dưỡng.
* Sự thích hợp về văn hoá và chính trị nói chung liên quan đến vai trò của nhà nước và tư nhân.
* Nguồn nước sẵn có (thoả mãn nhu cầu)
* Phân phối nước (nguồn nước có hạn giữa sự cạnh tranh của những người dùng nước)
(1) Trong một hệ thống tưới, (2) giữa hệ thống tưới và những người nông dân ở xung quanh hệ thống tưới, (3) với các hệ thống tưới khác nhau và (4) với các nước khác
* Cần thiết chia sẻ nước (cửa nguồn nước có hạn giữa sự cạnh tranh của những hộ dùng nước)
* Tạo ra thu nhập (cấp nông thôn tương đương với quốc gia)
* Liệu tạo ra thu nhập công cộng hay trợ cấp, hay thích hợp hơn là một nguyên tắc người dùng nước phải trả.
* Qui mô của hệ thống tưới
* Sự phức tạp của vận hành và bảo dưỡng (kỹ thuật và quản lý) phụ thuộc về loại sơ đồ hệ thống tưới, hoặc địa hình bằng phẳng hay không bằng phẳng.
* Năng lực và kinh nghiệm quản lý và các hộ dùng nước.
* Người chủ đất (1) Liệu nhiều hay ít người chủ đất chia sẻ 1 phần hệ thống (2) liệu diện tích đất bằng nhau hay lẫn lộn loại to và bé và (3) đất sở hữu hay đất đi thuê được canh tác.
Những tiêu chuẩn này là hỏi chung chung. Sự thích hợp và ứng dụng của chúng phụ thuộc vào từng trường hợp. Một tiêu chuẩn có thể chỉ ra ở 1 hệ thống tư nhân trong một
có ở Việt Nam (Das Gupta etal (Nov 2003)) Quản lý các hệ thống tưới được chia ra giữa chính phủ, công ty QLKTCTTT và các tổ chức cơ sở. Công ty KTCTTL quản lý các công trình đầu mối, các kênh chính và kênh cấp, còn các kênh thứ cấp khác của hệ thống kênh lớn và hệ thống kênh nhỏ thì chịu sự quản lý của các cơ quan địa phương như là quản lý hành chính xã hoặc HTX nông nghiệp. ở cấp Quốc gia một Bộ mới được thành lập năm 1995. Bộ Thuỷ lợi trước đây, Bộ NN và công nghiệp thực phẩm và Bộ Lâm nghiệp nhập lại thành Bộ NN&PTNT (MARD). Cục quản lý nước và CTTL nằm trong Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm qui hoạch thiết kế, xây dựng và đầu tư các dự án lớn đến cấp 150ha.
Toàn bộ bao gồm 4 cấp quản lý đó là cơ quan TW, chính quyền cấp tỉnh , huyện và cấp xã.
Ở cấp tỉnh Uỷ ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ quản lý các hệ thống tưới tiêu, qui hoạch và quản lý các dự án nhỏ hơn. Mỗi tỉnh có 1 Sở NN&PTNT, vận hành theo tài chính của tỉnhvà quản lý hành chính, nhưng kỹ thuật thì liên kết với Bộ NN&PTNT. Hầu hết các Sở NN&PTNT giám sát 1 số các công ty phát triển và quản lý tài nguyên nước cho uỷ ban nhân dân tỉnh. Công ty khai thác công trình thuỷ lợi ở tỉnh thì quản lý các hệ thống tưới dưới sự giám sát của uỷ ban nhân dân tỉnh thông qua Sở NN&PTNT. Chúng có nhiệm vụ vận hành và quản lý các công trình đầu mối, các kênh tưới tiêu chính, cống và kênh cấp 2. Dưới công ty KTCTTL là các trạm tưới của các huyện có nhiệm vụ ký hợp đồng thay mặt công ty KTCTTL với các HTX nông dân hoặc các nhóm cấp xã (đội thuỷ lợi) về cấp nước và trả thuỷ lợi phí. Các trạm tưới có trách nhiệm phân phối nước đến cho người nông dân. Các nhân viên của trạm trực tiếp thu thuỷ lợi phí từ các xã hoặc HTX để trả cho các trạm tưới cấp huyện.
Chính phủ Việt Nam bắt đầu chương trình chuyển giao quản lý tưới của các hệ thống nhỏ đến cho các tổ chức cơ sở từ 1990. Các hệ thống nhỏ có thể độc lập với các kênh thứ cấp trong 1 hệ thống tưới lớn. Tuy nhiên chuyển giao quản lý tưới được thực hiện chỉ hạn chế trong hệ thống của cả nước. Nói chung trong mỗi xã (gồm 1 số làng) có HTX nông nghiệp, có trách nhiệm về các hoạt động tưới tiêu và các hoạt động liên quan đến nông nghiệp. Ban quản lý tưới (IMB) được bầu ra do những người nông dân, thi hành tất cả các chức năng qui hoạch và quản lý. Hợp tác xã trực tiếp ký hợp đồng với trạm tưới của huyện ưu tiên cấp nước cho mỗi vụ cây trồng và thu thuỷ lợi phí từ người nông dân để trả cho trạm tưới huyện sau khi thu hoạch. Cơ chế này đã được thực hiện ở tỉnh Tuyên Quang. Trong các trường hợp khác, quản lý tưới do uỷ ban nhân dân xã gồm quản lý các tổ chức của xã mà bao gồm cả kênh trong vùng, kênh trong hệ
thống lớn và các kênh nhỏ nằm trong xã hoặc liên xã. Uỷ ban nhân dân xã phân công các nhân viên có trách nhhiệm quản lý các hệ thống tưới trong xã.
Các ví dụ ở các nước Đông Nam Á khác nhau:
Thuỷ lợi phí (VD trồng lúa) Cămphuchia
Komping Puoy, tỉnh Bâttmbang tháng 4 năm 2003
Năng suất: hơn 3T/ha/1 vụ 10 USD hoặc 150kg thóc
2-3T/ha/1 vụ 7.5 USD hoặc 112 kg thóc
nhỏ hơn 2T/ha/1 vụ 5 USD hoặc 75 kg thóc ở một số nơi không phải trả thuỷ lợi phí.
Tang Knangang tỉnh (tháng 12/2003)
Nơi tưới tự chảy 1.6-3 T/ha/vụ 5 USD hoặc 75 kg thóc
Nơi cần bơm nước 3.75 USD hoặc 56 kg thóc
Prek Prasap tỉnh Prey Veng (ở fendal 2000 trang 257) 30 – 50 kg thóc Lào
Tỉnh tháng 5/2002
Mùa mưa 50 kg thóc
Mùa khô 100 kg thóc
Thái Lan 2000
Cơ quan tưới của Hoàng Gia có thể trả phí nước cho người dùng nước, nhưng đã cố tránh không trả nữa.
Các hộ dùng nước của người nông dân thu phí nước để chi trả cho việc vận hành và bảo dưỡng hệ thống tưới.
Việt Nam
Ở Pe Luông, tỉnh Lai Châu (tháng 6/2002) 160 kg thóc 3 hệ thống tưới ở tỉnh Tuyên Quang: 12 – 13 T/ha/năm 749 kg thóc 3 hệ thống tưới ở tỉnh Thái Nguyên: 7 – 9 T/ha/năm 120 kg thóc (Das Gupta et. Al. 2003)