Phí, thuế và trợ cấp

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 70 - 74)

Chương 2 KINH TẾ CẤP NƯỚC CÔNG CỘNG

2.6 Phí, thuế và trợ cấp

Theo luật, thuế (bao gồm thuế đầu vào và thuế đầu ra) là khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước và có thể hỗ trợ để điều tiết sử dụng nước và dịch vụ nước. Bên cạnh các loại thuế nói chung như: thuế sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập của xí nghiệp… các dịch vụ nước còn phải chịu một số loại thuế khác như: thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường.

Thuế tài nguyên nhằm huy động và điều chỉnh các khoản thu nhập từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ môi trường.

Pháp lệnh về thuế tài nguyên (ban hành năm 1990 và sửa đổi năm 1998) đã qui định rằng: “Tất cả các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước đều phải đóng thuế tài nguyên”. Trong thực tế, chỉ có việc sản xuất thuỷ điện cho hệ thống quốc gia là đóng thuế này với tỉ lệ 2% dựa trên sản lượng điện sản xuất ra như một hàng hoá thương mại.

Thuế bảo vệ môi trường là khoản phải trả cho nguồn nước thải công nghiệp mà các chất gây ô nhiễm trong đó vượt quá tiêu chuẩn. Trong năm nay, MOSTE đã đề xuất những điều khoản đối với loại thuế này, nhưng tỉ lệ thuế vẫn ở mức thấp:

100 – 300 đồng/kg cho BOD, COD và TSS. Các tỉ lệ 1/15, 1/10 đã được áp dụng cho các vùng và cho toàn thế giới. Chính phủ đã phê chuẩn và uỷ quyền cho Bộ tài chính có những quan tâm sâu hơn về vấn đề này.

Nguyên tắc xác định giá của tổng chi phí có nghĩa phí nước có thể bù đắp đầy đủ những phí tổn trong việc khấu hao, vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa cơ sở hạ tầng, cũng như việc thanh toán các loại thuế khác và thanh toán các chi phí vượt trội. Những nguyên tắc này mới chỉ được áp dụng ở các nước phát triển, hầu hết các nước còn lại áp dụng hinh thức xác định giá hỗn hợp, một phần là chi phí được hoàn lại bằng phí thu được từ người sử dụng và một phần là trợ cấp của Nhà nước. Nguyên nhân của việc định giá này là:

- Nước là rất cần thiết cho sinh hoạt, thương mại và sản xuất

- Giá nước không thể vượt quá khả năng chi trả của công cộng nói chung và của các công ty trung bình nhỏ.

Ở Việt Nam vẫn chưa có những chính sách rõ ràng và nhất quán về giá nước.

Thực tế, tất cả các dịch vụ nước đều được trả dưới hình thức hỗn hợp, và phí nước là vừa phải có mức độ.

Những vấn đề sau đây liên quan đến phí nước, biểu thuế và trợ cấp:

• Một biểu thuế tạo ra thu nhập công cộng, trong khi một sự trợ cấp là một chi phí của công cộng

• Tổng chi phí của nước cần cấp được bao bọc bằng cách hoặc bởi người sử dụng hoặc bởi một người nào khác

• Nếu lợi ích cấp nước không tự đảm bảo, sẽ có sự rủi ro mà bảo dưỡng bị đánh giá thấp, nó có thể tăng chi phí bảo dưỡng (nếu sữa chữa nhỏ đúng thời gian thì có thể ngăn ngừa sự cần thiết hoàn trả lại toàn bộ tiếp theo)

• Giá nước thấp có thể tăng lượng nước thải trong khi giá nước cao thì khuyến khích tiết kiệm và nâng cao hiẹu quả sử dụng.

• Trợ cấp nhiều có thể lợi cho người sử dụng với khối lượng lớn nhiều hơn là cho người sử dụng một lượng ít, cho nên có sự rủi ro của sự bóp méo xã hội ngược trở lại

Thuế nước / thuế xanh

Khi một biểu thuế được giới thiệu (hoặc, có thể, giai đoạn sau, tăng), mức tiêu thụ sẽ giảm xuống). Đây là hiện tượng thói quen của người tiêu dùng nói chung – Nó liên quan đến nhiều hàng hoá và dịch vụ - ví dụ như sửdụng điện thoại, điện, xe buýt, tàu hoả, taxi, dầu hoả, thuốc trừ sâu, phân bón, thuốc lá, bia và nước.

Biểu thuế về nước có một vài mục đích sau: tái hoàn vốn, và/hoặc tạo thu nhập; và hoặc điều chỉnh nhu cầu. Một biểu thuế có thể không đổi hoặc tăng dần. Nó có thể phân biệt giữa người sử dụng nước (sinh hoạt, công nghiệp…); các mùa khác nhau và hoặc các nhóm có thu nhập khác nhau.

Một biẻu thuế nhằm mục đích làm giảm mức tiêu thụ thì thỉnh thoảng còn gọi là thuế xanh. Loại thuế này đánh thuế để điều chỉnh mức tiêu thụ, sản xuất hoặc hành vi mà ảnh hưởng đến ô nhiễm hoặc sử dụng những tài nguyên hiếm. Mục đích của chúng nhằm làm cho sự phù hợp tốt hơn giữa:

• các chi phí hiện tại thực tế, tức thời, trực tiếp; và

• Tổng chi phí, chi phí xã hội dài hạn (bao gồm sực khoẻ công cộng, tác động môi trường và bảo tồn tài nguyên quan trọng)

Thuế xanh có thể phục phụ cho mục đích tài chính cũng như là chúng có thể là không rõ ràng về tài chính, nếu thu nhập từ thuế này được dùng cho trợ cấp của cùng ngành sử dụng.

Tác động của biểu thuế phụ thuộc vào độ co dãn của giá cả được chỉ ra ở hình dưới đây:

Đường cầu m3/năm

$/m3

Nhu cầu Có thuế Giá

Không thuế Giá có thuế

Phí nước/thuế xanh

Nhu cầu Không thuế

Trợ cấp

Ngược lại với lệ phí là trợ cấp. Sự trợ cấp được áp dụng khi các chi phí không được hoàn trả lại từ người tiêu dùng, nhưng được hoàn lại (một phần hoặc toàn bộ) từ một người nào đó – ví dự bởi những người nộp thuế khác - những chi phí có trong bất cứ trường hợp nào, dù được hoàn trả lại hay không. Trong khi lệ phí nói chung sẽ làm giảm mức tiêu thụ, một sự trợ cấp nhì chung sẽ làm tăng mức tiêu thụ.

Giống như lệ phí tác động của trợ cấp phụ thuộc vào độ co giãn của giá, được chỉ ra trong hình vẽ dưới đây:

Hiện nay, việc thu các thuế tưới nước và cấp nước không được thực hiện đầy đủ đang là một vấn đề đáng lo ngại. Trong việc cấp nước thành phố, tổng số thất thoát về thuế theo ước tính vào khoảng 50%.

Việc thu phí thoát nước cùng với thuế cung cấp nước có thể gây khó khăn cho những vùng hiện chưa có hệ thống dẫn nước. Tuy nhiên, chúng ta có thể miễn khoản phí thoát nước cho những khu vực này. Việc thu phí này một cách riêng biệt có thể gây nhiều trở ngại cho nhân viên thu thuế do những phí tổn và chi phí tăng thêm.

Việc thu phí nước có thể được cải thiện nếu được uỷ quyền ở hai mức: mức Nhà nước quản lý các công việc lớn, các kênh đào chính, các thiết bị quan trọng và các tổ chức nông dân tự quản (Các hợp tác xã sử dụng nước có trách nhiệm

Đường cầu m3/năm

$/m3

Cầu có bao cấp Giá

Không Bao cấp

Giá có Bao cấp

Bao cấp

Cầu không có bao cấp

đối với chi phí O&M của việc thay đổi cấu trúc, họ thu các khoản phí tưới nước theo hợp đồng kí giữa hợp tác xã và các ngành quản lý cấp cao).

Cần phải có những chính sách rõ ràng cho việc sử dụng các khoản thuế thu được. Tiền phải được các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng một cách hợp lý.

Nhưng hiện nay có rất nhiều hợp tác xã nông nghiệp và các uỷ ban xã sử dụng khoản phí thu được vào những mục đích khác. Khoản nợ tích luỹ của phí dành cho việc tưới nước lên đến 230 tỉ đồng. Phí thoát nước thường được chuyển qua ngân sách Nhà nước mà không trực tiếp chuyển đến các xí nghiệp thoát nước. Điều này sẽ không nâng cao tinh thần trách nhiệm của các xí nghiệp này đối với khách hàng của họ.

Thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường cần phải được tách biệt thành những loại thuế khác nhau và đưa vào quĩ bảo vệ môi trường. Mặc dù quĩ này thuộc ngân sách Nhà nước, nhưng phương pháp này có thể góp phần vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc bảo vệ môi trường.

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 70 - 74)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)