TÀI NGUYÊN N ƯỚC CÔNG CỘNG
4.3 Thế nào là quản trị tốt
“Quản trị tốt” bao gồm sự minh bạch, trách nhiệm xã hội, nhận thức và tham gia. “Quản trị tốt” được nhìn nhận như là một cách tiến tới quản lý tài nguyên có hiệu quả và bền vững trong một cách tương tác tích cực với hiệu quả sản xuất quốc gia và khả năng cạnh tranh.
Dưới đây là một ví dụ một chiến lược “quản trị tốt” thực hiện ở Thái Lan - kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia (Thailand's 9th national economic and social development plan 2002-06).
Chiến lược cho quản trị tốt:
Mục tiêu:
1. Để thành lập chính phủ tốt trong tất cả các bộ phận của xã hội bao gồm ngành chính trị, chính phủ, ngành tư nhân, cộng đồng và gia đình, để phục vụ như là cơ sở để phát triển cân bằng và bền vững.
2. Để nâng cao hiệu quả trong việc phân phối dịch vụ nhà nước, dựa trên sự tham gia của con người, tối ưu tài nguyên, minh bạch, và thông tin để mở cho phép quản lý hành chính cơ sở đóng vai trò lớn hơn trong việc phát triển ở cơ sở.
3. Khuyến khích quá trình phân quyền bằng cách cho phép quản lý hành chính cơ sở đóng vai trò lớn hơn trong việc phát triển ở cơ sở.
4. Thiết lập sự giám sát và cân bằng trên cơ sở quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả các ngành trong xã hội.
Mục đích phát triển:
1. Để qui mô và cấu trúc ngành công cộng hợp lý, và tăng hiệu quả quản lý, như là do sự thoả mãn của người dân, và chi phí vận hành hợp lý
2. Để tăng năng lực và cơ hội của các tổ chức cơ sở để phát triển nguồn thu nhập độc lập. Các hệ thống phù hợp sẽ được thành lập để tăng hiệu quả và rõ ràng để thúc đẩy sự phân quyền của quyền lực hành chính.
3. Để có sự minh bạch trung thực hơn và các dịch vụ nhà nước có trách nhiệm vận hành thương mại tư nhân và ngành chính trị.
4. Để có một ngành thương mại cạnh tranh quốc tế cả ngắn hạn và dài hạn.
5. Để cung cấp cho con người toàn bộ thông tin nhà nước đúng thời gian . Phương pháp:
1. Cơ cấu lại hệ thống hành chính công cộng dựa trên một phương pháp quản trị tốt: cơ cấu lại hệ thống quản lý và điều chỉnh vai trò của hành chính công cộng, nâng cao quản lý hành chính công cộng để khuyến khích sự cạnh tranh tăng lên của thương mại tư nhân và nền kinh tế cơ sở.
2. Phân quyền chức năng và nhiệm vụ đến các tổ chức hành chính cấp cơ sở.
- Cơ cấu lại hệ thống tầm nhìn về chính quyền hành chính được phân quyền
- Nâng cao năng lực và hiệu quả của các cơ quan hành chính cơ sở - Thiết lập hệ thống hỗ trợ cho sự phân quyền lực
- Thiết lập một hệ thống thuế và chuyển giao liên chính phủ đến hành chính cơ sở.
3. Những cố gắng nghiêm túc để phòng chống và ngăn chặn tham nhũng
- Chỉnh sửa các luật lệ để hạn chế dùng các quyết sách tuỳ ý mình của các cán bộ nhà nước
- Hình thành kế hoạch hành động chống tham nhũng cụ thể
- Khuyến khích những sự chống đối của con người đối với tham nhũng.
4. Phát triển sự giám sát và chế độ cân bằng trong xã hội để tạo ra sự rõ ràng trong hệ thống chính trị
- Hỗ trợ sự hoạt động của các cơ quan độc lập được thành lập theo hiến pháp để chúng có thể đáp ứng những uỷ nhiệm của chúng và nhận được sự chấp nhận của công cộng
- Phục hồi lại các tiêu chuẩn đạo đức cao và làm việc theo đạo lý trong chính phủ và các cán bộ chính trị.
- Khuyến khích vai trò đại chúng trong giám sát thực hiện của các cán bộ chính trị và hành chính, và đưa ra sự công nhận công cộng để khen thưởng họ.
5. Khuyến khích “quản trị tốt” trong các ngành tư nhân
- Thành lập sự khuyến khích và khen thưởng để khích lệ trách nhiệm và sự minh bạch trong ngành thương mại
- Nâng cao và sửa đổi luật cho phù hợp và xử phạt kiên quyết - Tăng cường các tổ chức tiêu dùng
6. Uỷ quyền cho gia đình và cộng đồng
4.4 Thu nhập chi phí và hoàn trả lại chi phí
Quản lý bền vững đòi hỏi giữa những sự khác nhau bền vững về kinh tế. Mọi chi phí phải được hoàn trả lại bằng thu nhập trong bất cứ cách nào.
Điều này đòi hỏi sự nhận biết đến sự tạo ra thu nhập quốc dân chi phí và hoàn trả lại chi phí.
Chi phí- hiệu quả có thể được hỗ trợ bằng các biện pháp như sau:
- Mục tiêu quản lý rõ ràng
- Sự phối hợp liên cơ quan và trao đổi thông tin - Phân quyền năng lực
- Giám sát để đạt mục tiêu, sử dụng các chỉ tiêu, sử dụng các chỉ tiêu và chỉ số phù hợp
- Xử lý số liệu tự động và quản lý thông tin
- Liên tục hợp thành nâng cao kiến thức và phát triển kỹ năng ở tất cả các cấp Phân quyền và tham gia công cộng có thể có một số ưu điểm sau:
• Lợi ích của việc nhìn nhận ở cơ sở đặc biệt đến những sự lựa chọn, ràng buộc và các tác động từ các phía, do đó cung cấp một cơ sở quyết định trọn vẹn hơn (hay ở đây là quyết định tốt hơn
• Một phạm vi để giải quyết phù hợp riêng và những chiến lược đi theo điều kiện ở cơ sở và đáp lại những liên quan ở cơ sở.
• Những viễn cảnh tốt hơn để thực hiện và tuân thủ (do hiểu biết về giải pháp và chiến lược tốt hơn)
Phân quyền có thể đem đến một quá trình dần dần và cân bằng, xem xét những viễn cảnh sau:
• Sự cần thiết về bền vững và phối hợp quản lý
• Sự cần thiết của tổn quát quốc gia và nâng cao kiến thức
• Bao gồm những người tham gia (cả những hộ dùng nước, những người hưởng lợi khác và dân cư trong vùng chịu ảnh hưởng.
• Năng lực có hạn và chuyên gia có hạn làm chuyên môn ở các cấp cơ sở Hoàn trả chi phí có thể được nhận lại bằng các cách sau đây:
• Chuyển các chi phí từ công ty đến người hưởng lợi – Ví dụ hộ dùng nước sinh hoạt trả tiền cho hệ thống dẫn nước đến họ, hay hộ dùng nước tưới trả tiền để làm hệ thống kênh tưới trong vùng làm nông nghiệp của họ.
• Người hưởng lợi phải trả tiền cho những chi phí mà họ đang sử dụng (ví dụ:
lượng nước sử dụng hoặc để tìm ra những thất thoát nước)
• Những lệ phí cố định cho dịch vụ hỗn hợp - điển hình là phí nước cũng như có thể bao gồm cả phí nước thải.
Liên quan đến tạo ra thu nhập quốc dân và hoàn trả lại chi phí một sự phân biệt được làm ra:
• Thu nhập quốc dân đi trực tiếp đến người cấp nước (cấp nước hoặc hệ thống tưới), điển hình là phí nước.
• Thu nhập là thu nhập công cộng nói chung (điển hình là thuế nước hoặc thuế xanh).
Cả hai đều là giá trị đến xã hội (ở đây là vào công cộng nói chung) nhưng ở trong những cách khác nhau.
Liên quan đến thuế nước một sự cung cấp có thể được xem xét đến luật về thuế cho người dùng nước mà họ tự vận hành hệ thống cấp nước riêng của họ. Đây là trong trường hợp của các ngành công nghiệp, khách sạn, và những ngành khác, mà họ khai thác và xử lý nước ngầm (hoặc nước mặt) cho mục đích dùng nước của họ. Quan điểm nước mang lại lợi ích công cộng, nước là hàng hoá, và dùng nước phải trả tiền trong bất cứ cách nào - cũng như là phải trả tiền cho việc khai thác rừng hoặc dầu hay khí đốt tự nhiên.
4.5 Thuế và trợ cấp
Thuế và trợ cấp là công cụ tài chính hữu ích sẵn có đối với quản lý công cộng. Nếu áp dụng một cách cẩn thận và khôn khéo thì chúng có thể hỗ trợ cho các chính sách quản lý liên quan đến hiệu quả dùng nước, cạnh tranh, phúc lợi xã hội và cân bằng xã hội.
4.5.1 Thuế
Nước được cho là lợi ích (hàng hoá) cần thiết, là một đối tượng có tiềm năng đối với thuế.
Luật tài nguyên nước được đưa ra vào 20 tháng 5 năm 1998 (và có hiệu lực vào tháng 1 năm 1999). Luật đưa ra để quản lý bảo vệ khai thác sử dụng tài nguyên nước và để bảo vệ chống lại các tác động xấu của nước. Điều 1 của luật thành lập sự Sở hữu tài nguyên nước như sau:
1. Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
2. Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Luật đã cung cấp rõ sự hoàn trả lại chi phí liên quan đến cấp nước và xả thải. Tuy nhiên nó không rõ toàn bộ về khả năng đối với luật về thuế mới:
Điều 7.2 trong luật lưu ý về sự miễn thuế nước nhưng trong luật lại không có chỗ nào nói về thuế.
Điều 19 phần 2 lưu ý vê phí cho phép xả nước thải.
Điều 24 qui định rằng khai thác nước qui mô lớn đòi hỏi phải có giấy phép của nhà nước (nhưng không cho biết về trả tiền việc cho phép này).
Điều 25 phần 3 (và những qui định khai thác trong luật) cho thấy để hoàn trả chi phí thì liên quan đến việc dùng nước.
Trích luật tài nguyên nước:
Điều 7: Chính sách tài chính về tài nguyên nước
1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có nghĩa vụ tài chính và đóng góp công sức, kinh phí cho việc xây dựng công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
2. Nhà nước thực hiện chính sách miễn, giảm thuế tài nguyên nước, phí tài nguyên nước đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Điều 18. Xả nước thải vào nguồn nước
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng nước trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác nếu xả nước thải vào nguồn nước thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
……
Điều 19. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải
…
2. Tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nước có những nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện việc xử lý nước thải để đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước; nếu vi phạm những quy định về việc xả nước thải mà gây thiệt hại thì phải bồi thường;
b) Nộp lệ phí cấp phép, phí xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật.
Điều 24. Cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước
1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các trường hợp không phải xin phép:
a) Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sinh hoạt;
b) Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thủy điện và cho các mục đích khác;
c) Khai thác, sử dụng nguồn nước biển với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sản xuất muối và nuôi trồng hải sản;
d) Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt, nước biển trên đất đã được giao, được thuê theo quy định của pháp luật về đất đai, quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
đ) Các trường hợp khác do Chính phủ quy định.
Chính phủ quy định việc cấp phép và việc khai thác, sử dụng nguồn nước với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình nói tại Điều này.
Điều 25. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt
…
3. Tổ chức, cá nhân được cấp nước sinh hoạt, nước sạch có trách nhiệm tham gia đóng góp công sức, tài chính cho việc khai thác, xử lý nước sinh hoạt, nước sạch theo quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
4.5.2 Trợ cấp
Liên quan đến cung cấp các dịch vụ để phục vụ lợi ích (như là dịch vụ cung cấp nước và dịch vụ vệ sinh), một sự trợ cấp là khác giữa phí trung bình do người dùng trả và chi phí trung bình của việc cung cấp. Một sự trợ cấp có thể được dự định trong giá kinh tế, sử dụng những chi phí cung cấp về kinh tế, hoặc trong giá tài chính sử dụng chi phí tài chính về cung cấp.
Trợ cấp thường xảy ra liên quan đến cấp nước. Chúng có thể rõ ràng – nhà nước trả cho xây một hồ trữ nước mới vượt ra ngoài tài chính của chính phủ. hoặc chúng có thể không rõ ràng ví dụ chi phí đất mà hồ chứa chiếm thì không trả cho dự án hoặc nếu có thì không đáng kể.
Trợ cấp được áp dụng:
• Để cấp nước cho mọi người
• Để điều khiển các chi phí chung cho cuộc sống (và sự rủi ro của lạm phát)
• Để củng cố cuộc sông nông thôn trong các ngành nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
• Để nâng cao tính cạnh tranh của các hệ thống cấp nước phụ thuộc.
Mặt khác nó phải được ghi nhớ rằng trợ cấp không thay thế được chi phí, nó chuyển sang rất nhiều và thỉnh thoảng còn dấu kín.
• Lợi ích có thể được phân phối không đều, một sự trợ cấp có thể thỉnh thoảng giúp đỡ cho một số lớn người tiêu dùng (như là những người hưởng phúc lợi và công nghiệp lớn), trong đó chi phí phải được sinh ra bởi xã hội như là toàn bộ.
• Một sự trợ cấp có thể làm không rõ chi phí thực tế của nước và việc cấp nước, và có thể giảm sự nhận thức công cộng của những chi phí này.
• Một sự trợ cấp (và ở đây là một giá nước thấp không thật) có thể có xu hướng để tạo ra một sự ngăn sự lãng phí nước và hướng tới nâng cao hiệu quả cấp nước cũng như trong các hộ tư nhân.
Đánh giá:
Pham Sy Liem (2001) cho rằng hiện tại thực tế rằng sự thu phí nước tưới và cấp nước sinh hoạt không thể được thực hiện hoàn toàn là một vấn đề nghiêm trọng. Trong cấp nước đô thị, mặc dù nó khó tách được thuế nước không thu và tổn thất nước mà trước đây ước lượng khoảng 50%
Nếu phí nước được thu cùng với phí cấp nước thì sẽ tăng trong vùng nơi không có hệ thống tiêu thoát nước. Nhưng chúng ta có thể miễn thuế cho phí nước trong vùng đó.
Nó có thể thậm chí có nhiều vấn đề khó khăn nếu phí nước được thu riêng do có thất thoát nước và chi phí vượt quá cho các nhân viên đi thu.
Thu thuỷ lợi phí có thể được cải thiện nếu nó được giao cho 2 cấp: cấp nhà nước quản
chức của nông dân dùng nước (các hội dùng nước chịu trách nhiệm về vận hành và duy tu, họ thu thuỷ lợi phí theo hợp đồng ký giữa các hội dùng nước và cấp quản lý phía trên họ)
Làm rõ các chính sách về sử dụng các phí nước và thuế nước đã được thu. Tiền phải được sử dụng hợp lý bởi người cung cấp dịch vụ. Nhưng hiện nay nhiều hợp tác xã nông nghiệp và hội đồng nhân dân xã đã dành riêng các phí nước thu được để làm cho mục đích riêng khác. Tiền nợ tích luỹ của thuỷ lợi phí là 230 tỷ đồng. Phí nước thường được chuyển thẳng đến ngân sách nhà nước, không trực tiếp chuyển đến công ty tiêu thoát nước. Điều này sẽ không khuyến khích được nghĩa vụ của các công ty trước khách hàng của họ.
Thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường phải được tách riêng từ các thuế khác và được đưa vào quỹ bảo vệ môi trường. Thông qua quỹ này thuộc về ngân sách nhà nước, nó sẽ đến việc có thể hỗ trợ xác định được hiệu quả kinh tế của bảo vệ môi trường.
Khi thị trường lao động của Việt nam tăng trưởng, lao động có tay nghề cao sẽ tìm kiếm việc làm với mức lương cao và vị trí xã hội tương ứng. Họ không thể làm ăn thường xuyên trong tình trạng không cân bằng về tài chính và trợ cấp của xã hội.