Thặng dư xã hội

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 54 - 62)

Chương 2 KINH TẾ CẤP NƯỚC CÔNG CỘNG

2.3 Phân tích kinh tế và tài chính

2.3.1 Thặng dư xã hội

Phân tích chi phí - lợi ích là một công cụ kinh tế hướng dẫn cho người quyết định trong việc làm thế nào để phân phối tài nguyên xã hội ở mức độ hiệu quả nhất.

Hiệu quả kinh tế có thể được đo bằng ‘phúc lợi xã hội’ hoặc ‘thặng dư xã hội’.

Một phương án lựa chọn đưa ra lợi ích phúc lợi xã hội cao nhất được xem là sự lựa chọn hiệu quả nhất.

(1) Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất

Xuất phát từ quan điểm kinh tế hàng hóa, một nền kinh tế bao gồm hai nhóm người: người tiêu dùng và người sản xuất. Do đó lợi ích thực của xã hội hay

Chi phí, Thu nhập

Sản lượng Chi phí cận biên

Thu nhập cận biên Lợi ích cận

biên

lợi ích cận biên dương

phúc lợi xã hội là sự tổng hợp lợi ích thực của người sản xuất và người tiêu dùng.

Lợi ích ròng của người tiêu dùng bằng sự chênh lệch giữa người tiêu dùng bằng lòng trả và số tiền phải trả thực tế, được cho là ‘thặng dư tiêu dùng’. Lợi ích cận biên của một hàng hoá hay sự bằng lòng cận biên phải trả của một hàng hoá được miêu tả bởi đường cầu. Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa vùng nằm dưới đường nhu cầu và vùng mô tả tiền phải trả thực tế (vùng bóng trong hình 3.5a).

Tương tự như vậy, lợi ích ròng của nhà sản xuất được biết đến như là ‘thặng dư sản xuất’, là sự chênh lệch giữa tổng thu nhập nhà sản xuất thu được và tổng chi phí cơ hội để sản xuất hàng hoá đó. Chi phí cơ hội cận biên của mỗi đơn vị hàng hoá được đưa ra bởi đường cung. Thặng dư sản xuất được mô tả bằng vùng bóng trong hình 3.5b.

D = MB = WTP

Giá

Sản lượng P*

Q*

Thặng dư tiêu dùng

5a) Giá

Sản lượng S =MC

Thặng dư sản xuất P*

Q* 5b)

Hình 2.5 Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất P*: giá cân bằng, Q*: sản lượng cân bằng

D: đường nhu cầu của hàng hoá, MB: lợi ích cận biên, WTP: sự bằng lòng chi trả; S: Đường cung cấp hàng hoá, MC: Chi phí cận biên

Hình 5: a) Thặng dư tiêu dùng b) Thặng dư sản xuất

Hình 3.6 cho thấy lợi nhuận thực của xã hội hay phúc lợi xã hội là sự tổng hợp của thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất. Bất kỳ sự thay đổi nào trong thặng dư tiêu dùng hay thặng dư sản xuất sẽ hiển nhiên ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội. Để đo lường sự thay đổi trong phúc lợi xã hội thì các hàm cung, hàm cầu cần được biết đến và một tập hợp giá kinh tế cần phải được sử dụng trong đánh giá kinh tế.

Hình2.6 Thặng dư xã hội

P*: giá cân bằng, Q*: sản lượng cân bằng, S: đường cung, D: đường cầu

MB: lợi ích cận biên, MC: chi phí cận biên MWTP: sự hài lòng chi trả cận biên

(2) Giá kinh tế

Trong phân tích chi phí - lợi ích, sau khi các tác động vật chất của dự án được nhận biết và được xác định số lượng, chúng phải được đánh giá bằng đơn vị chung để xác định sự thay đổi trong phúc lợi xã hội. Các nhà phân tích phải xác định giá kinh tế để gắn giá trị về tiền tệ đối với các tác động vật chất.

Các loại giá này phải phản ánh sự bằng lòng chi trả của xã hội đối với hàng hoá và chi phí cơ hội thiệt hại do xã hội sản xuất ra những loại hàng hoá này. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo những người đại lý là những người đưa ra đề nghị giá mà không có các tác động ngoại lai liên quan đến sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm và không có sự can thiệp của chính phủ (hệ thống thuế, trợ cấp, giá sàn, giá trần), giá cân bằng cho biết lợi ích xã hội cận biên và chi phí xã hội cận biên của sản phẩm. Trong trường hợp này, giá thị trường hay giá tài chính sẽ phản ánh chính xác giá kinh tế.

Phần lớn các tác động của dự án hồ chứa thuỷ lợi dù như thế nào cũng không được kinh doanh ở các hoàn cảnh thị trường . Nói đúng hơn chúng được tiến

Q*

P*

Giá

S = MC

D = MB = MWTP Sản lượng

Lợi ích XH thực = thặng dư XH

hành trong những thị trường có sự biến dạng và cạnh tranh không hoàn hảo.

Thêm vào đó, một số dịch vụ (như các chương trình phòng chống lũ) có thể được mô tả như hàng hoá công cộng cho sở thích cá nhân mà không được bộc lộ bởi sức ép của thị trường. Kết quả thị trường thất bại trong một tập hợp giá kinh tế không đúng, thể hiện ở sự thiếu chính xác của lợi ích và chi phí xã hội cận biên và dẫn đến sự phân phối tài nguyên không hiệu quả. Do đó các nhà phân tích dự án phải điều chỉnh lại thị trường không đúng này hay giá tài chính trước khi đánh giá dự án. Ví dụ, các khoản thuế và tiền trợ cấp sẽ được loại trừ từ giá thị trường vì chúng chỉ là sự dịch chuyển thu nhập trong nền kinh tế trong khi chi phí và lợi ích ngoại lai của dự án sẽ được tính đến vì chúng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội. Một khi giá được điều chỉnh, chúng sẽ phản ánh thực sự khan hiếm tài nguyên và sẽ chính xác hơn cho mục đích tính toán kinh tế. Vì giá được điều chỉnh được biết đến như là giá mờ hay giá thanh toán.

Trong trường hợp, khi thiếu vắng sự hoạt động của thị trường và giá kinh tế không có, thì kỹ thuật đánh giá kinh tế phải được đưa ra để tìm giá trị đại diện cho sự bằng lòng chi trả của người tiêu dùng (WTP) hay chi phí cơ hội. ’Thị hiếu đã bộc lộ’ và ‘sở thích được nói rõ’ là những phương pháp tốt được biết đến cho sự đánh giá hàng hoá không bán được.

Bảng 2.1 Đánh giá kinh tế của hàng hoá

Không bị bóp méo Bị bóp méo (bởi sự can thiệp của nhà nước) Thị trường cạnh tranh

hoàn hảo Giá thị trường Giá mờ

Thị trường không cạnh

tranh Giá mờ Giá mờ

Thị trường hoàn toàn

vắng mặt Phương pháp ‘thị hiếu được bộc lộ’, ‘sở thích được nói rõ’

(3) Đánh giá kinh tế dự án cấp nước

Về phương diện kinh tế, tất cả những sự tác động của dự án đập sẽ được đánh giá bằng giá kinh tế. Đôi khi giá mờ rất cần thiết cho việc đánh giá kinh tế một cách chính xác nơi mà sự không hoàn hảo và sự bóp méo thị trường tồn tại. Tuy nhiên việc xác định giá mờ rất phức tạp, tốn nhiều thời gian và tiền bạc. Đây là lý do tại sao nhiều nhà phân tích không thể tính toán được giá mờ cho công tác đánh giá thậm chí dù họ có dựa trên các khái niệm đúng đắn trong phân tích kinh tế. Ở các nước công nghiệp hoá, thông tin về giá mờ thông thường có thể tìm kiếm được từ các cơ quan Nhà nước. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá kinh tế. Song ở các nước phát triển, thông tin rất hạn chế về

mờ. Bởi vậy, đối với các nhà phân tích dự án ở những nước này, thật khó khăn để xác định được một cách đúng đắn giá trị kinh tế đối với những tác động của dự án.

Những hướng dẫn này đưa ra một số phương pháp thực hành mà chúng có thể được ứng dụng cho những loại khác nhau của những tác động do việc xây dựng đập gây ra. Các phương pháp đánh giá phụ thuộc nhiều vào bản chất của những sự tác động và sự sẵn có của các thông tin.

(4) Các phương pháp chủ yếu

Có ba phương pháp chủ yếu cho việc đánh giá chi phí và lợi ích:

(a) giá thị trường, (b) thị hiếu được bộc lộ, (c) sở thích được nói rõ (a) Phương pháp giá thị trường

Khi nền kinh tế mở, thị trường không được kiểm soát và không bị bóp méo, có thể chấp nhận sử dụng giá thị trường cho các mục đích đánh giá. Những tác động của dự án đập ngăn nước có thể được đánh giá khi sử dụng phương pháp giá thị trường đó là vốn đầu tư, chi phí quản lý vận hành, cung cấp điện, cung cấp nước, lợi nhuận ngành thuỷ sản, giải trí, lợi nhuận thu được từ gỗ và các sản phẩm không phải gỗ rừng, lợi nhuận từ động vật hoang dã và những tài sản bị thiệt hại.

Phương pháp này áp dụng tốt nhất trong trường hợp mà ở đó dự án cung cấp thêm đầu ra hay yêu cầu thêm đầu vào của dự án có một số ảnh hưởng lên giá cả thị trường của chúng. Chi tiết về tác động của giá được trình bày ở hinh 3.7.

1.Đo lường chi phí không có sự tác động

giá cả: Nếu thị trường có đường cung nằm ngang

và khoảng q’ của các yếu tố được mua thì đường cầu D sẽ dịch chuyển sang

phải đúng bằng khoảng q’. Khi chi phí biên được mô tả bởi đường cung S là không đổi, nên giá giữ ở Po. Do đó chi phí cơ hội đối với xã hội (phần hình vuông a)

bằng tổng giá trị mà dự án phải chi trả (Po x q’).

2. Đo lường chi phí có sự tác động của giá cả Khi một số lượng lớn tài nguyên được

Po

Sản lượng a

Giá

S

D D +q’

q’

D D +q’

b Giá

P1

S

Po

yêu cầu, giá cả sẽ tăng lên vì đường cung dốc lên. Sự thay đổi chi phí xã hội (b) sẽ nhỏ

hơn tổng giá trị mà dự án phải chi trả là (P1 x q’).

Do đó chi phí cơ hội thực có thể được tính bằng [(Po + P1)/2]xq’

3. Đo lường lợi ích không có sự tác động giá cả: Nếu một dự án đối mặt với đường cầu D nằm ngang, giá thị trường Po sẽ là hằng số khi dự án thêm vào một lượng q’.

Do đó, sự thay đổi trong thặng dư xã hội

(hìnhvuông c) bằng thu nhập của dự án (Po x

q’).

4. Đo lường lợi ích có sự tác động giá cả Nếu dự án đối mặt với đường cầu D dốc

xuống, giá thị trường sẽ giảm xuống P1 khi dự án thêm vào một lượng cung bằng q’.

Sự thay đổi trong thặng dư xã hội (d – toàn bộ vùng bôi đen)

lớn hơn thu nhập của dự án (P1 x q’).

Lợi ích của dự án có thể dễ dàng được ước tính bằng [(Po + P1) /2] x q’.

Hình 2.7. Đo lường chi phí và lợi ích khi có và không có sự tác động giá cả (b) Phương pháp thị hiếu được bộc lộ

Với một vài tác động, đặc biệt là các tác động ngoại lai của dự án không có bất cứ một thị trường kinh doanh nào. Các phương pháp đánh giá kinh tế như: thị hiếu được bộc lộ, sở thích được nói rõ sẽ thích hợp hơn cho công tác đánh giá.

Phương pháp thị hiếu được bộc lộ(hoặc gián tiếp) không đo lường được giá trị môi trường một cách trực tiếp nhưng nó cũng có thể cố đo lường được thông qua giá cả của các loại hàng hoá khác. Bởi vì sự bằng lòng chi trả của cá nhân đối với hàng hoá và dịch vụ môi trường không thể trực tiếp quan sát, phương pháp này cố gắng đánh giá sự bằng lòng chi trả của cá nhân bằng sở thích cá

Po

Sản lượng c

Giá

D D +q’

q’

S S + q’

Giá

Sản lượng P1

d Po

S

S + q’

D

q’

nhân bộc lộ đến những sự thay đổi uỷ quyền. Có một vài phương pháp được sử dụng trong phương pháp thị hiếu được bộc lộvà được mô tả ngắn gọn dưới đây.

Nhà phân tích có thể đánh giá được những lợi ích về cung cấp điện, cung cấp nước, phòng chống lũ hay giao thông thuỷ bằng cách sử dụng những công cụ đã biết như ‘Phương pháp chi phí thay thế’ (RCM: replacement cost method). Lợi ích được ước lượng từ chi phí thấp nhất của phương thức lựa chọn hàng hoá sản xuất và dịch vụ thay thế cho những chi phí bị ảnh hưởng do đập ngăn nước gây ra. Lợi ích của dự án đúng bằng chi phí của nó, như là tất cả giá trị đền bù tái định cư cho phần đất đai bị thiệt hại được định giá trong khi sử dụng phương pháp này.

Ngoài phương pháp chi phí thay thế, còn có phương pháp gián tiếp khác gọi là

Phương pháp chi phí vận chuyển’(TCM: travel cost method) được sử dụng để đánh giá lợi ích của ngành thuỷ sản và giải trí. Phương pháp này ước lượng những chi phí phải chịu bởi một địa điểm tham quan riêng lẻ. Giả sử rằng thời gian tiêu tốn của cá nhân, chi phí đi lại, vé vào cửa, lệ phí địa điểm và khoản tiền chi tiêu cần thiết cho vốn thiết bị ( mỗi cá nhân sử dụng như thuyền, cần câu) là kết quả của sự bằng lòng chi trả của mỗi cá nhân khi chi trả và bởi vậy đó là giá trị lợi ích hay của sự phục vụ.

Phương pháp ‘mô hình hưởng thụ của cải’(HPM: hedonic property model) là một phương pháp khác mà nó có thể được sử dụng để đánh giá những lợi ích và chi phí về môi trường (thí dụ giải trí). Dựa trên giả định rằng quan điểm của người mua đối với thuộc tính của của cải phản ánh sự bằng lòng khi thanh toán đối với việc sử dụng tài sản đó. Khi một vài biến số chắc chắn nào đó được kiểm soát thì sự khác nhau giá cả còn lại (giữa tài sản trong các vùng phụ cận khác nhau) là phần giá trị của ảnh hưởng môi trường. Thí dụ như giá của một ngôi nhà ở các vùng phụ cận bình thường thấp hơn giá nhà ở một khu vực tồi hơn bằng giá trị của nơi tồi hơn. Điều này có thể được coi như là chi phí của dự án tạo ra xấu đi hay lợi ích của dự án giảm sự xấu đi.

Cuối cùng, ‘phương pháp thông số thu nhập’ (FIM: factor income method) ẫpác định tác động của dự án như đầu vào của sản xuất. Lợi ích của dự án có thể được đo lường từ khoản thu nhập tăng lên. Ví dụ như, nước tưới có thể giúp nông dân kiếm được lợi nhuận cao hơn. Do đó lợi nhuận cận biên có thể được xem như là giá trị của nước tưới.

(c) Phương pháp sở thích được nói rõ

Khi một thị trường hoàn toàn không tồn tại, nhà phân tích có thể sử dụng phương pháp thị hiếu được bộc lộ như là một kỹ thuật gián tiếp để chỉ ra sở thích cá nhân. Tuy nhiên thông tin thu được từ phương pháp này không tính đến những người đại diện được uỷ quyền của hàng hoá và dịch vụ mà nó khó khăn để theo dõi giá trị của hệ sinh thái, của hàng hoá không được thương mại.

Phương pháp này đo trực tiếp sự ưu thích của người tiêu dùng bằng cách hỏi xem mọi người là họ có thể bằng lòng chi trả bao nhiêu (sự bằng lòng khi thanh toán: WTP: willingness to pay) cho việc bảo vệ và cải thiện môi trường, hay họ

bằng lòng chấp nhận như thế nào (sự bằng lòng chấp nhận: WTA: willingness to accept) đối với một môi trường bị xấu đi.

Cách tiếp cận này hoàn thiện phương pháp đã được thừa nhận rộng rãi là

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên’(CVM: contigent valuation method). Các nhà phân tích phải tạo ra một thị trường theo giả thuyết và đưa ra sự mô tả về hàng hoá và dịch vụ có giá trị. Các phương tiện trợ giúp thính giác và thông tin về sản phẩm thay thế hàng hoá và dịch vụ là yếu tố cần thiết trong việc giúp đỡ trả lời chính xác sự đánh giá thị trường giả thuyết và sự bằng lòng thanh toán của mỗi cá nhân.

(5) Phương pháp thứ cấp

Trong phân tích chi phí - lợi ích (CBA: Cost-Benefit Analysis), chi phí và lợi ích môi trường không thể đánh giá đơn giản. Thậm chí dù môi trường có giá trị thì nó cũng không được định giá như là không có thị trường dành cho nó. Vì vậy việc đánh giá thị hiếu người tiêu dùng rất cần thiết.

Hai phương pháp đánh giá đặc biệt được sử dụng để xác định thị hiếu người tiêu dùng là: sở thích được nói rõthị hiếu được bộc lộ, cả hai phương pháp đòi hỏi phải có số lượng số liệu sơ cấp lớn để thu được những kết quả chính xác.

Khi có sự ràng buộc về thời gian và ngân sách, những giá trị môi trường có thể được đánh giá từ các nghiên cứu hiện nay hay từ dữ liệu thứ cấp. Phương pháp này được biết đến như là ’sự trao đổi lợi ích’. Chi phí hay lợi ích môi trường được xác định từ những nghiên cứu liên quan được sử dụng để ước lượng chi phí hay lợi ích của một môi trường tương tự tại một vùng cụ thể. Vùng đó đã được nghiên cứu và đó là nguồn của thông tin được gọi là ’vị trí nghiên cứu’.

Vùng mà thông tin từ vị trí nghiên cứu sẽ được ‘trao đổi’ được gọi là ’tuyến chính sách hoặc tuyến dự án’.

Phương pháp trao đổi lợi íchđòi hỏi giả định cần thiết rằng: toàn bộ dân số của địa điểm nghiên cứu tương tự dân số của khu vực dự án. Giá trị trao đổi phải được sử dụng cho loại môi trường như nhau và điều kiện giống nhau về giá trị đó cũng phải được sử dụng. Ví dụ, nếu lợi ích môi trường của du lịch được ước tính trên cơ sở WTP ở vị trí nghiên cứu thì nó phải được chuyển đổi đến khu vực dự án như là giá trị du lịch trên cơ sở WTP. Giá trị này không thể được sử dụng cho sự đánh giá lợi ích khác hay như là WTA.

Phương pháp trao đổi lợi ích có thể được phân thành hai phương pháp. Một là’

sự chuyển đổi giá trị đơn vị’, trong đó giá trị môi trường trung bình cho mỗi người hay mỗi hộ gia đình từ địa điểm nghiên cứu được chuyển đổi để ước tính cho khu vực dự án. Giá trị được chuyển đổi này có thể đòi hỏi một số điều chỉnh về các nhân tố kinh tế xã hội như là mức thu nhập.

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 54 - 62)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)