Những thách thức quốc tế đối với Việt Nam

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 138 - 141)

TÀI NGUYÊN N ƯỚC CÔNG CỘNG

4.6 Những thách thức quốc tế đối với Việt Nam

Sự phát triển ở trên ở Đông Nam Á được đặc trưng hoá bằng các xu hướng sau trong các hoạt động kinh tế: (Ward, Keith Oct 2002)

• Tăng thương nghiệp hoá và chuyên môn hoá trong nông nghiệp, và (trong trường hợp ở Việt Nam) tiếp tục công nghiệp hoá nông thôn.

• Tăng phát triển của ngành công nghiệp không sử dụng tài nguyên, và các ngành dịch vụ (bao gồm cả du lịch)

• Tăng đô thị hoá và tiêu dùng, và

• Tăng sự hợp nhất giữa các tiểu vùng.

Tăng thương nghiệp hoá và chuyên môn hoá trong nông nghiệp

Ở Việt Nam những vấn đề chính về cải thiện chất lượng (thông qua chính sách như là công nghiệp hoá nông thôn và tăng cường công nghệ; bằng cách đưa ra nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, tăng năng suất, phát triển công nghiệ và dịch vụ ở nông thôn…).

Cũng như cac chính sách chúng dự kiến thay đổi, các biểu thuế trước đây và các cơ chế khác được dùng để bảo vệ như các ngành nông nghiệp sẽ được giảm nhẹ theo AFTA.

Trong tất cả các nước ở hạ du của sông Mêkông tác động sẽ có thể tăng nông nghiệp (bao gồm năng suất cao, đưa ra thị trường…) và cũng khuyến khích tăng chuyên môn hoá giữa các nước (ví dụn như Thái lan và Việt Nam có xu hướng sản xuất gạo hơn là

các sản phẩm khác, trong khi Lào và Cămpuchia sẽ có thể tăng các mức sản phẩm về bông sợi).

Tăng phát triển của ngành công nghiệp không sử dụng tài nguyên

Giống như tất cả các nước ở hạ du sông Mêkông đang dự định phát triển công nghiệp không sử dụng tài nguyên nhiều hơn nữa, cũng như các ngành dịch vụ (bao gồm cả du lịch). Điều này sẽ diễn ra ở các cấp khác nhau, và bằng các cách khác nhau từ một nước sang nhiều nước khác. Đối với Việt nam những vấn đề chính là về phát triển các công nghiệp cỡ trung bình và nhỏ (SMEs) với nhiều buôn bán thương mại và nhiều loại nghề nghiệp thủ công, áp dụng công nghệ các lao động chuyên sâu, hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hoá liên kết với công nghiệp chế biến, thu hút hơn nữa các nhân công ở đồng bằng sông Mêkông...

Chuyên môn hoá các công nghiệp không sử dụng tài nguyên dựa vào những ưu thế so sánh tồn tại và các ưu điểm có tính cạnh tranh nổi lên sẽ có thể được nhận thấy thông qua LMB, và nó cũng có thể được mong chờ sự gia tăng các khu công nghiệp, vùng chế biến để xuất khẩu, vùng công nghệ cao, khu vực kinh tế tự do sẽ nổi bật lên trong LMB, cả ở các địa phương biên giới khac nhau và các nơi khác.

Tăng đô thị hoá và tiêu dùng

Một sự tiến triển liên tục dẫn đến các khu đô thị từ các vùng nông thôn có thể được mong chờ cùng với sự tăng trưởng cả về nông nghiệp và công nghiệp và các hoạt động không sử dụng tài nguyên, cũng như là tăng trưởng dân số và mức tăng của số biết đọc biết viết và đời sống. Quá trình này (tức là di dân nông thôn-đô thị) là một phần không thể tránh được của sự phát triển kinh tế, như là sự thay đổi cấu trúc kinh tế, như họ đang phát triển (tức là chia sẻ nông nghiệp khi giảm tổng sản lượng nội địa GDP). Nó có thể diễn ra chậm nhiều hơn hoặc ít hơn trong lưu vực hạ lưu sông Mêkông để mở rộng cơ sở vật chất đặt vào nơi (ví dụ cho phép tạm thời và di cư theo mùa) và cac biên giới còn chỗ hở. Nó cũng sẽ xảy ra trong nên kinh tế tư nhân như chúng tăng trưởng và các thành phần hoạt động thay đổi.

Theo sự tăng đô thị hoá sẽ thay đổi lối sống và các kiểu làm việc, và do đó thay đổi các hành vi tiêu dùng,ví dụ, đối với người tiêu dùng ở đô thị sẽ tiêu một số tiền lớn vào đồ ăn chế biến và các hàng hoá khác hơn là đối với người tiêu dùng ở nông thôn, và do đó độ co giãn thu nhập của nhu cầu thì sẽ lớn hơn 1.

Tăng sự hợp nhất giữa các tiểu vùng

Xu thế chính cuối cùng là được quan sát sẽ hầu hết tăng trên thực tế hợp nhất giữa các tiểu vùng. Điều này được củng cố bởi khối ASEAN, GMS và các sáng kiến khác – nhưng hầu hết sẽ tăng lên trên cơ sở kinh tế của các nước thành viên. Nhân tố địa phương và giá cả, biên giới và thương mại buôn bán và hoàn cảnh đầu tư được thảo luận trước đây, công với những nhiệm vụ khác nhau và sự tăng trưởng trong lưu vực hạ lưu sông Mêkông, sẽ có xu thế chắc chắn khuyến khích hợp nhất xa hơn giữa kinh tế trong vùng địa lý đơn giản của lưu vực hạ du sông Mêkông (LMB).

Trong khi tăng hợp nhất các khu vực có thể có xu hướng tăng hơn là thu nhỏ, hệ thống kinh tế tương đối của hai nên kinh tế rộng hơn trong lưu vực hạ du sông Mêkông, Thái

Land và Việt Nam, vẫn còn có lợi ích phúc lợi xã hội cho tất cả các thành viên hợp thành kinh tế của các nước ở hạ lưu sông Mêkông.

Tác động của hợp nhất khu vực

Khi các ưu thế cạnh tranh dần dần trở thành có ý nghĩa hơn, một sự phát triển suôn sẻ phụ thuộc vào tất cả các đặc tính mà giữa chúng thiết lập nên hiệu quả của các hệ thống sản phẩm khác nhau. Hệ thống sản phẩm mà nó có thẻ sản xuất ra các đầu ra tương tự với ít đầu vào hơn, hoặc đầu ra tốt hơn hoặc nhiều hơn với đầu vào tương tự.

Hai thông số liên quan đến tiêu thụ nước (như nông nghiệp tưới) và nước phụ thuộc (như thuỷ sản trong nước và nuôi thuỷ sản). Một là hiệu quả nước, đầu ra sản xuất trên một đơn vị nước, và cái khác thì hiệu quả kinh tế của dùng nước – giá trị được tạo ra bởi đơn vị nước.

Ngày nay, hạ lưu lưu vực sông Mêkông, hai thông số này thay đổi trong một phạm vi rộng. Một người nông dân trồng lúa ở đồn bằng sông Mêkông cần khoảng 3,5 m3 nước để sản xuất ra 1kg gạo trong mùa khô, trong khi một người nông dân khác ở Isan cần gần hai lần nước như vậy cho 1kg gạo tương tự. (Tại cùng một thời điểm, tuy nhiên, gạo ở Isan có giá cao hơn trên thị trường). Nông dân ở Cămpuchia và Lào thường có hiệu quả thấp và có thu nhập gia đình thấp như là lợi thế cạnh tranh.

Một số biện pháp co thể giúp đỡ trong sự chuyển đổi suôn sẻ. Hỗ trợ kỹ thuật bằng nhiều cách được đòi hỏi để nâng cao các hệ thống sản phẩm đang có, cũng như là đa dạng hoá dần dần hoặc thậm chí thay thế trong một số trường hợp. Điều này sẽ không có rủi ro, tuy nhiên được chỉ ra từ kinh nghiệm ở Isan và nơi khác. Một sự làm suy yếu đi hoặc di chuyển những cổ chai lọ hạ tầng cấu trúc cho toàn bộ dòng chảy của đầu vào và đầu ra giữa người sản xuất đầu tiên và thị trường của họ có thể giảm tổn thất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Những biện pháp hỗ trợ khác là quản lý thiên tai (hạn hán, lũ, dịch bệnh); duy trì cơ cấu hiện trạng đất của các chủ (bao gồm an ninh xã hội để ngăn ngừa mất mất không thể thay đổi được); tin cậy; và phạm vi rộng về nghiên cứu, tạo tri thức, giáo dục và nhận thức.

4.7 Các chỉ số giám sát

Sự phát triển dần dần về thực hiện kinh tế và hiệu quả dùng nước sẽ là một ưu điểm đối với người dùng nước cũng như là đối với xã hội và tất cả.

Một sự phát triển có thể được hướng dẫn bởi sự giám sát phù hợp của các chỉ số thích hợp, ví dụ như là một danh sách như dưới đây:

Các chỉ số thể hiện cho các lợi ích cấp nước công cộng

• Khả năng sản xuất (m3/năm)

• Tổng lượng nước hàng năm

• Tiêu thụ năng lượng hàng năm

• Chi phí sản lượng hàng năm (chi phí vận hành và bảo dưỡng, và vốn đầu tư)

• Giá trị của hệ thống sản xuất (bao gồm cả đất bị chiếm)

• Số người có công ăn việc làm (làm việc đầy đủ thời gian) trong nhà

• Số người có công ăn việc làm bằng hợp đồng (làm việc đầy đủ thời gian)

• Số hộ gia đình được cấp nước vào nhà và số người được phục vụ

• Số hộ gia đình được cấp nước có đồng hồ đo nước

• Tổng lượng nước của các hộ được cấp hàng năm

• Số các khu công nghiệp được phục vụ cấp nước

• Số các khu công nghiệp được cấp nước có đồng hồ đo nước

• Tổng lượng nước cấp cho công nghiệp hàng năm

• Thất thoát nước dọc đường và nước bị thất thu chiếm phần trăm trong tổng lượng nước cung cấp

• Lượng nước cấp trên mọt đầu người làm việc (số hộ gia đình và công nghiệp tương ứng)

• Phí nước phải trả (các hộ gia đình và số công nghiệp)

• Phí nước được trả (phần trăm của phí nước) (các hộ gia đình và số công nghiệp)

• Chi phí vận hành và bảo dưỡng trên một m3sản xuất và trên một m3 bán ra

• Tổng chi phí (cả vận hành bảo dưỡng và vốn đầu tư) trên một m3sản xuất và trên một m3 bán ra

• Phần trăm của chi phí được hoàn lại trên chi phí vận hành và bảo dưỡng

• Phần trăm của chi phí được hoàn lại trên chi phí vận hành, bảo dưỡng và vốn đầu tư

Các chỉ số thể hiện cho hệ thống tưới

• Khả năng sản xuất (m3/năm và m3/s)

• Công suất trữ nước (lượng trữ làm việc và tổng lượng trữ) (nếu có)

• Mưa trung bình tuần và tháng

• Tổng lượng cấp nước hàng tuần và hàng tháng

• Lượng tiêu thụ năng lượng hàng tuần và hàng tháng

• Nhu cầu dùng nước được thoả mãn hàng tuần và hàng tháng đối với toàn bộ vùng có yêu cầu (số m3nước tính bằng phần trăm của số m3cần thist cho canh tác). Ví dụ nhu cầu để thoả mãn là 100% khi tất cả người nông dân trong vùng được yêu cầu có nước dùng mà họ cần.

• Chi phí sản xuất hàng năm (chi phí vận hành và bảo dưỡng và cả vốn đầu tư)

• Giá trị của cả hệ thống sản xuất (bao gồm cả đất bị chiếm)

• Số người có công ăn việc làm (làm việc đầy đủ thời gian) trong nhà

• Số người có công ăn việc làm bằng hợp đồng (làm việc đầy đủ thời gian)

• Số hộ gia đình được cấp nước (tổng diện tích yêu cầu)

• Số họ và diện tích thực được phục vụ

• Phí cấp nước

• Phí nước phải trả (phần trăm của phí nước)

• Chi phí vận hành và bảo dưỡng trên một m3nước được cung cấp

• Tổng chi phí vận hành và bảo dưỡng và vốn đầu tư trên một m3nước được cung cấp

• Phần trăm của chi phí hoàn trả lại trên toàn bộ chi phí vận hành và bảo dưỡng

• Phần trăm của chi phí hoàn trả lại trên toàn bộ chi phí vận hành và bảo dưỡng và cả vốn đầu tư

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 138 - 141)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)