Xác định các tác động tiềm năng

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 81 - 87)

Chương 3 KINH TẾ NĂNG LƯỢNG THỦY ĐIỆN

9. Đưa ra phương án với phúc lợi xã hội thực lớn nhất

3.2.2 Xác định các tác động tiềm năng

Những mục đích chính của hồ chứa ở Việt Nam là tưới và phát điện. Những tác động tích cực thì thường là nhìn thấy được, trong khi những tác động tiêu cực đặc biệt là thiệt hại cho xã hội và môi truờng thì thường là vô hình và khó xác định. Đối với việc phân tích chi phí lợi ích để phản ánh giá trị thực của dự án tất cả các tác động hữu hình và vô hình đều phải đưa vào phân tích. Bỏ qua bất cứ tác động nào cũng có thể gây ra việc xác định sai hiệu quả của dự án.

Sau khi các phương án được xác định, các nhà phân tích phải xác định được các tác động và biểu diễn chúng bằng đơn vị. Xây dựng một hồ chứa sẽ bao gồm các tác động xã hội được thể hiện bằng hình vẽ dưới đây:

Hình 3.1 Những vấn đề có tiềm năng xuất hiện khi xây dựng hồ chứa 1. Các yếu tố xã hội-môi trường

Khi xem xét ảnh hưởng qua lại giữa một dự án phát triển thủy lợi đối với xã hội, người ta có thể quan tâm tới các yếu tố sau:

1. Di dân, tái định cư

2. Mối quan hệ với nơi tiếp nhận di dân 3. Vấn đề dân tộc

4. Sức khoẻ liên quan đến nước 5. Khả năng cấp nước

6. Giao thông đi lại 7. Di cư

8. Nuôi trồng thủy sản

9. Người dân bị ảnh hưởng trực tiếp 10. Người dân bị ảnh hưởng từng phần 11. Trường học

12. Bệnh xá

13. Văn hóa, lịch sử dân tộc 14. Sức khỏe, bệnh tật 15. Các dịch vụ

16. Sử dụng đất

17. Sản lượng nông sản 18. An ninh lương thực 19 Suy kiệt nguồn nước 20. Cơ cấu thị trường

……

Về mặt môi trường có thể kể đến những yếu tố sau:

1. Ngập đất đai 2. Chất lượng nước 3. Bồi lắng/xói mòn 4. Cá

5. Rừng

6. Thực vật trên cạn 7. Động vật trên cạn 8. Đời sống thủy sinh 9. Động thực vật quý hiếm 10. Hiểm họa tiềm tàng ...

Như vậy nếu có cùng quy mô, thì dự án nào có ảnh hưởng tới xã hội-môi trường tốt hơn sẽ được ưu tiên lựa chọn. Vấn đề khó khăn nhất hiện nay là làm thế nào để lượng hóa được các yếu tố trên. Trong những yếu tố kể trên về môi trường và xã hội, có một số yếu tố có thể lượng hóa khá chính xác, một số khác khó lượng hóa, còn khá nhiều yếu tố rất khó lượng hóa nếu không nói là không thể lượng hóa được.

Đối với những yếu tố không lượng hoá được hoặc không lượng hóa chính xác được thì phương pháp hay được sử dụng và sử dụng có hiệu quả là phương pháp "lấy ý kiến chuyên gia".

Khi xây dựng hồ chứa có các tác động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố như: loại đập, kiểu thiết kế, vị trí của đập. Những tác động tiềm năng của việc xây dựng đập được chỉ ra trong biểu đồ sau:

Tác động tiềm năng của dự án đập.

Những tác động

Tác động tiêu cực Tác động tích cực 1. Chi phí vật chất 1. Năng lượng điện 2. Chi phí tái định cư 2. Nước tưới

3. Rủi ro khi vỡ đập 3. Sự giảm bớt thiệt hại do lũ và 4. Sự chiếm đất đai do xâm nhập mặn 5. Tác động ngoại lai 4. Sự cung cấp nước sinh hoạt và

công nghiệp

5. Lợi ích thực từ thuỷ sản và giải trí.

6. Giao thông thuỷ

2. Những tác động tiềm năng tiêu cực

(1) Những tác động tự nhiên (chi phí): bao gồm các chi phí xây dựng, chi phí vận hành và duy tu, các chi phí giảm nhẹ, chi phí cho ngừng làm việc.

(a) Chi phí xây dựng: ví dụ xây dựng dự án sẽ bao gồm xây dựng đập, hệ thống tưới và đập tràn. Người kỹ sư cần phải mô tả tất cả mọi chi phí mà trong suốt thời gian hoạt động dự án phải gánh chịu, đồng thời phải gắng với đơn vị giá trị của chúng.

(b) Chi phí vận hành và duy tu:

Chi phí này bao gồm các dịch vụ và nguyên nhiên liệu được sử dụng như là kỹ thuật, nhân công, nhiên liệu khi hồ chứa vận hành.

(c) Chi phí giảm nhẹ

Những chi phí khi mà nhà lập chính sách mong muốn giảm các tác động bất lợi của dự án. Đập sẽ thay đổi dòng chảy của sông.

(d ) Chi phí thanh lý

Tác động này đặc biệt không được tính đến trong phân tích kinh tế. Nó sẽ xảy ra ở cuối đời dự án khi dự án không còn dùng được nữa. Nó liên quan tới sự dời đi của dự án và sự phục hồi lại dòng sông ở trạng thái trước khi có đập. Điều này là cần thiết đối với sự an toàn và những lý do thuộc về môi trường. Khi dự án kết thúc, sẽ hồi phục lại thuỷ sản và quá trình sinh thái. Tuy nhiên sự dời đi không thích hợp sẽ tạo ra những tác động xấu cho sự sống ở dưới nước ở xuôi dòng sông bởi sự tràn đầy đột ngột của lượng lớn những chất cặn trong lòng hồ. Chi phí thanh lý phụ thuộc vào kiểu thanh lý, tuổi thọ của dự án, kết cấu của đập và đặc điểm của khu vực công trình.

Tác động này rất hiếm khi được đưa vào phân tích CBA bởi một vài lí do. Trước tiên, đập có thể được nâng cấp thay vì thanh lý. Thứ hai, nếu như hồ chứa chịu được sự lắng đọng bùn cát lớn, thì vấn đề không đi lại được của tàu thuyền cũng không chắc chắn để quay trở lại vị trí có điều kiện môi trường đầu tiên của nó. Việc xây dựng lại đập sẽ không thể được ở cả hai tình huống này. Thứ ba, giá trị của thanh lý sẽ là rất nhỏ sau khi tính chiết khấu do tác động này sẽ chỉ xảy ra ở cuối đời dự án.

(2) Tái định cư

Việc xây dựng đập có thể có những kết quả lan rộng và nghiêm trọng thay thế toàn bộ cộng đồng từ vùng xây dựng và những vùng ngập lụt và phá vỡ hệ thống truyền thông, hệ thống xã hội và kinh tế cũng như tài sản ruộng đất và sử dụng tài nguyên. Đất thuê cho việc xây dựng cũng phải được tính đến cho chi phí tái định cư của dự án.

Trong bất cứ trường hợp nào , người bị ảnh hưởng đều được đền bù và sự khôi phục lại.

(3) Rủi ro do vỡ đập

Có khả năng đập có thể vỡ. Đập vỡ có nghĩa là bị đổ nát hoặc sự dịch chuyển của một phần của đập hoặc nền móng của nó, do đó đập không thể giữ nước. Theo hội đập lớn quốc tế số lượng đập hỏng đang xảy ra. Nguyên nhân chung của sự hỏng đập là sự

sự xói mòn bên trong thân đập, trên mặt đập và nền móng của đập. Đôi khi năng lực thiết kế của đập tràn không đủ cũng gây ra sự hỏng. Hơn nữa, đập lớn thực tế có thể làm tăng sự nguy hiểm của sự động đất. Điều này cũng làm tăng sự nguy hiểm của thảm họa hỏng đập ở vị trí xây dựng đập.

Số liệu chuỗi thuỷ văn có ý nghĩa lớn để tính đến khả năng vỡ đập và ước tính sự mất mát của sự sống và tài sản ở vùng hạ lưu. Sự rủi ro nay phải được tính đến như một tác động tiêu cực của dự án.

(4) Chiếm dụng đất đai

Tác động của chiếm đất là mất rừng, đất đai nông nghiệp và đất ở. Mất đất đai nông nghiệp và đất ở được tính đến dưới cái chi phí tái định cư, chi phí của sự chiếm đất được tập trung chính ở rừng. Nhà nước không cần phải trả bất cứ gì thu được từ quyền sử dụng rừng quốc gia bởi vì rừng làtài sản công cộng. Tuy nhiên, có một chi phí cơ hội kinh tế trong việc nếu đập không được xây dựng, rừng có thể được sử dụng cho những mục đích khác. Chi phí cơ hội này phải được tính đến.

Kết quả của sự phá rừng về sự mất mát ở cả việc sử dụng trực tiếp và gián tiếp tài nguyên gỗ hoặc sản phẩm rừng không phải là gỗ, và động vật hoang dã. Tất cả những sản phẩm này được bán như là hàng hoá thương mại, hoặc tiêu thụ bởi người dân địa phương. Sự mất sử dụng rừng được tính đến như là chi phí ngoại lai.

(5) Những tác động ngoại lai

Những tác động ngoại lai được xác định như là chi phí hoặc lợi ích do một vài hoạt động hoặc sự giao dịch phải chịu hoặc dành cho bên ngoài của những hoạt động hoặc những giao dịch đó. Những tác động ngoại lai của việc xây dựng đập là như sau:

(a) Hiệu ứng nhà kính

Một tác động ngoại lai có thể của một dự án đập là sự thải khí nhà kính từ sự phân hủy của những chất hữu cơ trong hồ chứa. Điều này sẽ có một cái tác động bất lợi cho khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, mặc dù việc xây dựng đập không chỉ có tác động có hại đối với sự thay đổi khí hậu thông qua việc phá rừng và sự suy biến của quần thể sinh vật ở trong lòng hồ, nó cũng cung cấp một tác động tích cực thông qua một thực tế rằng sự sử dụng năng lượng thủy.

(b) Những tác động xã hội và văn hóa

Những tác động này bao gồm sự mất những di tích lịch sử và di sản văn hóa, sự tan vỡ của cộng đồng dân cư và sự mất mát văn hóa.

(c) Ngập úng và ngập mặn

Ngập úng và ngập mặn có thể có tác động bất lợi trong việc sản suất nông nghiệp bởi sự dâng lên của nước ngầm mang về bởi nước mặt. Khi mực nước lên gần bề mặt, sự hoạt động của mao dẫn kéo theo muối bất thường tràn ngược vào bề mặt và sông. Ngập mặn sẽ làm giảm sản lượng của cây trồng do không chịu được mực nước mặn cao.

Được thấy phổ biến ở một vài bản báo cáo rằng việc xây dựng đập sẽ tăng và một số nạn nhân của bệnh truyền nhiễm do nước. Thực tế nhà phân tích cần cân nhắc cẩn thận là một công trình đập có thể làm ảnh hưởng đến điều kiện sức khỏe cộng đồng như thế nào – cả về tích cực lẫn tiêu cực. Chưa hẳn là tất cả những tác động vào sức khỏe cộng đồng đều là xấu. Sự tăng trong sự cung cấp nước cho thành phố có thể cho kết quả tốt trong sự cải thiện sức khỏe cộng đồng.

3. Những tác động tiềm năng tích cực (1) Năng lượng thủy điện

Một hồ chứa có khả năng cung cấp năng lượng điện bằng việc lắp đặt nhà máy thuỷ điện. Trước khi tháo nước cho mục đích tưới, năng lượng điện được phát ra bằng việc chạy tua bin nước, máy phát điện và máy biến thế. Năng lượng thủy điện cung cấp năng lượng giá rẻ để thỏa mãn yêu cầu ngày một tăng trong khu vực thành phố và nông thôn.

(2) Nước tưới

Tưới là thành phần quan trọng trong sự sản xuất nông nghiệp. Lợi ích thực tế thu được phụ thuộc vào hiệu suất của sự phân phối nước, những vùng được tưới, khả năng của cây trồng , giống cây trồng và năng suất.

(3) Cung cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp

Mức tiêu thụ nước dự đoán tăng cùng với sự tăng dân số và sự phát triển kinh tế. Nước được dẫn từ các kênh tưới để phục vụ cho những nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp hoặc để bổ sung cho những nguồn cung cấp nước khác. Nhà quản lý tài nguyên nước sử dụng hồ chứa để tăng lưu lượng nước chảy xuống hạ lưu trong mùa khô, như vậy làm tràn đầy chất gây ô nhiễm từ xuôi đường kênh tốt hơn. Điều này sẽ cải thiện chất lượng nước cho dân cư ở hạ lưu.

(4) Sự giảm nhẹ những thiệt hại do lũ và do sự xâm nhập mặn của nước biển Đập được xây dựng để điều khiển lũ bằng việc chứa nước lũ trong hồ chứa và sau đó phân phối nó chậm hơn theo thời gian sau. Lợi ích từ việc điều tiết lũ là từ sự giảm mực nước lũ. Như vậy sự mất mát người và tài sản ở khu vực hạ lưu có thể được giảm nhẹ hoặc được ngăn ngừa. Biết được quy luật của lũ là điều quan trọng để tính được sự đánh giá kinh tế của những thiệt hại do lũ.

Trong suốt mùa khô, những con sông bị khô cạn đi và nước biển có thể xâm nhập vào chúng. Một hồ chứa có thể bảo vệ sự xâm nhập bằng tháo nước xuống để đẩy dòng nước biển ra khỏi sông.

(4) Lợi ích thuỷ sản và giải trí từ hồ chứa.

Bên cạnh những lợi ích chính hồ chứa đa mục tiêu như cung cấp nước tưới và thuỷ điện, hồ có thể cung cấp những lợi ích phụ như những điều kiện thuận lợi cho nghề cá và sự giải trí. Thông thường sau khi công việc xây dựng hồ chứa hoàn thành, bộ thủy sản sẽ bắt đầu gây giống cá trong hồ cho nông dân. Do đó thu nhập từ nghề cá và giải trí nên được bao gồm trong phân tích lợi ích của dự án. Tuy nhiên hiệu ích từ giải trí và nghề cá có thể vẫn thu được thậm chí không có dự án, từ dòng chảy thiên

nhiên. Vì thế, tác động thực của dự án về nghề cá và giải trí đều có thể là tích cực hoặc tiêu cực.

(5) Giao thông thuỷ

Vào mùa khô, mực nước trong các sông thiên nhiên thường rất thấp. Hồ chứa có thể dâng mực nước sông lên đến mức đủ để cho sự giao thông đi lại tạo lợi ích của người dân địa phương.

4. Chi phí chìm

Một chi phí chìm là một khoản chi tiêu đã thực hiện xong rồi nhưng không thể thu hồi lại. Vì không thể thu hồi lahi, chi phí chìm không hề ảnh hưởng nào đối với các quyết sách.

Chi phí chìm được định nghĩa như là một khoản chi phí bỏ ra để lập dự án đầu tư (lập nghiên cứu khả thi). Chi phí cho việc lập dự án là một chi phí chìm không thể ảnh hưởng đến quyết định hiện thời của chủ đầu tư, và chi phí chìm không nằm trong chi phí kinh tế của dự án. Chi phí này sẽ không làm ảnh hưởng đến sự quyết định trong tương lai của dự án. Do đó khi phân tích kinh tế không tính đến loại chi phí này.

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 81 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)