Giới thiệu các chính sách

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 122 - 126)

Chương 3 KINH TẾ NĂNG LƯỢNG THỦY ĐIỆN

3. Những ảnh hưởng tiêu cực

3.7.4 Giới thiệu các chính sách

Trong những năm quá khứ chính phủ Việt Nam đã bao cấp sản phẩm điện rất lớn.

Trong những năm gần đây nó được tuyên bố mục đích để giảm bao cấp từng phần bởi gánh nặng, chúng đặt lên ngân khố. Cũng phải tin rằng bao cấp tiêu thụ điện khuyến khích sử dụng quá và do đó tăng thiệt hại môi trường mà kết quả từ phát điện.

Khi một kết quả của sự thay đổi chính sách này, giá điện được tăng lên ba lần trong khoảng năm 1986 đến năm 2000 cho đến khi chúng đạt đến mức hiện nay. Đối với nhà máy thuỷ điện Yali, thì nó là 5.2 UScents/kWh. Mặc dù có sự tăng này, nhưng bao cấp vẫn còn xảy ra.

Nghiên cứu này giới thiệu giá điện nên xem xét lại, không chỉ hạn chế bao cấp của chính phủ trực tiếp, mà còn hợp nhất chi phí môi trường của sản phẩm điện. Các chính sách giá điện hiện nay không đạt được điều đó. Chi phí môi trường có thể không được nhận biết rõ ràng, nhưng chúng vẫn còn phải trả. Chúng ở trong các dạng của sự thiệt hại sức khoẻ và hệ sinh thái, hoặc di dời người dân bị ảnh hưởng, và phần lớp phải trả bởi các nhóm bị tổn thương và các thế hệ trong tương lai.

Hợp nhất các chi phí này bằng giá điện sẽ có một vài ưu điểm đó là:

a. Nó làm chi phí môi trường được nhìn rõ hơn, và do đó sức ép hơn sẽ được áp dụng để tối thiểu chúng.

b. Nó sẽ thực hiện rộng rãi nguyên tắc chấp nhận “người gây ô nhiễm phải trả”, làm cho khả năng nhiệm vụ trả chi phí môi trường đến các hoạt động sinh ra những chi phí này.

c. Nếu áp dụng tất cả các dạng phát điện, nó sẽ cho sự khuyến khích để tạo ra nguồn năng lượng thân thiện môi trường.

d. Nó đưa ra sự khích lệ để giảm tiêu thụ năng lượng thông qua các biện pháp phía nhu cầu, như là giảm thiệt hại của sự chuyển giao, chấp nhận các công nghệ tiết kiệm năng lượng, thay đổi công nghiệp đòi hỏi ít năng lượng…

e. Nó sẽ cho thu nhập với các hoạt động đền bù và giảm thiểu môi trường liên quan với phát điện có thể hiện tại được tiến hành.

Nghiên cứu này vì thế giới thiệu giá điện chi phí đầy đủ hợp nhất chi phí môi trường được áp dụng cho tất cả các dạng năng lượng điện ở Việt Nam. Các nghiên cứu sẽ được đòi hỏi cho mỗi nguồn năng lượng để đánh giá chi phí môi trường của chúng.

Một nghiên cứu như thế đã thực hiện cho ngành nhiệt điện ở Việt Nam (Song và Hanh 2001) và các nghiên cứu tương tự tồn tại đối với nhiệt điện ở các nước khác.

Những nghiên cứu như thế nhìn chung chỉ ra giá chi phí đầy đủ sẽ cho kết quả trong sự tăng phải chăng, và sẽ có khả năng để tất cả nhưng phần lớn đòi hỏi năng lượng và các hoạt động lãng phí năng lượng.

Trong trường hợp nhà máy Yali, tăng giá được giới thiệu là từ 5.2 đến 5.68 US

cents/kWh, có nghĩa là tăng 10%. Đây không phải là một số lượng cao quá. Hơn nữa nó cần phải làm nổi bật những chi phí này đang được trả thông qua sự thiệt hại về lợi ích rừng, thiệt hại về sức khoẻ công cộng, sự phá vỡ cuộc sống của con người bị di dời do xây dựng đập và… Đơn giản sản phẩm điện với chi phí đầy đủ phân phối lại những chi phí này theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả. Cũng làm như vậy nó làm cho các chi phí được nhìn rõ hơn và tạo ra sự khuyến khích làm giảm chúng.

Các chính sách đặc biệt được đưa ra giới thiệu ở sau đây:

a. Giá chi phí đầy đủ sẽ được áp dựng cho tất cả các lợi phát điện ở Việt Nam;

b. Thu nhập từ các sự thay đổi thêm vào đối với chi phí môi trường sẽ được cho vào quỹ để sử dụng trả cho các chi phí ngăn ngừa, giảm nhẹ và môi trường sao cho phù hợp;

c. Trong trường hợp nhà máy thuỷ điện Yali giá điện phải tăng từ 5.2 to 5.68 UScents/kWh.

Chúng ta tin tưởng rằng những sự thay đổi chính sách này sẽ giúp đỡ ngành điện lực Việt Nam trên con đường thực hiện bền vững môi trường và kinh tế.

3.8 Thảo luận: Phương pháp, áp dụng và các hạn chế của chúng

Nhìn chung, xây dựng hồ chứa ở Việt Nam sẽ mang lại nhiều lợi ích vật chất cho các hộ dùng nước khác, chủ yếu chống lũ và tưới. Nói chung các hồ chứa lớn hơn sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội. Không có mâu thuẫn chính nào được xác định như sau:

• Cấp nước cho hạ du sẽ được ưu tiên hàng đầu

• Phát triển tưới ở vùng thượng lưu trong tương lai, ví dụ như nước đầy đủ phục vụ cho cả phát triển tưới và phát điện ở thượng lưu trong quy hoạch giai đoạn đến năm 2020

• Phát triển tưới ở vùng hạ lưu như là điều tiết thêm của sông sẽ chỉ làm tăng lên nước được sử dụng cho tưới, đặc biệt cho mùa khô.

Đặc biệt về phòng lũ tuy vậy có mâu thuẫn cho hồ chứa trong mùa lũ, tăng thể tích phòng chống lũ, sẽ giảm sự sinh ra năng lượng, đối với một số dự án trong phạm vi đáng kể. Phòng lũ tuy nhiên là một vấn đề chính cho một số lưu vực sông ở Việt Nam và có ưu tiên hơn cho xã hội so với phát điện, thậm chí phòng lũ từ một qquan điểm kinh tế thuần tuý cũng có thể không làm được.

Xây dựng hồ chứa lớn tuy nhiên lại có một tác động vầ xã hội và môi trường lớn, đặc biệt là về việc tái định cư của con người. Theo nghiên cứu của Vu Duc Thin 2001 thì số người tái định cư của một số hồ chứa lên đến 100 000 người.

Về các tác động môi trường và xã hội, phương pháp làm giảm nhẹ được đòi hỏi sự thành công phụ thuộc đến một phạm vi rộng vào thoả thuận từ chủ dự án có thể và hoàn toàn dẫn đến những phương pháp này.

Thậm chí với những biện pháp giảm nhẹ có thể mọt số tác động môi trường vẫn còn giữ; đất, thực vật và động vật sẽ không bao giờ bị mất, công trình đập sẽ hoạt động như một đập ngăn chắn cá di trú.

Liên quan đến tác động xã hội, một nguyên tắc cơ bản để xác định sự làm nhẹ và nâng cao bịen pháp là khái niệm của “thay đổi để phát triển”. Điều này áp dụng làm ảnh hưởng con người và cộng đồng trong thời gian ngắn nên trong tình huống tác đọng tiêu cực và trong thời gian dài hạn sẽ có cơ hội cải thiện tiêu chuẩn đời sống của dân. Sự chú ý đặc biệt được đưa ra để cải thiện đời sống nghèo của dân và sự tổn thương đến dân trong công đồng liên quan.

Báo cáo của hội đập lớn thế giới năm 2000 đã trình bay rằng sự giảm nhẹ bền vững, tái định cư và sự mang lại phát triển và những cơ hội bao gồm:

• Tái định cư với đất, việc làm phi nông nghiệp bền vững và/hoặc mang lại sự phát triển

• Tái định cư như là một cộng đồng hoặc một đơn vị xã hội có thể

• Chống lại sự chuyển nhượng tài sản để bảo đảm quyền chuyển nhượng

• Các biện pháp hỗ trợ kiếm sống như là: hỗ trợ nông nghiệp, được vào rừng, đồng cỏ và các nguồn tài nguyên thông thường, được vào các nguồn tài nguyên phục vụ kiếm sống cho tất cả người lớn kể cả phụ nữ; và tài nguyên kiếm sống với tiềm năng bền vững cho thế hệ mai sau.

Các biện pháp giảm nhẹ và cải thiện xã hội có thể được phân ra loại bốn loại rộng như sau:

• Đền bù các tài sản mất mát và nguồn thu nhập như là nhà ở, đất cho các hộ sử dụng khác nhau, hệ thống tưới, giếng, mùa màng nông nghiệp, cây ăn quả, ao cá, được vào rừng kiếm sống, đồng cỏ, đánh bắt cá, buôn bán cũng như là các cơ sở hạ tầng như là trung tâm văn hoá, trường học, trạm y tế, cung cấp nước và vệ sinh, đương giao thông, chợ công cộng…

• Hỗ trợ sự phân phối và vận chuyển gồm trợ cấp vận chuyển, cho phép chuyên chở, vận chuyển, cải tạo đất, thực phẩm trong thời kỳ chuyển, giống, phân bón, để chuẩn bị trồng lúa…

• Hỗ trợ việc phục hồ và xây dựng lại cuộc sống bị tác động đến con người mà có thể bao gồm cả các dịch vụ mở rọng nông nghiệp, biện pháp khôi phục lại thu nhập, chương trình đào tạo, hệ thống phát triển thuỷ sản, hỗ trợ buôn bán thương mại, vay tín dụng, phát triển công đồng, hỗ trợ y tế, phối hợp hỗ trợ nhằm vào nhóm bị tổn thương.

• Hỗ trợ thể chế nhằm giải quyết quy hoạch và thực hiện các biện pháp kinh tế xa hội, thu nhận đất, tái định cư, mối bất bình… là cực kỳ quan trọng và có thể kéo theo, thêm vào thể chế công cộng, tư vấn, tổ chức phi chính phủ, thể chế đào tạo, thể chế cho vay và hoạt động kinh doanh tư nhân. (Vu Duc Thin Oct 2001)

Tài liệu tham khảo chương 3

Bruce McKenney (Jan 01): Economic valuation of livelihood income losses and other tangible downstream impacts from the Yali Falls Dam to the Se San River Basin In Ratanakiri Province, Cambodia

Keith Ward (Sep 03): Strengthening the economic analysis of natural resource management projects

King, Dennis M. and Marisa Mazzotta: Ecosystem valuation (website, read June 2005).

http://www.ecosystemvaluation.org/

Le Quy An (Feb 00): Large dams: A challenge to balancing “ benefits - costs “ for the “ needs “ ?

Nguyen Van Song & Nguyen Van Hanh (Dec 01): Electricity pricing for North Viet Nam Nguyen Van Hanh et al (May 03): Environmental protection and compensation costs for the Yali Hydropower Plant in Viet Nam

Piyaluk Chutubtim (Oct 01): Guidelines for conducting extended cost-benefit analysis of dam projects in Thailand

Tran Minh Huan (Feb 00): Hydropower in Viet Nam

Vu Duc Thin (Oct 2001): Multipurpose reservoirs with social and environmental aspects.

Hanoi Water Conference, October 2001

Wayne C. White (Feb 02): Economic viability of Mekong region dam projects

Một phần của tài liệu Kinh tế tài nguyên nước 1 bài giảng (Trang 122 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)