3.4. Tiến trình thực nghiệm
3.5.1. Kết quả định tính
Tiến hành phát phiếu thăm dò trên cùng một đối tƣợng HS (HS tham gia TN) vào 2 thời điểm khác nhau, trước và sau khi tổ chức TN.
- Câu 1, đối với mỗi sự lựa chọn A, B, C, D chúng tôi phiên ra điểm tương ứng 4, 3, 2, 1.
- Từ câu 2 đến câu 7 và từ câu 9 đến câu 16, đối với mỗi lựa chọn 1, 2, 3 và 4 chúng tôi phiên ra điểm tương ứng là 4, 3, 2 và 1 điểm.
- Với câu 8 ứng mỗi lựa chọn 1, 2, 3 và 4 chúng tôi phiên ra điểm tương ứng là 1, 2, 3 và 4 điểm.
- Đối với mỗi kĩ năng, năng lực chúng tôi tính ĐTB và so sánh ĐTB của 2 đợt để rút ra nhận xét.
- Trước khi học với PPDH theo dự án: phát 362 phiếu thu lại 358 phiếu.
- Sau khi đƣợc học với PPDH theo dự án: phát 358 phiếu thu lại 358 phiếu.
Chúng tôi tiến hành phân tích thái độ, hành vi và suy nghĩ của HS thông qua các phiếu thăm dò.
3.5.1.1. Thái độ của HS đối với phương phápDHTDA trước và sau TN
Để đánh giá thái độ của HS đối với PPDH theo dự án, chúng tôi sử dụng câu hỏi 1, với hai lần đo trước và sau TN, sau đó thống kê tính phần trăm.
(*) trước và sau khi dự án kết thúc
Bảng 3.2. Đánh giá thái độ của HS khi tham gia giờ học theo dự án Em thích đƣợc thầy (cô) tổ chức học theo dự án
không?
Trước TN Sau TN
SL % SL %
A. Rất thích. 66 18,43 124 34,64
B. Thích. 91 25,41 167 46,65
C. Bình thường. 138 38,55 55 15,36
D. Không thích. 63 17,61 12 3,35
Nhận xét: Trước khi TN, phần nhiều HS đón nhận giờ học giờ học có hoạt động theo dự án với tâm trạng bình thường như mọi giờ học khác (38,55%) thậm chí có những em không thích học theo dự án (17,61%), bởi các giờ học theo nhóm từ trước tới giờ các em được tham gia mang nặng tính hình thức, ít có cơ hội trao đổi với bạn cùng nhóm hay thể hiện bản thân mình. Sau khi tham gia học với các tiết học TN, các em đã nhận thấy những ƣu điểm mà PP này mang lại cho các em, do đó tâm trạng của các em có chiều hướng thay đổi rõ ràng: lựa chọn A, B là 81,29%; lựa chọn C và D là 18,71%
3.5.1.2. Kết quả và phân tích các kĩ năng và năng lực của HS trước và sau TN.
Ưu điểm của PPDH theo dự án là mang lại hứng thú cho người học, tác động đến ý thức học tập của HS, để đo mức độ thay đổi này, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 2, 3 và 4 để đánh giá khả năng tự học của HS.
Bảng 3.3. Đánh giá khả năng tự học Nội dung thăm dò
Số lƣợng
ĐTB Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm
khi Không 2. Em hoàn thành phiếu học tập
bằng chính khả năng
Trước TN 59 108 111 80 2,41
Sau TN 103 149 87 19 2,94
3. Khi học bài, em tóm tắt và học theo dàn ý hoặc sơ đồ tƣ duy.
Trước TN 12 74 82 190 1,74
Sau TN 107 126 104 21 2,89
4. Để chuẩn bị bài mới, em đọc SGK, tài liệu tham khảo và ghi chú.
Trước TN 8 76 139 135 1,88
Sau TN 99 112 120 27 2,79
Nhận xét:
Qua kết quả bảng 3.2, ta thấy HS đã có ý thức tự giác hơn trong học tập (câu 2 ĐTB lần 1 là 2,41 và ĐTB lần 2 là 2,94), HS biết cách học sao cho có hiểu quả, HS đã biết tham khảo tài liệu ngoài SGK , biết ghi chép lại những gì chƣa hiểu để chuẩn bị cho bài học mới (câu 4 ĐTB lần 1 là 1,88 và ĐTB lần 2 là 2,79).
PPDH theo dự án còn là tạo nhiều cơ hội để HS phát triển kĩ năng giao tiếp. Để đánh giá mức độ thay đổi kĩ năng này, chúng tôi dựa vào kết quả ở câu hỏi 5,6,7.
Bảng 3.4. Đánh giá kĩ năng giao tiếp Nội dung thăm dò
Số lƣợng
ĐTB Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm
khi Không
5. Em mạnh dạn đưa ý kiến Trước TN 57 104 128 59 2,39
Sau TN 94 143 102 19 2,87
6. Em luôn cảm thấy tự tin khi góp ý cho bạn.
Trước TN 42 86 142 88 2,23
Sau TN 101 142 98 17 2,91
7. Khi bạn có ý kiến trái với ý kiến của em, đợi bạn nói xong rồi em mới đƣa ý kiến.
Trước TN 72 107 123 56 2,54
Sau TN 125 168 49 16 3,12
8. Khi đã nắm rõ vấn đề, em chủ động ra quyết định, không lắng nghe ý kiến của bạn.
Trước TN 134 107 76 41 2,07
Sau TN 18 83 135 122 3,00
Nhận xét:
Dựa vào bảng 3.3 ta thấy các ĐTB sau TN đều tăng so với trước TN, chứng tỏ kĩ năng giao tiếp của HS đã có sự thay đổi theo hướng tích cực sau khi tham gia các giờ học theo dự án. Cụ thể đối với việc lắng nghe ý kiến của bạn, HS đã biết cách thể hiện cho dù ý kiến của bạn là khác ý với bản thân hay đó là một vấn đề mà bản thân đã nắm rõ. Các em đã tự tin nhiều hơn khi phát biểu ý kiến (câu 5 trước TN ĐTB là 2,39; sau TN ĐTB là 2,87) và biết cách góp ý cho bạn.
Đối với kĩ năng diễn đạt, chúng tôi thăm dò qua nội dung câu 9, câu 10. Sự tự tin khi trình bày một vấn đề trước tập thể lớp của các em đã thay đổi đáng kể (bảng 3.6, trước TN ĐTB là 2,17; sau TN ĐTB là 2,73) do HS có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động học tích cực.
Bảng 3.5. Đánh giá khả năng diễn đạt.
Nội dung thăm dò
Số lƣợng
ĐTB Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm
khi Không 9. Em cảm thấy tự tin khi giảng
bài cho bạn.
Trước TN 45 89 142 82 2,27
Sau TN 104 145 72 37 2,88
10. Em tự tin khi trình bày một vấn đề trước tập thể
Trước TN 40 85 130 103 2,17
Sau TN 88 115 124 31 2,73
Để đánh giá kĩ năng hợp tác của HS thay đổi nhƣ thế nào sau quá trình tham gia TN, chúng tôi dựa vào kết quả thăm dò HS ở câu 11, 12, 13, 14, 15 và 16.
Bảng 3.6. Đánh giá năng lực hợp tác nhóm.
Nội dung thăm dò
Số lƣợng
ĐTB Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm
khi Không 11. Khi gặp vấn đề chƣa hiểu, em
sẽ trao đổi với bạn.
Trước TN 62 109 121 66 2,47
Sau TN 155 137 60 6 3,23
12. Khi bạn trình bày vấn đề mà em không hiểu, em sẽ hỏi lại bạn.
Trước TN 67 100 114 77 2,44
Sau TN 143 128 79 8 3,13
13.Khi bạn không hiểu bài, em sẵn lòng giải thích.
Trước TN 75 155 99 29 2,77
Sau TN 159 144 50 5 3,28
14. Em luôn có cơ hội thể hiện khả năng của mình.
Trước TN 63 94 114 87 2,37
Sau TN 107 136 83 32 2,89
15.Em học hỏi đƣợc nhiều điều ở bạn qua các giờ học dự án.
Trước TN 91 106 89 72 2,60
Sau TN 162 128 57 11 3,23
16. Khi bạn chƣa hiểu ý của em, em sẽ tìm mọi cách trình bày để bạn hiểu.
Trước TN 98 119 75 66 2,70
Sau TN 115 133 92 18 2,96
Nhận xét:
Với kết quả bảng 3.7 cho thấy HS đã biết cách hợp tác với nhau trong quá trình hoạt động, cụ thể:
- Khi bạn trình bày mà em chƣa hiểu, ban đầu HS còn ngại hỏi lại bạn, sau khi đã tham gia học theo dự án, các em nhận thấy đƣợc lợi ích của việc học từ bạn nên đã có sự thay đổi tích cực (câu 12, trước TN 2,44, sau TN 3,13); từ đó các em chủ động hỏi khi không hiểu bất cứ một vấn đề nào đó (câu 11, trước TN 2,47, sau TN 3,23).
- Ý thức giúp đỡ bạn cùng nhóm cũng đã tăng đáng kể, sẵn lòng giải thích để bạn hiểu (câu 13, trước TN ĐTB là 2,77; sau TN ĐTB là 3,28) và tìm mọi cách diễn đạt để bạn hiểu được ý của mình (câu 16, trước TN ĐTB là 2,70; sau TN ĐTB là 2,96). Các em cũng nhận thấy được lợi ích từ việc tham gia hoạt động nhóm là có cơ hội thể hiện năng lực của mình đồng thời cũng luôn học hỏi đƣợc nhiều ở những người bạn trong nhóm (câu 15, trước TN là 2,60; sau TN là 3,23).
Qua kết quả phân tích các phiếu thăm dò HS, chúng tôi có nhận xét:
1. Hầu hết HS đều nhận thấy lợi ích của PPDH theo dự án mang lại cho người học, nên mong muốn được học theo phương pháp này.
2. Sau một thời gian học theo dự án các hành vi, ứng xử, thái độ của HS thay đổi theo chiều hướng tích cực, các kĩ năng hoạt động của HS đều có tiến bộ. Đặc biệt là năng lực hợp tác của HS được nâng lên đáng kể.
3.5.1.3. Ý kiến của học sinh về học theo dự án
Chúng tôi thực hiện thăm dò 358 HS của 2 khối lớp thực nghiệm (4 lớp 8 và 6 lớp 9) về hình thức học theo dự án. Kết quả nhìn chung là HS thấy hứng thú với hình thức học theo dự án hơn hình thức thông thường. Số phiếu phát ra 358 thu về 307.
Bảng 3.7. Ý kiến HS về học theo dự án
Stt Nội dung Mức độ
1 2 3 4 5 TB
1 Thầy/cô của em thường đặt ra các vấn đề lý thú
gắn bài học với thực tiễn. 20 20 120 48 99 3.61
2 Thầy/cô thường giao bài tập cho các em dưới
dạng dự án, làm theo nhóm. 120 108 41 21 17 2.05
3 Khi học theo dự án nhóm em thường thảo luận
rất sôi nổi. 8 10 24 131 134 4.21
4 Học theo dự án làm cho kiến thức của em vững
vàng hơn, nhớ bài lâu hơn. 0 15 22 120 150 4.32
5 Em thấy rất thích học theo dự án. 5 10 12 130 150 4.34 6 Học theo dự án em thu đƣợc kiến thức nhiều hơn
so với cách học thông thường. 2 12 3 147 143 4.36
7 Học theo dự án làm cho kỹ năng tìm kiếm và
trình bày thông tin của em đƣợc tăng lên. 4 8 26 132 137 4.27 8 Em rất thích vận dụng kiến thức đã học vào thực
tế cuộc sống. 2 3 33 92 177 4.43
9 Việc học theo dự án sẽ phát huy tính tích cực học
tập. 20 4 8 112 163 4.28
10 Việc học theo dự án sẽ tạo hứng thú học tập cho
các em, không bị gò bó học thuộc lòng. 0 2 8 79 218 4.67 11 Việc học theo dự án giúp em vận dụng rất tốt
kiến thức học đƣợc vào cuộc sống. 11 6 4 62 224 4.57 12 Thực hiện dự án học tập em thấy việc học có ý
nghĩa rất nhiều. 3 4 11 91 198 4.55
13
Học theo dự án giúp thầy/cô hiểu đƣợc những thuận lợi và khó khăn của học sinh trong học tập từ đó giúp đỡ học sinh thiết thực hơn.
5 9 10 89 194 4.49
Nhận xét:
Hình thức học theo dự án rất ít được GV áp dụng (câu 2). Nguyên nhân theo chúng tôi là do mục tiêu học tập không cần thiết phải phát triển kĩ năng làm việc theo nhóm. Mặt khác những bài tập hiện nay chỉ cần một cá nhân cũng có thể giải quyết được, không cần phải cả nhóm tham gia.
Những ưu điểm của dạy học theo dự án được HS đánh giá cao (câu 4, 6, 7, 9, 10, 11, 12). Hầu hết các em cho rằng: học theo dự án làm cho kiến thức của em vững vàng hơn, nhớ bài lâu hơn; thu được kiến thức nhiều hơn so với cách học thông thường; kỹ năng tìm kiếm và trình bày thông tin của em được tăng lên; tạo hứng thú học tập cho các em, không bị gò bó học thuộc lòng; vận dụng rất tốt kiến thức học được vào cuộc sống; qua mỗi dự án, thầy cô cũng hiểu những thuận lợi và khó khăn của các em để kịp thời giúp đỡ.
3.5.1.4 Ý kiến của GV về dạy học theo dự án
Sau khi thăm dò ý kiến học sinh, chúng tôi đã có buổi trao đổi, lấy ý kiến của các GV dạy các lớp TN về việc áp dụng PPDH theo dự án trong dạy và học bộ môn Hóa học ở trường THCS mà chúng tôi thực nghiệm.
Ý kiến của cô Nguyễn Thị Sáu, GV trường THCS Nguyễn Hàm Ninh:
- Không khí lớp học sôi nổi, tạo sự hứng thú trong học tập của HS.
- HS có sự chia sẻ và thảo luận với nhau về các vấn đề của dự án, do đó HS hiểu sâu sắc bài học.
- Sau các giờ học theo hình thức hoạt động nhóm cộng tác, các HS thân thiết, giúp đỡ nhau nhiều hơn; HS dạn dĩ hơn khi giao tiếp; giữa GV và HS cũng có sự thân thiện hơn.
- Ở các tiết dạy thực nghiệm đầu, do GV và HS chƣa quen cách hoạt động nên hay bị mất nhiều thời gian và trễ giờ.
- Cách đánh giá hiệu quả nhƣng mất nhiều thời gian nếu không quản lí.
- DHTDA là phương pháp hay, nhưng để thực hiện thì GV tốn nhiều công sức.
Ý kiến của thầy Hoàng Anh Cương, GV trường THCS Nguyễn Hàm Ninh:
- Các hình thức hoạt động phong phú, phù hợp với nhiều đối tƣợng HS.
- Khi đã thành thục các bước hoạt động thì việc điều hành HS hoạt động cũng rất đơn giản.
- HS hứng thú với cách học, càng về sau tinh thần hợp tác của HS càng cao, sẵn sàng giúp đỡ nhau để nhóm hoàn thành nhiệm vụ.
- Kết quả học tập của các em có nhiều tiến bộ, các em nhớ bài lâu hơn.
- Phương án đánh giá đã tránh được tình trạng “ăn theo”, nhưng còn phức tạp, mất nhiều công sức của GV.
- Phương pháp này có thể áp dụng trong dạy học Hóa học ở các khối lớp 8 và 9.
Ý kiến của cô Hồ Thị Thùy Nhung, GV trường THCS Ba Đồn:
- Giờ học sôi nổi, không khí lớp học thân thiện.
- Ban đầu HS chƣa quen với cách học dự án, nên sự di chuyển nhóm; sự chia sẻ suy nghĩ, kiến thức còn hạn chế. Sau khi thực hiện xong dự án thứ nhất, HS đã tích cực trong hợp tác nhóm để hoàn
thành nhiệm vụ của nhóm tốt hơn.
- Vì phải giảng lại cho các bạn trong nhóm, nên HS chuẩn bị bài rất kĩ, chủ động nắm kiến thức.
- Sau thời gian tham gia học theo PPDH hợp tác nhóm khả năng nói, diễn đạt của HS thay đổi rõ ràng: trình bày lưu loát, rõ ràng, mạnh dặn.
- Phương án đánh giá điểm của cá nhân và điểm nhóm đã đánh giá chính xác khả năng hoạt động của HS.
- Ban đầu GV chƣa có kinh nghiệm quản lí lớp, do đó lớp học còn ồn ào lộn xộn, luôn bị thiếu thời gian để thực hiện hết các hoạt động của giáo án.
- Phương pháp này đòi hỏi GV phải có năng lực quản lí, điều hành HS, kĩ năng giao tiếp tốt.
Ý kiến của Nguyễn Thị Mai Tuyết, GV trường THCS Ba Đồn:
- Khi mới tiếp cận hình thức DHTDA, cả GV lẫn HS đều rất bỡ ngỡ. Tuy nhiên, sau giai đoạn tìm hiểu thông qua bài mở đầu về học theo dự án thì GV và HS có một hình dung cụ thể về cách học này.
- HS tiếp thu bài tốt hơn, năng động hơn, lớp học trở nên thân thiện hơn.
- Điểm yếu của DHTDA là kĩ năng mà HS có đƣợc chƣa thể đo đếm bằng hình thức thi cử nhƣ hiện nay. Do đó, nhà trường ít quan tâm, chỉ coi như là phong trào hay hình thức học của tiết ngoài giờ lên lớp.
Ngoài ra, chúng tôi đã lưu trữ vào đĩa CD các nội dung: Kế hoạch bài học, Bài giới thiệu dự án của giáo viên, Sản phẩm của học sinh của các dự án đã thực nghiệm, sau đó phát phiếu tham khảo ý kiến của 27 giáo viên giảng dạy môn Hóa học trên địa bàn thị xã Ba Đồn.
Bảng 3.8. Đánh giá chung về các dự án
Stt Các dự án Mức độ
1 2 3 4 5
1 Đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết. 0 0 0 3 24
2 Bài giới thiệu dự án của GV hấp dẫn, lôi cuốn đƣợc HS. 0 0 2 23 2 3 Sản phẩm của HS đa dạng, phong phú, phù hợp lứa tuổi. 0 0 0 20 7
4 Các dự án đều thiết thực 0 0 0 0 27
5 Các dự án đều có giá trị về mặt sƣ phạm, là nguồn tƣ liệu dạy học rất tốt. 0 0 0 0 27 6 Học sinh tích hợp đƣợc kiến thức của nhiều môn học. 0 0 3 15 9
Hầu hết GV đều cho rằng DHTDA có tính thiết thực, có giá trị về mặt sƣ phạm, là nguồn tƣ liệu dạy học rất tốt (27/27). Các GV cũng cho rằng những dự án đã thực hiện có đầy đủ kiến thức và kĩ năng cần thiết, thậm chí có GV còn nhận xét với tác giả rằng mỗi dự án đã làm đƣợc điều cốt lõi của giáo dục là làm cho HS nghĩ về điều mà các em học đƣợc. Nhiều GV cũng cho rằng dự án là cơ hội để các em tích hợp kiến thức của các môn học, thể hiện trong SP của các em.
Bảng 3.9. Đánh giá về tính hiệu quả dạy học
Stt Các dự án Mức độ
1 2 3 4 5
1 Giáo viên đạt đƣợc mục tiêu dạy học. 0 0 0 21 6
2 Tránh đƣợc tình trạng trình bày nông cạn, hời hợt. 0 0 0 2 25 3 Tạo cơ hội thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động nhóm. 0 0 0 0 27
4 Rèn tƣ duy ở cấp độ cao cho học sinh. 0 0 0 19 8
5 Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. 0 0 0 3 24
6 Giúp giáo viên và học sinh gần gũi nhau hơn. 0 0 0 12 15
7 Phù hợp với nhiều trình độ học sinh. 0 0 5 11 11
8 Nâng cao chất lƣợng dạy học. 0 0 7 15 5
Về tính hiệu quả dạy học, các GV nhất trí đây là phương pháp tốt để hoạt động nhóm đồng thời tránh đƣợc tình trạng trình bày vấn đề một cách hời hợt nông cạn của cả GV và HS. Đây cũng là một phương pháp nhằm nâng cao kĩ năng nghề nghiệp thông qua các kĩ năng mềm mà HS có dịp được thể hiện và học hỏi lẫn nhau.
Bảng 3.10. Đánh giá về tính hiệu quả học tập
Stt Các dự án Mức độ
1 2 3 4 5
1 Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề. 0 0 0 21 6
2 Tạo hứng thú học tập. 0 0 0 1 26
3 Thúc đẩy động cơ học tập. 0 0 4 17 6
4 Nâng cao khả năng tìm kiếm và trình bày thông tin. 0 0 0 0 27 5 Khơi dậy sự chú ý của học sinh thông qua bộ câu hỏi khung 0 0 2 14 11
6 Tận dụng đƣợc tối đa những khả năng xã hội. 0 0 0 3 24
7 Rèn cho học sinh nhìn vấn đề theo nhiều góc độ. 0 0 0 5 22
8 Hiểu vấn đề, khắc sâu kiến thức. 0 0 0 8 19
9 Phát triển tƣ duy sáng tạo. 0 0 0 4 23
Về tính hiệu quả học tập, đây là phương pháp được cho là nâng cao được kĩ năng tìm kiếm và trình bày thông tin, đó là một kĩ năng cần thiết trong một xã hội bùng nổ thông tin nhƣ hiện nay. Trong dạy học theo dự án, HS đƣợc phát huy tối đa năng lực bản thân và có cơ hội tìm hiểu thực tiễn, vì vậy hầu hết GV đánh giá phương pháp này tạo hứng thú học tập cho HS, tận dụng tối đa khả năng xã hội của HS đồng thời ƣơm mầm và phát triển tƣ duy sáng tạo của HS.