CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2011-2017 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.4. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2017
2.4.4. Về chính sách tín dụng
Giai đoạn 2011-2015, chính sách tín dụng chịu tác động của nhiều yếu tố vĩ mô đa chiều. Trong 2 năm đầu, truớc bối cảnh lạm phát cao và kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, điều hành chính sách tín dụng huớng tới việc kiểm soát lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ nửa cuối năm 2012 trở lại đây, truớc tình trạng suy giảm tăng truởng kinh tế trong nuớc, chính sách tín dụng cần phải có những điều chỉnh thích hợp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng truởng. Có thể nói trong cả giai đoạn vừa qua, chính sách tín dụng đã luôn có sự thay đổi, điều chỉnh cả về cơ chế điều hành, cơ chế tiếp cận cũng nhu định huớng chính sách phù hợp với tình hình mới với những đặc điểm nổi bật nhu sau:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế điều hành tín dụng đáp ứng những thay đổi của bối cảnh vĩ mô trong giai đoạn mới
Năm 2012 NHNN có sự đổi mới trong cơ chế điều hành nguồn vốn tín dụng.
Để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, NHNN xác định hạn mức tăng truởng tín dụng cho toàn hệ thống trong từng năm; đồng thời để nâng cao chất luợng tăng truởng tín dụng, thay vì để cho các tổ chức tự xác định chỉ tiêu tăng truởng tín dụng hàng năm, NHNN bắt đầu giao chỉ tiêu định mức tín dụng đối với từng nhóm ngân hàng trên cơ sở đánh giá năng lực tài chính của từng nhóm TCTD.
Việc công bố chỉ tiêu tăng truởng tín dụng gắn với việc đánh giá năng lực kinh doanh của nhóm các TCTD là một cơ chế quản lý mới về chỉ tiêu này, vừa góp phần kiểm soát mức tăng truởng tín dụng phù hợp với quản lý kinh tế vĩ mô, đồng thời phù hợp với năng lực của từng tổ chức tín dụng để vừa có thể đảm bảo an toàn của hệ thống các TCTD, vừa góp phần thực hiện các mục tiêu xuyên suốt trong cả giai đoạn vừa qua là ổn định vĩ mô.
Thứ hai, định huớng lại cơ cấu tín dụng, tăng tỷ trọng tín dụng cho khu vực sản xuất vật chất
Từ cuối năm 2011, do ảnh huởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, thị truờng bất động sản và thị truờng chứng khoán buớc vào giai đoạn trầm lắng, tổng cầu có khả năng thanh toán giảm thấp đòi hỏi phải thay đổi sự điều tiết đối với thị truờng tín dụng. Theo đó, NHNN đã thực hiện một loạt các giải pháp nhằm tháo gỡ những rào cản và xác định các lĩnh vực cần uu tiên đầu tu để tạo điều kiện cho dòng vốn tín dụng thực sự phục vụ cho phát triển kinh tế. Những hạn chế cho vay đối với lĩnh vực bất động sản, tiêu dùng từng buớc đuợc nới lỏng nhằm gia tăng dòng tín dụng
đưa vào khu vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. NHNN cũng xác định rõ 5 lĩnh vực ưu tiên (cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao) để hướng dòng vốn tín dụng của các TCTD đi vào đúng khu vực sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đây thực sự là thay đổi lớn trong việc điều hành, điều tiết và định hướng đối với thị trường tín dụng và việc điều chỉnh cơ cấu tín dụng được tiến hành từng bước, theo lộ trình đã không tạo ra những hiện tượng “sốc” hay phản ứng tiêu cực của thị trường.
Thứ ba, xây dựng chính sách tín dụng hướng tới khách hàng
- Quyết liệt trong việc điều chỉnh giảm lãi suất huy động để làm cơ sở giảm lãi suất cho vay thông qua việc xác lập “trần” lãi suất huy động. Số liệu cho thấy sau một thời gian ngắn, lãi suất huy động đã giảm mạnh từ mức trần 14%/tháng xuống hiện còn ở mức 5,5%/năm áp dụng đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng vào tháng 10/2014 và trong thực tế, một số tổ chức tín dụng còn điều chỉnh lãi suất thấp hơn “trần” của NHNN. Trên cơ sở lãi suất huy động được điều chỉnh giảm một cách “vững chắc”, các TCTD thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng: từ lãi suất cho vay ở mức khoảng 20%/năm đến nay phổ biến ở mức 6-11%/năm, trong đó, lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6- 7%/năm.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng xem xét trực tiếp tháo gỡ khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp thông qua các giải pháp như cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất cho khách hàng, tiếp tục cho vay mới để khách hàng có vốn tiếp tục sản xuất, vượt qua khó khăn. Đây là những hỗ trợ hết sức cần thiết và kịp thời để giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ và có nguồn lực tài chính cho chu kỳ sản xuất mới.
- Khơi thông những tắc nghẽn của dòng vốn tín dụng trong ngắn hạn song song với việc hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro tín dụng trong dài hạn. Tồn kho sản phẩm của doanh nghiệp và nợ xấu của các TCTD được ví như những “cục máu đông” ngăn cản dòng vốn tín dụng mới “chảy” vào nền kinh tế. Để giải quyết vấn đề này, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày
23/4/2012 quy định việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, theo đó đối với các doanh nghiệp tạm thời gặp khó khăn về tài chính nhưng được các TCTD cơ cấu lại thời hạn và đánh giá là hoạt động có chiều hướng tích cực thì TCTD được giữ nguyên nhóm nợ như trước khi cơ cấu, đồng nghĩa với việc không có sự thay đổi về đánh giá mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, và khách hàng có nhiều cơ hội hơn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Sau khi doanh nghiệp và nền kinh tế đã phục hồi, NHNN đã ban hành văn bản thay thế Quyết định 780, cụ thể là NHNN đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 (sửa đổi Thông tư 02) về phân loại tài sản, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế.