CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.3. KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế về việc điều hành CSTT sau khủng hoảng tài chính, một số bài học đuợc tổng kết nhu sau:
Thứ nhất, sử dụng các công cụ CSTT phi truyền thống trong điều kiện các công cụ CSTT truyền thống hết du địa.
Việc xem xét sử dụng các CSTT phi truyền thống trong bối cảnh lãi suất không phát huy tác dụng hoặc đã về gần mức 0% nhằm tăng cuờng hiệu lực của
CSTT đối với nền kinh tế là cần thiết. Nhiều chuyên gia kinh tế truớc đây vẫn cho rằng khi lãi suất ngắn hạn về tiệm cần 0% thì không còn chỗ cho công tác điều hành CSTT. Tuy nhiên, hành động của các quốc gia, đặc biệt là Mỹ, Nhật cho thấy sức mạnh của CSTT đối với nền kinh tế là vẫn có khi có thể tiếp tục nới lỏng các điều kiện tiền tệ thông qua việc tác động tới lãi suất dài hạn - là mức lãi suất thúc đẩy hoạt động đầu tu.
Thứ hai, thứ tự thực thi các CSTT đặc thù trong bối cảnh khủng hoảng.
NHNN cần căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng để đua ra những
giải pháp kịp thời theo tuần tự. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, phản ứng thông
thuờng của NHTW các quốc gia là hạ lãi suất ngắn hạn nhằm làm dịu tình hình thanh
khoản của thị truờng liên ngân hàng. Tuy nhiên, khi mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng tăng dần thì các biện pháp mạnh tay hơn cần đuợc thực hiện nhu nới lỏng các điều
kiện về tài sản bảo đảm để các NHTM tiếp cận đuợc nguồn thanh khoản từ NHTW hay
sau đó là thực hiện các biện pháp mua lại tài sản quy mô lớn (Nhật Bản, Mỹ) nhằm tác
động giảm lãi suất các công cụ tài chính trong các kỳ hạn khác nhau. Song song với đó,
công cụ định huớng mục tiêu chính sách cũng nên đuợc xem xét sử dụng nhằm tác động
tới kỳ vọng về lãi suất, lạm phát và tình hình kinh tế trong tuơng lai. Việc sử dụng truyền
thông để tuơng tác với thị truờng tuy khó đo luờng về mặt luợng nhung ít nhiều nghiên
cứu trên thế giới cũng tìm ra tác động tích cực của công cụ này trong việc hỗ trợ thực
Thứ tư, phối hợp giữa CSTT với các chính sách tài khóa và chính sách an toàn vĩ mô.
Sự phối hợp giữa CSTT, chính sách tài khóa và chính sách an toàn vĩ mô nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính đóng vai trò rất quan trọng. Trong bối cảnh khủng hoảng, CSTT nới lỏng được áp dụng có thể sẽ mang lại những tác động tích cực và tiêu cực, đặc biệt là lên lạm phát trong tương lai. Do đó, chính sách tài khóa và chính sách an toàn vĩ mô lúc này cần được nhấn mạnh để đảm bảo những tác động tiêu cực từ việc nới lỏng quá mức CSTT gây ra được trung hòa.
Thứ năm, cân nhắc lựa chọn đối tượng tác động của CSTT.
Sau khủng hoảng tài chính, tùy vào đặc điểm cấu trúc hệ thống tài chính mà tác động của CSTT lên các đối tượng sẽ không giống nhau. Đối với hệ thống tài chính phụ thuộc vào ngân hàng, sau khi cải thiện thanh khoản của hệ thống thì CSTT cần đóng vai trò thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, đặc biệt là đối với các khu vực ưu tiên (Thái Lan: doanh nghiệp vừa và nhỏ). Đối với hệ thống tài chính phụ thuộc cân bằng hơn vào thị trường vốn và tín dụng ngân hàng (Mỹ), CSTT cần hướng tới thực hiện song song vừa tác động vào thanh khoản của hệ thống ngân hàng vừa tác động vào khu vực tư nhân.
Thứ sáu, tăng cường sự phối hợp giữa NHTW các nước, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính.
Sự phối hợp giữa NHTW các quốc gia trong việc thực hiện CSTT là rất quan trọng nhằm hạn chế bớt chi phí thực hiện các công cụ CSTT. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, việc tồn tại các hợp đồng hoán đổi ngoại tệ là cần thiết nhằm nhanh chóng tháo gỡ thanh khoản cho các tổ chức tài chính của các doanh nghiệp nước ngoài đang đóng trên địa bàn một quốc gia khác.
Thứ bảy, hướng tới mô hình NHTW độc lập, minh bạch công bố thông tin.
Việc tổ chức thực thi CSTT của NHTW cần được độc lập với ý chí của Chính phủ, tức là NHTW không chịu sức ép từ phía Chính phủ. NHTW sẽ chịu trách nhiệm
trước Quốc hội. Các thông báo, thông cáo báo chí về các quyết định đưa ra trong các cuộc họp của hội đồng điều hành cần được công bố minh bạch và kịp thời.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tổng quan về CSTT bao gồm định nghĩa, các mục tiêu CSTT, công cụ điều hành CSTT. Bên cạnh đó, tổng quan về điều hành CSTT được thể hiện từ khái niệm cơ bản đến hiệu quả truyền dẫn CSTT rồi các nhân tố ảnh hưởng tới công tác điều hành CSTT. Nhằm tìm hiểu thực trạng điều hành và thực thi CSTT trong bối cảnh như khủng hoảng và suy thoái kinh tế từ quốc tế, chương 1 khai thác kinh nghiệm của Cục Dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thái Lan và NHTW Trung Quốc, từ đó rút ra 7 bài học cần thiết cho Việt Nam nhằm giúp CSTT tại Việt Nam thích nghi với bối cảnh mới - nền kinh tế đi vào vùng lãi suất tiệm cận 0%
hoặc hiệu quả truyền dẫn của kênh CSTT qua lãi suất chưa phát huy nhiều tác dụng.
Các bài học này bao gồm: (i) sử dụng các công cụ CSTT phi truyền thống trong điều kiện các công cụ CSTT truyền thống hết dư địa; (ii) thứ tự thực thi các CSTT đặc thù trong bối cảnh khủng hoảng; (iii) lựa chọn điều CSTT theo chính sách lạm phát mục tiêu; (iv) phối hợp giữa CSTT với các chính sách tài khóa và chính sách an toàn vĩ mô; (v) cân nhắc lựa chọn đối tượng tác động của CSTT; (vi) tăng cường sự phối hợp giữa NHTW các nước, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính;
(vii) hướng tới mô hình NHTW độc lập, minh bạch công bố thông tin.
"Mỹ 2,9 2 1,1 -2,6 2,8
^7EU 2,8 2,7 0,9 -4,1 1,7
Nhật Bản 2,2 2,4 -0,6 -6,3 3,9
Các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi 8,1 8,3 6,1 2,7 7,3
Trung Quốc 11,1 13 9 9,2 10,
Ản Độ 9,7 9,3 7,3 6,8 310,
ASEAN 5,4 6,3 4,9 1,7 46,9
Khu vực Đông Âu 6,3 5,4 2,9 -3,6 4,2
Khu vực Châu Mỹ La tinh Caribe 5,5 5,7 4,2 -1,7 6,1
CHƯƠNG 2