CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ
Mức độ ảnh hưởng của CSTT và chính sách tài khóa đối với tổng cầu (AD) phụ thuộc vào các yếu tố như độ nhạy cảm của mức cầu tiền tệ với lãi suất và độ nhạy cảm của nhu cầu đầu tư với lãi suất. Một mức cầu tiện tệ ít nhạy cảm với lãi suất và mức cầu đầu tư có mức nhạy cảm cao với lãi suất sẽ làm cho CSTT có hiệu quả. Trong trường hợp này chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong tổng lượng tiền cung ứng có thể dẫn đến sự biến động mạnh của tổng cầu; ngược lại, sự thay dổi trong chi tiêu của Chính phủ và thay đổi chính sách thuế ảnh hưởng đến tổng cầu mạnh khi mức cầu tiền tệ có mức nhạy cảm cao với lãi suất và mức cầu đầu tư ít nhạy cảm lãi suất.
1.2.3.2. Tốc độ ảnh hưởng của CSTT đến tổng cầu (time lags)
CSTT cũng như chính sách tài chính không ảnh hưởng ngay lập tức đến tổng cầu của nền kinh tế. Hiệu quả tác động của chúng thường chậm một thời gian sau sự tăng/giảm tiền trung ương hoặc chi tiêu Chính phủ. Khoảng thời gian cần thiết để một chính sách phát huy hiệu quả gồm:
+ Thời gian lập chính sách từ khi nhận ra các vấn đề của nền kinh tế vĩ mô cần điều chỉnh đến khi hoàn thành các chỉ tiêu cụ thể của chính sách là khoảng thời gian cần thiết cho các nhà làm chính sách để phát hiện ra các vấn đề vĩ mô, thời gian thảo luận và lựa chọn các giải pháp cần thiết và sau đó là thời gian thực hiện các giải pháp đó. Khoảng thời gian này được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn nhận dạng vấn đề và giai đoạn hành động.
Giai đoạn đầu, NHTW phải khẳng định một cách chắc chắn và chính xác các
vấn đề kinh tế đang phát sinh và sự cần thiết phải có các giải pháp để khắc phục.
Đây là giai đoạn quan trọng và thông thường “time lags” kéo dài. Đôi khi các dấu hiệu của nền kinh tế không phản ánh chính xác những vấn đề kinh tế phát sinh. Vì thế các nhà làm chính sách phải có khả năng dự báo sự biến động kinh tế trong tương lai và ảnh hưởng của các chính sách sẽ được áp dụng đến tình trạng đó. Trên cơ sở dự báo, các công cụ chính sách cũng như liều lượng sử dụng được thiết lập.
Giai đoạn hai là giai đoạn sử dụng công cụ chính sách để thay đổi các điều kiện tiền tệ nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh. Nói chung, thời gian cho giai đoạn này đối với CSTT thường ngắn hơn CSTC bởi NHTW có khả năng can thiệp hàng ngày trên thị trường ngắn hạn.
Nếu như 2 giai đoạn này phụ thuộc vào bản thân các nhà làm chính sách thì các thời gian tiếp theo nhằm phát huy hiệu quả của chính sách lại phụ thuộc thị trường và công chúng (outside lags).
+ Thời gian ảnh hưởng đến thành phần của tổng chi tiêu của xã hội. CSTT ảnh hưởng đến chi tiêu nhưng qua những kênh gián tiếp. Ảnh hưởng trực tiếp của CSTT là đối với mức lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, sau đó ảnh hưởng đến chi tiêu (đầu tư hay tiêu dùng). Sự truyền tác động của lãi suất ngắn hạn tới sự thay đổi của chi tiêu phải mất một khoảng thời gian nhất định và biến động tùy các nhân tố ảnh hưởng.
+ Thời gian gây ra hiệu ứng lan truyền đến tổng chi tiêu. Sự thay đổi của các chi phí độc lập kéo theo sự thay đổi của GDP thực tế và sau đó kéo theo sự thay đổi của chi phí tiêu dùng và điểm cân bằng của tổng chi tiêu. Những ảnh hưởng này gây tác động theo bội số và phải cần có một thời gian nhất định. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp thay đổi mức dự trữ của nó thì GDP thực tế chỉ thay đổi sau khi doanh nghiệp đã điều chỉnh dự trữ đến mức mong muốn, sau khi GDP thực tế thay đổi thì các chi phí phụ thuộc mới bắt đầu thay đổi, sự thay đổi của các chi phí này lại làm cho GDP thực tế thay đổi tiếp.
Nhu cầu dự trữ thay đổi ÷ Điều chỉnh dự trữ ÷ GDP thay đổi ÷ Chi phí phụ thuộc thay đổi ÷ GDP thay đổi.
Quá trình ảnh hưởng này kết thúc khi GDP thực tế cân bằng với tổng chi tiêu, cả CSTT và CSTK đều mất thời gian như nhau để có ảnh hưởng này.
+ Thời gian điều chỉnh giá: Đó là khoảng thời gian để sự thay đổi của điểm cân bằng mới GDP ảnh hưởng đến mức giá cả. Sự tăng lên của điểm cân bằng chi tiêu làm cho tổng cầu AD dịch sang bên phải, mức giá bắt đầu tăng lên nhưng sự chuyển động này thương là chậm chạp ban đầu và sau đó tăng lên khi nó kéo theo sự tăng giá của các yếu tố sản suất, những yếu tố này, đến lượt nó lại làm dịch chuyển đường AS sang bên trái.
1.2.3.3. Sự thiếu chính xác của mô hình kinh tế vĩ mô được lựa chọn
Các chính sách kinh tế vĩ mô được hình thành trên cơ sở phân tích các mô hình kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng một mô hình kinh tế vĩ mô không đúng hoặc cách xa thực tế để xây dựng CSTT có thể gây nên những phản ứng ngược chiều với mục tiêu đề ra. Đây cũng là lý do để việc thực hiện CSTT được thực hiện một cách tuần tự thông qua các mục tiêu trung gian. Điều này giúp các nhà làm CS có thể kịp thời điều chỉnh những sai lầm nếu có trong quá trình điều hành CSTT.
1.2.3.4. Sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu chính sách
Bản thân các mục tiêu CSTT là mâu thuẫn, vì thế trong ngắn hạn việc lựa chọn một mục tiêu thích hợp đồng nghĩa với việc hy sinh, trong một chừng mực nhất định, các mục tiêu khác tùy thuộc vào sự phân tích và quan điểm các nhà làm chính sách. Tuy nhiên, các quan điểm này có thể thay đổi khi có sự thay đổi của các chủ thể quản lý chính sách và điều này có thể dẫn đến việc lựa chọn một mục tiêu ngắn hạn khác với mục tiêu đã được lựa chọn trước đó. Kết quả là khả năng thực hiện mục tiêu dài hạn của CSTT trở nên khó khăn.
1.2.3.5. Mâu thuẫn giữa các nhà làm chính sách
Các nhà làm chính sách có thể mâu thuẫn trong việc lựa chọn mục tiêu, đặc biệt giữa CSTT và CSTK trong trường hợp NHTW độc lập với chính phủ. CSTT thường theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả trong khi CSTK theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Giả sử khi tổng cung tăng lên, các chính sách này sẽ có những phản ứng trái ngược nhau: NHTW muốn đẩy tổng cầu lên trong khi Bộ Tài chính lại có ý
muốn làm cho tổng cầu giảm xuống để duy trì mục tiêu tổng sản luợng. Ảnh huởng ròng của các phản ứng trái nguợc này là không rõ ràng.