BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ GIAI ĐOẠN 2011 - 2017

Một phần của tài liệu 152 Điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2017 - Bài học và hàm ý chính sách,Luận văn Thạc sỹ Kinh tế (Trang 44 - 49)

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2011-2017 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.2. BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ GIAI ĐOẠN 2011 - 2017

Nguồn: World Economic Outlook 4/2016, IMF* Số liệu dự báo

Giai đoạn 2011 - 2017, lạm phát toàn cầu không có biến động mạnh và áp lực lạm phát giai đoạn này không lớn như giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008 - 2010.

Lạm phát chỉ có xu hướng gia tăng trong năm 2011 với mức tăng đạt đỉnh 5,2% trước các áp lực biến động từ các yếu tố nguồn cung, tuy nhiên lại duy trì xu hướng giảm liên

tục trong những năm còn lại, và đến cuối năm 2015 chỉ dao động ở mức khoảng 2,8%.

Toàn cầu Các nền kinh tế phát triển

Nguồn: World Economic Outlook, 4/2016, IMF Giai đoạn 2011 - 2017, những biến động của môi trường kinh tế chính trị thế giới cũng đã tạo những tác động nhất định lên quá trình chu chuyển vốn toàn cầu, khiến tổng lượng vốn toàn cầu cũng như đối với từng khu vực có sự tăng giảm khác nhau qua từng giai đoạn và đối với từng cấu phần vốn đầu tư.

Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Dòng vốn FDI toàn cầu tăng trưởng không ổn định trong giai đoạn 5 năm vừa qua và đạt mức tăng trưởng cao nhất vào năm 2015 khi kinh tế toàn cầu thể hiện những tín hiệu phục hồi rõ nét hơn. Xét theo từng khu vực, dòng vốn đổ vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi có xu hướng gia tăng đều đặn qua các năm với lượng FDI thu hút luôn dao động ổn định ở ngưỡng xấp xỉ 700 tỷ USD. Trong khi đó, dòng vốn FDI đổ vào thị trường các nền kinh tế phát triển có xu hướng sụt giảm mạnh trong giai đoạn 2011 - 2014, từ mức trên 800 tỷ USD xuống còn trên 500 tỷ USD. Tuy nhiên, bước vào năm 2015, dòng vốn FDI bắt đầu quay lại các nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với mức tăng lên đến trên 90% so với năm 2014, đạt con số trên 900 tỷ USD.

Biểu đồ 2.3: Thống kê lượng FDI vào hàng năm theo nhóm các nền kinh tế

Nguồn: UNCTAD, 2015 Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp

Dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng có sự dịch chuyển khác nhau giữa các nền kinh tế và giữa các giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn 2011-2013, dòng vốn có xu hướng chảy ra khỏi thị trường các nước phát triển và đổ mạnh vào thị trường các nước mới nổi và đang phát triển. Tuy nhiên, ngược lại từ cuối năm 2014 trở lại đây, dòng vốn có xu hướng đảo chiều.

2.2.2. Bối cảnh kinh tế trong nước

Kinh tế vĩ mô đã dần được khôi phục, các chỉ số vĩ mô đã từng bước chuyển biến tốt hơn ở nửa sau giai đoạn 2011 - 2017. Tuy nhiên, những chuyển biến chỉ là bước đi ban đầu, những tồn tại thách thức tiềm ẩn vẫn luôn đặt ra đối với công tác điều hành chính sách vĩ mô nói chung và CSTT nói riêng.

Trong hai năm 2011-2012, tăng trưởng kinh tế liên tiếp sụt giảm, từ mức 6,42% năm 2010 xuống còn 6,24% trong năm 2011 và 5,25% trong năm 2012. Từ năm 2013 cho đến 2015, với nỗ lực điều hành chính sách, tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế đồng thời nhờ những tác động tích cực của sự phục hồi kinh tế thế giới, kinh tế trong nước bắt đầu có sự cải thiện đặc biệt ghi nhận mức tăng trưởng đột phá trong năm 2015, đạt 6,68%, vượt 0.48 điểm phần trăm so với kế hoạch đề ra.

Mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2015 cũng không đủ để kéo tăng trưởng cả giai đoạn 2011-2017 lên mức cao hơn giai đoạn 5 năm trước đó. Tính

chung cả giai đoạn 2011-2017, tăng trưởng bình quân toàn nền kinh tế ước đạt 5,91%, thấp hơn so với mức 6,32% của giai đoạn 2006-2010, đồng thời cũng không đạt được kế hoạch tăng trưởng 6,5-7% như mục tiêu kế hoạch.

Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2005-2015 (%)

Nguồn: TCTK Giai đoạn 2011 - 2017, cùng với việc chuyển hướng định hướng điều hành kinh tế từ thiên về tăng trưởng sang ổn định vĩ mô, tạo những nền tảng cho công cuộc tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, hoạt động đầu tư cũng chứng kiến những bước thay đổi nhất định. Thay vì đầu tư tràn lan, ồ ạt với lượng vốn đầu tư so với GDP có sự gia tăng liên tục như trước đây, hoạt động đầu tư giai đoạn 2011 - 2017 đã được kiểm soát để đảm bảo nâng cao tính hiệu quả, với tỷ lệ vốn đầu tư được khống chế ở mức tăng từ 33,5% - 35% GDP2.

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ đầu tư trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP (%)

Nguồn: TCTK

2 Trích từ Nghị quyết số 10/2011/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2015.

nhập khẩu Kim

ngạch

Tốc độ (%)

trọng so GDP

(%)

Kim ngạch

Tốc độ

(%) so GDP

(%)

2005 32447,1 22,5 61.42 36761,1 15,0 69.58 -4314

2006 39826,2 22,7 65.38 44891,1 22,1 73.70 -5064,9

2007 48561,4 21,9 68.38 62764,7 39,8 88.38 -14203,3

2008 62685,1 29,1 68.81 80713,8 28,6 88.61 -18028,7

2009 57096,3 -8,9 46.45 69948,8 -13,3 701 -12852,5

2010 72236,7 26,5 653 84838,6 21,3 766 -12601,9

2011 96905,7 34,2 727 106749,

8 25,8 801 -9844,1

2012 114529,

2 18,2 728 113780,

4 6,6 763 748,8

2013 132032, 9

15,3 721 132032, 6

16,0 772 63

2014 150042, 0

13,6 804 148058, 0

12,1 79,3 1984

2015 162400 8,1 84,78 165600 12 86,45 -3200

2016 176630 9 81.29 174110 5.2 80,36 2520

Hoạt động thương mại đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo ra bước phát triển kinh tế nhanh trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và tiếp đó trở thành thành viên đầy đủ của WTO, điều kiện trao đổi thương mại, thu hút đầu tư thuận lợi hơn rất nhiều so với trước; tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đều tăng lên rất mạnh, thường đạt trên 20% mỗi năm.

Đến nay kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tương đương với trên 80% GDP toàn nền kinh tế, phản ánh vị thế rất quan trọng đối với tăng trưởng chung.

Bảng 2.3: Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

(Đơn vị tính: triệu USD)

Nguôn: TCTK Lạm phát trong giai đoạn 2011 - 2017 đã được kiểm soát chặt chẽ, diễn biến theo xu hướng giảm nhanh, thậm chí ở mức thấp, góp phần giữ vững ổn định kinh

tế vĩ mô, tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nuớc.

Trong giai đoạn 5 năm, lạm phát tăng ở mức đỉnh trong năm 2011, sau đó đã giảm hơn một nửa vào năm tiếp theo và diễn biến ở mức thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu đặt ra. Mức tăng CPI qua các năm đã thể hiện xu huớng giảm dần, lần luợt đạt 6,81% năm 2012, 6,04% năm 2013, 1,84% năm 2014 và 0,6% năm 2015.

Biểu đồ 2.6: Tốc độ tăng CPI so cùng kỳ năm trước giai đoạn 2007 - 2015

Một phần của tài liệu 152 Điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2017 - Bài học và hàm ý chính sách,Luận văn Thạc sỹ Kinh tế (Trang 44 - 49)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(103 trang)
w