Giáo dục Pháp – Việt từ 1886 đến 1895

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 23 - 26)

CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM TRƯỚC CẢI CÁCH CỦA THỰC DÂN PHÁP

1.2. Sự xâm nhập của giáo dục Pháp vào nền giáo dục bản xứ (1862-1905)

1.2.2. Giáo dục Pháp – Việt từ 1886 đến 1895

Sau khai đưa quân đàn áp những cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, người Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa một cách quy mô lớn, vì thế giáo dục trong giai đoạn này cũng nhằm mục đích phục vụ cho kinh tế và chính trị. Cũng từ năm 1886, tình hình giáo dục có sự thay đổi khi Paul Bert4 được giữ chức Tổng trú sứ Bắc Kì và Trung Kì. Nắm quyền trong một thời gian ngắn chưa tới một năm, Paul Bert đã chỉ định Gustav Dumoutier, một chuyên gia về Hán học và Đông phương học làm nhà tổ chức thanh tra giáo dục Pháp – Việt. Khác với những chính sách giáo dục của

4 Paul Bert (1833-1886) là một nhà chính trị, một nhà giáo nổi tiếng, có uy tín nên được chính phủ

Pháp cử sang làm quan cai trị tại Việt Nam.

những Đô đốc tại Nam Kì, Paul Bert chủ trương thiết lập nền giáo dục phương Tây, nhưng không bắt người Việt bỏ chữ Hán để học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Paul Bert cho tiến hành xây dựng một số trường tiểu học dành riêng cho nam sinh và nữ sinh, trường dạy nghề để đào tạo công nhân mộc và rèn, làm đồ mỹ nghệ. “Sau một năm ráo riết hoạt động, P.Bert đã tổ chức được một trường thông ngôn, 9 trường tiểu học con trai, 4 trường tiểu học con gái, chương trình học giống như các trường tiểu học Nam Kì, một trường dạy vẽ và 117 trường dạy Quốc ngữ” [6, tr. 59].

Đến tháng 7/1886, P. Bert còn kí Nghị định thành lập “Bắc Kì Hàn lâm viện” để tập hợp những nhà thông thái đất Bắc có học vị từ Cử nhân trở lên và dự tính sẽ mở một nhà in bằng chữ Hán và tổ chức một tờ báo chữ Hán có phần dịch ra chữ Pháp và chữ Quốc ngữ để làm cơ quan ngôn luận của Viện Hàn lâm. Nhưng cuối năm 1886, P.

Bert chết, phần lớn công cuộc giáo dục mà ông dự tính đều lại đình lại, mãi đến khi De Lanessan mới dần thực hiện. Ngày 28/12/1886, sau cái chết của Paul Bert, quyền Tổng trú sứ Paulin Vial ra Nghị định về việc cấp 100 học bổng cho học sinh bản xứ vào học trường Thông ngôn Yên Phụ (Hà Nội). Trong thời gian này, các trường học công chủ yếu là trường Pháp dành cho người Pháp và học sinh là con em quan lại hay những người giàu có ở Bắc Kì.

Năm 1887 và 1888, Pháp cho mở các trường học mới ở Mông Phụ (gần Sơn Tây), Thanh Ba và Tuần Quán (vùng thượng lưu sông Hồng) để đào tạo phiên dịch cho các lực lượng quân viễn chinh Pháp ở vùng núi phía Bắc. Bên cạnh đó, người Pháp còn cho thành lập các trường học và khóa học dạy tiếng Pháp tại một số vùng có sự chiếm như Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái, Bảo Lạc, Lạng Sơn, Móng Cái, Na Sầm, Đồng Đăng, Thất Khê. Đến năm 1896, theo thống kê của Đại tá Joux, chỉ huy đạo quân vùng Lạng Sơn, số lượng học sinh ở những trường học này như sau: 34 học sinh ở Lạng Sơn; 2 học sinh ở Than Moi; 22 học sinh ở Na Sầm; 12 học sinh ở Thất Khê;

12 học sinh ở Bình Giả; 10 học sinh ở Bắc Sơn [Trần Thị Phương Hoa, GD Pháp – Việt ở Bắc Kì, tr. 38].

Trong khi đó, các trường công Pháp – Việt ở Bắc Kì phát triển khá chậm ở các trung tâm thành phố. Năm 1890, Hải Phòng bắt đầu khai giảng một trường học dành riêng cho nam sinh và một trường học dành cho nữ sinh. Năm 1891, Hà Nội thành lập trường dành cho trẻ em người Pháp đến đây học, với số lượng 22 học sinh. Cũng trong năm này, Tổng Thanh tra Thuộc địa BIdaut đã triệu tập ở Hà Nội một Ủy ban về Giáo dục Pháp – Việt. Ủy ban này có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề về phương pháp sư phạm. Sau khi đã thảo luận, Ủy ban đưa ra kết luận như sau: 1. Đem các kết quả của giáo dục của Pháp áp dụng cho người An Nam; 2. Mọi sự can thiệp chính thức của chính phủ Bảo hộ đối với giáo dục công ở Bắc Kì đều phải có ý nghĩa chính trị với

mục tiêu đầu tiên là phổ biến tiếng Pháp [Trần Thị Phương Hoa, GD Pháp –Việt ở Bắc Kì, tr. 39]. Sau đó một năm, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định số 467 quy định mức lương của giáo viên tiểu học bản xứ thuộc Sở Học chính Bắc Kì:

Bảng 1.1. Mức lương quy định đối với giáo viên tiểu học bản xứ thuộc Sở Học chính Bắc Kì năm 1892

Giáo viên tiểu học bản xứ chính ngạch

Hạng Mức lương hàng năm 1 625.00 (đồng Đông Dương)

2 562.00

3 500.00

4 437.00

5 375.00

6 325.00

Giáo viên trợ giảng tiểu học bản xứ

1 275.00

2 237.00

3 200.00

4 157.00

(Nguồn: Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, tr. 59) Đến năm 1894, khi De Lanessan được cử sang làm Toàn quyền, ông đã từng bước thực hiện một số công việc mà Paul Bert chưa thực hiện được. De Lanessan cho phục hội những lớp học chữ Quốc ngữ và chữ Hán cho các quan chức người Pháp, thành lập nhà in và ra tờ Công báo bằng chữ Hán. Ngôn ngữ là một trong những vấn đề luôn làm người Pháp bối rối và gây nhiều tranh cãi trong chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp khi một bên chủ trương dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong hệ thống giáo dục Pháp – Việt tại Bắc Kì và một bên dạy cả chữ Quốc ngữ và chữ Nho.

Tuy nhiên, chính quyền thuộc địa không đủ điều kiện tài chính nên vẫn duy trì trường học Nho học nhưng có sự bổ sung những môn học mới về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Liên quan đến việc tổ chức giáo dục tại Bắc Kì, Toàn quyền Đông Dương De Lanessan quyết định thành lập Ủy ban Học chính thường trực chịu trách nhiệm kiểm soát chương trình giảng dạy cũng như đôn đốc học sinh các trường học Pháp – Việt tại Hà Nội vào tháng 5/1895 và đến tháng 12/1895, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ban hành một Nghị định tiếp theo về việc đặt trường nam sinh và nữ sinh dưới sự giám sát của Công sứ - Đốc lí Hà Nội. Cũng theo nội dung của Nghị định, Toàn quyền Đông Dương sẽ trợ cấp hằng năm cho những trường này là 10.836.81 đồng Đông Dương.

Như vậy có thể nhận thấy rằng, chính sách giáo dục mà người Pháp thiết lập

trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào Bắc Kì. Trừ trường thông ngôn là của chính quyền thuộc địa chủ trương thiết lập, thì các trường tư Nho học vẫn tục phát triển nhưng có bổ sung thêm các môn học về tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, toán. Trước khi chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Bắc Kì chính thức ban hành, các trường tiểu học ở Bắc Kì giảng dạy tiếng Pháp, toán, địa lý, lịch sử bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán.

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 23 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)