Giáo dục Pháp – Việt từ 1896 đến 1905

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 26 - 31)

CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM TRƯỚC CẢI CÁCH CỦA THỰC DÂN PHÁP

1.2. Sự xâm nhập của giáo dục Pháp vào nền giáo dục bản xứ (1862-1905)

1.2.3. Giáo dục Pháp – Việt từ 1896 đến 1905

Trung Kì chính thức trở thành đất bảo hộ của chính quyền thực dân sau hai hòa ước Harmand năm Quí Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884. Bắt đầu từ thời gian này, Pháp đưa Trung Kì vào “quỹ đạo” của công cuộc khai thác thuộc địa trên toàn cõi Đông Dương. Cũng giống như Nam Kì và Bắc Kì, người Pháp chú trọng và đầu tư vào lĩnh vực giáo dục xuất phát từ đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ tay sai.

Để nhằm đào tạo con em tầng lớp quý tộc trong triều đình nhà Nguyễn thành những quan cai trị trung thành với chính quyền thực dân, người Pháp cho thành lập trường Quốc học Huế vào năm 1896, đặt dưới sự giám sát của Khâm sứ Trung Kì, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính để giảng dạy trong nhà trường. Còn chữ Hán được sử dụng song song với chữ Pháp. Đối tượng vào học ở trường là con của hoàng thân, vương công (công tử) và thanh niên dòng dõi hoàng tộc, con của các quan lại (ấm tử), học sinh Trường Quốc Tử Giám cũng như học sinh trường chính quy mở tại thủ phủ các tỉnh, nếu có nguyện vọng sẽ được nhận vào học và có quyền hưởng trợ cấp, miễn là đáp ứng yêu cầu về trình độ học vấn, tuổi từ 13 đến 20. Thời gian học kéo dài từ 5 đến 6 năm.

Nghị định cũng nêu rõ Giám đốc trường và thành phần nhân sự phải do do Khâm sứ Trung Kì bổ nhiệm, thông qua, trong khi ngân sách hoạt động của nhà trường hoàn toàn do triều đình Huế chịu trách nhiệm. Đến ngày 9/2/1897, Khâm sứ Trung Kì ban hành một nghị định mới, bổ nhiệm ông Ngô Đình Khả làm Hiệu trưởng nhà trường.

Đây cũng là vị Hiệu trưởng duy nhất là người Việt của trường, còn lại là người Pháp.

Năm 1897, Paul Doumer sang nắm quyền cai trị và bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương, gấp rút biến Việt Nam và Đông Dương thành một thuộc địa có khả năng đảm bảo nguồn lợi nhuận cao nhất cho người Pháp. Do vậy, từ cuôí thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chính quyền thuộc địa tăng cường thiết lập bộ máy cai trị hành chính, theo đó, giáo dục cũng không nằm ngoài mục đích này. Tuy nhiên vì chỉ lo tập trung củng cố chính quyền và bóc lột thuộc địa nên P. Doumer cũng chưa chăm lo nhiều đến giáo dục tại Đông Dương, mà mãi đến thời kì cai trị của Toàn quyền Paul Beau.

Cũng trong năm này, Paul Doumer cho thành lập một Phái đoàn khảo cổ thường

trực, đến năm 1900 chính thức được gọi Trường Viễn Đông Bác Cổ (École Francaise d’Extrême Oriente – E.F.E.O) – một cơ quan nghiên cứu khoa học lớn của Pháp, mà một trong những công việc đầu tiên là đề xuất một chương trình cải cách giáo dục.

Tháng 6/1898, P. Doumer kí Nghị định số 682 quy định thể thức thi chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong kì thi Hương. Nghị định có nội dung như sau:

“Điều 1. Chương trình của kì thi phụ cho khoa thi Hương, trường thi Nam Định theo quy định tại Nghị định ngày 06/6/1898 được ấn định như sau:

+ Tiếng Pháp

Môn thi viết: bài tập làm văn; bài chính tả; bài dịch từ tiếng Pháp sang chữ Quốc ngữ.

Môn thi vấn đáp: dịch nói từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp (có mở sách).

+ Chữ Quốc ngữ

Môn thi viết: bài chính tả; dịch từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ”.

Điều 2. Các môn thi viết và vấn đáp được chấm điểm từ 0 đến 20. Điểm số cần đạt được nhân hệ số như sau:

Môn thi viết 3

Bài chính tả bằng chữ Quốc ngữ 3

Bài dịch từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ 4

Bài chính tả bằng tiếng Pháp 5

Bài dịch từ tiếng Pháp sang chữ Quốc ngữ 5

Hội thoại 5

Dịch nói từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp 5

(Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, tr. 69) Ngoài việc thành lập các trường Pháp – Việt, chính quyền thuộc địa còn quan tâm đến đào tạo nghề. Nghị định ngày 17/2/1900 của Toàn quyền Đông Dương về việc thiết lập trường Canh nông Huế. Mục đích của trường đào tạo nguồn nhân lực và bác sĩ thú y phục vụ trong ngành nông nghiệp. Ngày 8/1/1902, người Pháp tiếp tục thành lập trường Y khoa tại Hà Nội, mục đích của trường nhằm đào tạo đội ngũ bác sĩ người bản xứ có khả năng đảm nhiệm, hỗ trợ các bác sĩ người Pháp, các hoạt động y tế tại Đông Dương cùng các chức vụ khác; Tham gia nghiên cứu khoa học về nguyên nhân và điều trị các bệnh của con người. Hai tháng sau, Toàn quyền Đông Dương cho thành lập trường Kĩ nghệ thuộc địa, nhằm đào tạo công nhân bản xứ trở thành thợ giỏi, có khả năng thi công các công trình nghệ thuật trong nước, quản đốc hoặc đốc công trong ngành công nghiệp gỗ, kim loại và xây dựng. Trường gồm 2 Ban: Ban Dạy nghề và Ban Mĩ thuật công nghiệp.

Còn tại Nam Kì, trường dạy nghề cũng được người Pháp cho thiết lập thông qua việc thành lập trường Y tế thực hành bản xứ ở Nam Kì (25/8/1903), trường Dạy nghề Sài Gòn (11/4/1904). Trường Y tế thực hành bản xứ ở Nam Kì được thành lập với mục đích y tá và nữ hộ sinh người Việt. Trường đặt dưới sự điều hành và quản lý của Chánh Sở Y tế Nam Kì, gồm 2 Ban: Ban Y khoa học trong 2 năm và Ban Hộ sinh thời gian học là 6 tháng. Còn trường Dạy nghề Sài Gòn được thành lập nhằm mục đích đào tạo công nhân kĩ thuật bản xứ, khóa học kéo dài trong 4 năm. Trưởng chỉ nhận học viên từ 16 tuổi trở lên, sinh tại Đông Dương, là công dân Pháp hoặc được nước Pháp bảo hộ và có khả năng theo học.

Nếu Paul Doumer là một Toàn quyền có “công” tạo lập nên Đông Dương, có sự tổ chức bộ máy hành chính chặt chẽ, một chương trình kinh tế có hiệu quả nhưng chưa chú ý đến giáo dục. Vì thế, sau khi Paul Beau nhận chức Toàn quyền Đông Dương đã chủ trương: “lấy lòng giai cấp thượng lưu Việt Nam bằng việc chinh phục tinh thần và tuyên bố “đã đến lúc phải thay thế chính sách thống trị bằng chính sách liên hiệp”

[Nguyễn Thế Anh, VN dưới thời Pháp đô hộ, tr. 165]. Một trong những chính sách liên hiệp mà Paul Beau thực hiện là thiết lập hệ thống giáo dục Pháp – Việt trong cả nước. Mặc khác, thực trạng phát triển chậm chạp của các trường Pháp – Việt ở Bắc Kì và Trung Kì cũng là một nhân tố khiến Paul Beau phải tiến hành yêu cầu phải tổ chức lại nền giáo dục ở Đông Dương. Theo đó, giáo dục ở Việt Nam sẽ được tổ chức theo hai bộ phận là giáo dục Pháp – Việt và giáo dục Pháp.

Ngày 20/6/1905, Toàn quyền Paul Beau ra Nghị định về tổ chức Nha học chính Đông Dương, bao gồm các Sở Học chính. Theo Nghị định này, Nha học chính có trách nhiệm:

“- Lập chương trình, thống nhất phương pháp giảng dạy và phối hợp với Giám đốc các Sở Học chính đề ra một kế hoạch giáo dục phù hợp nhất;

- Trình lên Toàn quyền những đề xuất nhằm cải thiện hoạt động giáo dục;

- Đề xuất kế hoạch xây mới các trường học hoặc tổ chức giáo dục” [Trần Thị Phương Hoa, GD Pháp – Viêt ở Bắc Kì, tr. 65].

Như vậy, chính sách giáo dục của người Pháp ở Trung Kì cũng giống như ở Bắc Kì và Nam Kì trước thời điểm cuộc cải cách giáo dục năm 1906 là đều chú trọng xây dựng các trường thông ngôn và đào tạo đội ngũ quan lại phục vụ cho bộ máy cai trị và công cuộc bóc lột thuộc địa. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục Pháp – Việt ở Bác Kì và Trung Kì còn quá ít, các trường Nho học vẫn còn tồn tại khá nhiều. Bên cạnh hệ thống giáo dục dạy chữ, người Pháp còn thiếp lập trường dạy nghề và trường dành riêng cho nữ sinh.

Bảng 1.2. Bảng thống kê trường Pháp – Việt năm 1900

Địa phương Trường Pháp – Việt

Trường Trung học

Số

học sinh Chú thích

Hà Nội 15 1

57

Ngoài ra Hà Nội còn có 16 lớp học buổi tối do các thôn ngôn dạy.

Các địa phương khác chưa có số liệu học sinh

Hải Phòng 5

Nam Định 4

Thanh Hóa 2

Vinh 2

Huế 2 1 400

Hội An 1

Nha Trang 1

(Phan Trọng Báu, GD VN cận đại, tr. 61)

Tiểu kết chương 1

Trong giai đoạn 1862 đến 1905, người Pháp đã từng bước thiết lập được hệ thống giáo dục Pháp – Việt tại Việt Nam, nhất là ở Nam Kì. Trong buổi đầu, người Pháp tỏ ra khá lúng túng khi thiết lập chính sách giáo dục tại đây, và điều gây khó khăn nhất đối với người Pháp là rào cản về ngôn ngữ. Do đó, người Pháp đã thiết lập nhiều trường Thông ngôn và sử dụng chữ Quốc ngữ làm phương tiện chuyển ngữ để giải quyết những khó khăn này. Vì Nam Kì là xứ thuộc địa của người Pháp và bằng một chính sách linh hoạt, các trường Pháp – Việt đã được xây dựng nhiều và trường chữ Hán hầu như bị xóa bỏ. Đối với Bắc Kì và Trung Kì do đây là vùng đất còn sự quản lí của triều đình phong kiến nhà Nguyễn nên hệ thống giáo dục trường Pháp – Việt ở đây còn hạn chế, riêng Trung Kì các trường dạy chữ Hán vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi.

Như vậy, ở ba kì với ba chế độ giáo dục khác nhau đã làm cho người Pháp gặp nhiều khó khăn trong việc điều hành và chỉ đạo. Vì thế, việc tiến hành cải cách giáo dục là một công việc cần phải thực hiện và những thành công cũng như thất bại trong việc tổ chức giáo dục tại Nam Kì, Bắc Kì và Trung Kì từ năm 1861 đến năm 1905 là bài học kinh nghiệm để rút ra trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất do Toàn quyền Paul Beau thực hiện.

CHƯƠNG 2

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 26 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)