CHƯƠNG 2. HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC (CHỦ YẾU) CỦA PHÁP Ở VIỆT NAM (1906-1939)
2.3. Cải cách giáo dục lần thứ hai (1917-193)
2.3.2. Cách thức tổ chức giáo dục của thực dân Pháp
Ngày 21/12/1917, Toàn quyền Albert Saurraut ban hành bộ Học chính Tổng quy (Règelement général de l’Instruction publique en Indochine) là bộ luật giáo dục gồm 7 chương, 558 điều quy định về cơ quan quản lí giáo dục, hệ thống trường lớp, cơ cấu tổ chức các loại trường, chương trình, quy định về giáo viên, cách thức đánh giá, thi cử, thanh tra nhà trường, ngân sách được áp dụng cho các xứ thuộc địa “nhằm thống nhất nền học chính trên toàn cõi Đông Dương” [11, tr. 717]. Nghị định gồm 3 điều:
“Điều 1. Bộ Học chính tổng quy kèm theo Nghị định ngày 12-12-1917 có hiệu lực thi hành từ ngày 15-03-1918.
Điều 2. Bãi bỏ tất cả các nghị định, quyết định trước đây của chính quyền địa phương liên quan đến cách thức tổ chức các cơ quan học chính ở Đông Dương, trừ những quy định vẫn còn hiệu lực.
Điều 3. Phó Toàn quyền Đông Dương, Giám đốc Nha Tài chính, những người đứng đầu chính quyền địa phương, Tổng Thanh tra Học chính chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này” [50, tr. 335].
9 Albert Saurraut được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương lần thứ nhất từ năm 1911 đến năm
1914.
Với việc áp dụng Học chính Tổng quy, đây được xem là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai với những nội dung sau:
2.3.2.1 Về cơ quan quản lí
Tiết II quy định về cơ quan quản lí giáo dục, đứng đầu là “Tổng nha Học chính Đông Dương” (Inspection générale de l’Instruction publique), thay mặt Toàn quyền chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến học chính toàn Đông Dương. Tổng Giám đốc là người chịu trách nhiệm quản lí Tổng nha Học chính Đông Dương và dưới quyền Tổng giám đốc là các quan “thị học”, thay Tổng giám đốc đi thanh tra xem xét các trường học. “Các quan thị học gồm có “Phổ thông học thị học” (Inspecteur de l’Enseignement général), “Thực nghiệp học thị học” (Inspecteur de l’Enseignement professionnel) và “Đồ thị học thị học” (Inspecteur de l’Enseignement du dessin).
Quan Phổ thông học thị học thay quan Tổng giám đốc đi thanh tra các trường đệ nhất và đệ nhị cấp. Quan Thực nghiệp học thị học và Đồ hoạ học thị học chuyên xem xét các trường dạy nghề và dạy vẽ” [17, tr. 98].
Đối với nền giáo dục Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nếu trước năm 1917, việc học của các trường bản xứ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thuộc sự giám sát của các quan học chính như đốc học (tỉnh), giáo thụ (phủ), huấn đạo (huyện). Đến khi Albert Sarraut ban hành Bộ Học chính Tổng quy, tất cả các chức quan học chính này bị bãi bỏ, việc học ở các xứ phải có sự giám sát của thanh tra người Pháp. Tại các huyện lị, tỉnh lị và các trường Tiểu học sẽ nằm dưới sự giám sát của quan Đốc học người Pháp. Trường Trung học cũng như các trường dạy nghề trực thuộc quan Thủ hiến (ở Bắc Kỳ trực thuộc Thống sứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ thuộc Khâm sứ Trung Kỳ và Nam Kỳ thuộc Thống đốc). Còn các trường Cao đẳng, Đại học do Nha Cao đẳng (Direction de l’Enseignement súperieur) để quản lý chung các trường cao đẳng, mỗi trường cao đẳng có một Hội đồng do Giám đốc trường làm chủ tịch.
Ngoài ra, Toàn quyền Albert Saurraut còn quy định thành lập một cơ quan gọi là
“Học chính cố vấn hội nghị” (Conseil consultatif de l’Instruction publique) để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giáo dục trên toàn Đông Dương do Toàn quyền làm chủ tịch, quan Tổng giám đốc Học chính và Đại học giám đốc làm phó chủ tịch, hội viên gồm năm đại diện chính quyền của năm xứ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Campuchia) do các quan Thủ hiến các xứ thuộc Đông Dương chỉ định, ngoài ra còn có
“Giám đốc Viễn đông bác cổ, thanh tra giáo dục phổ thông, thanh tra trường dạy nghề và đồ họa, Hiệu trưởng trường Trung học Pháp ở Hà Nội, đại diện từ trường đại học, các nghị viên người Pháp và người Việt” [18, tr. 13].
2.3.2.2. Về tổ chức hệ thống giáo dục
Học chính Tổng quy xác định rõ: “nền giáo dục Việt Nam sẽ gồm hai hệ
thống: phổ thông và dạy nghề. Ở cả hai hệ thống này, các trường sẽ được chia làm hai loại: trường Pháp chuyên dạy cho người Pháp, theo chương trình "chính quốc"
và các trường Pháp - Việt, chuyên dạy người Việt theo chương trình bản xứ. Các trường được chia thành ba cấp: tiểu học, trung học và cao đẳng, đại học; ngoài ra là các trường dạy nghề, tương đương tiểu học và trung học” [48, tr. 215]. Theo như nội dung của Học chính Tổng quy, giáo dục Pháp – Việt phổ thông gồm ba bậc: đệ nhất cấp tức hệ Tiểu học (Enseignement primaire), đệ nhị cấp tức là hệ Trung học (Enseignement secondaire) và đệ tam cấp là Đại học hay Cao đẳng (Ecoles Supérieurs).
2.3.2.3. Về bậc đệ nhất cấp (Tiểu học)
Theo Học chính Tổng quy của Albert Sarraut thì mỗi xã sẽ thành lập một trường học, nếu xã nhỏ thì hai ba xã gần nhau có thể tổ chức chung một trường tiểu học.
Trường tiểu học được chia thành hai loại:
Trường Tiểu học Toàn cấp (École Primaire de plein exercice) có 5 lớp: Đồng Ấu (Enfantin) dành cho học sinh 7 tuổi, Dự bị (Préparatoire) dành cho học sinh 8 tuổi, Sơ đẳng (Élémentaire) dành cho học sinh 9 tuổi, Trung đẳng (Moyen) dành cho học sinh 10 tuổi, Cao đẳng (Supérieur) dành cho học sinh 11 tuổi, có cơ sở đặt tại tỉnh lỵ.
Trường Sơ đẳng Tiểu học (École Primaire Élémentaire) có từ 2-3 lớp: Đồng Ấu (Enfantin), Dự bị (Préparatoire), Sơ đẳng (Élémentaire), cơ sở đặt các xã. Học sinh sau khi học xong trường Sơ đẳng sẽ trở về nhà hoặc tiếp tục theo học tại các trường Tiểu học Toàn cấp để nhận bằng tốt nghiệp Tiểu học.
Chương trình học bậc Tiểu học gồm các môn: Luân lý, Giáo dục Thể dục và vệ sinh, Khoa học sơ lược, Thủ công, Pháp văn,… Thời gian học được quy định như sau:
“1. Các lớp học bậc giáo dục phổ thông phải chiếm 5,5 giờ mỗi ngày, trong đó có giờ ra chơi (5 giờ/lớp), tổng cộng là 27,5 giờ/tuần (không tính thứ 5 và chủ nhật).
2. Các tiết thể dục và bài tập thể chất diễn ra trong giờ ra chơi hoặc trong thời gian của tiết cuối buổi chiều, phải đạt tổng cộng là 2,5 giờ/tuần.
3. Các tiết học chữ Hán tại xứ An-nam tiến hành theo thời gian cố định là sáng thứ năm, với 1,5 giờ/tiết.
4. Thời gian dành cho bài tập vẽ nghệ thuật không quá 1 giờ/tuần.
5. Thời gian dành cho tiếng Pháp (đọc, học thuộc lòng, viết, chính tả, ngữ pháp, bài luận) ít nhất 1 giờ/tuần đối với các lớp cao đẳng và lớp nhất.
6. Tại các trường nữ sinh, mỗi buổi chiều sẽ có khoảng 1,5 giờ cho việc dạy nữ công gia chánh, giảm thời gian giảng dạy cho nam sinh” [50, tr. 369].
Đối với trường nữ sinh thì chương trình đào tạo giống như các trường Tiểu học chỉ có học thêm các môn gia chánh và những môn thủ công (thêu, đan, dệt vải,..). Mỗi
tỉnh ít nhất sẽ thành lập một trường Tiểu học toàn cấp dành riêng cho nữ sinh. Trường Cao đẳng Tiểu học chỉ có ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, còn bậc Trung học thì không có trường riêng cho nữ sinh. Nếu những tỉnh nào chưa có điều kiện để mở trường nam và nữ riêng, có thể học chung trường hoặc chung thầy, nhưng phải tách làm lớp riêng, trừ lớp Đồng ấu được học chung. Tuy tỉ lệ nữ sinh so với nam sinh còn thấp nhưng so với giáo dục trước đó là một bước tiến và phần nào đã thể hiện sự quan tâm của chính quyền thuộc địa đến giáo dục nữ giới trong lần cải cách giáo dục này. Điều đó được thể hiện qua số liệu sau:
Bảng 2.4. Số lượng giáo viên và học sinh bậc Cao đẳng Tiểu học nữ sinh năm học 1922 – 1923
Trường
Đội ngũ giáo viên Học sinh
Người Âu
Người bản
xứ Bậc Sơ học Bậc Trung học
Trung học Đồng Khánh 5 7 358 35
Trung học Nữ Sài Gòn 28 12 226 24
Trung học Nữ Hà Nội 10 6 129
Trường Sư phạm Hà Nội 56
Tổng cộng 43 25 713 105
(Nguồn: 43 tr. 163) Cũng theo quy định của Học chính Tổng quy, học sinh từ lớp nhì muốn học lên lớp nhất “phải trải qua một kỳ thi gồm 2 bài thi viết (chớnh tả Phỏp văn ẵ giờ, một bài luận Phỏp văn ẵ giờ) và 3 bài thi vấn đỏp (hai toỏn đố 10 phỳt, tập đọc và núi chuyện bằng tiếng Pháp 10 phút, dịch ra tiếng Việt một đoạn Pháp văn 10 phút” [11, tr. 720].
Còn đối với học sinh lớp nhất, “sau khi kết thúc năm học phải thi bằng tốt nghiệp tiểu học nhưng ai sức học còn kém có thể ở lại học thêm một năm lớp nhất nữa. Tuổi thi tốt nghiệp quy định là 13 tuổi” [17, tr. 101].
Bên cạnh đó, Bộ Học chính Tổng quy cũng quy định giáo viên tại các trường Tiểu học như sau: “Giáo viên tại các trường tiểu học tuyển từ những người có bằng tốt nghiệp trường sư phạm tiểu học, những người có bằng “Tiểu học sơ đẳng”
(Brevet élementaire) hoặc những người có bằng trung học (complémentaire)” [17, tr. 99]. Đối với các trợ giáo và nữ trợ giáo chỉ dạy ở trường Sơ đẳng Tiểu học và được tuyển từ những người đã có bằng tốt nghiệp Tiểu học, nhưng muốn được dạy thì phải làm thí sai một năm. Lương giáo viên sẽ do chính quyền thuộc địa trả theo quy định như nhân sự là người Pháp hay người bản xứ, ngạch hạng, xếp hạng, thời gian làm việc để được nâng bậc,…
Bảng 2.5. Bảng lương và ngạch lương giáo viên Tiểu học (Nhân sự người Pháp)
Ngạch hạng
Lương châu Âu (phơ răng)
Lương thuộc địa (phơ răng)
Xếp hạng
Thời gian làm việc tối thiểu để
đƣợc nâng bậc Giáo sư
chính
Ngoại hạng 6.000 12.000 Hạng 2A
Hạng 1 5.500 11.000 Hạng 2A 2 năm
Hạng 2 5.000 10.000 Hạng 2 2 năm
Hạng 3 4.500 9.000 Hạng 2 2 năm
Giáo sư
Hạng 1 4.000 8.000 Hạng 2 2 năm
Hạng 2 3.500 7.000 Hạng 2 2 năm
Hạng 3 3.000 6.000 Hạng 2 2 năm
Hạng 4 2.500 5.000 Hạng 3 2 năm
Hạng 5
hoặc tập sự 2.000 4.000 Hạng 3 2 năm
Nữ giáo viên tiểu học chính
Ngoại hạng 4.000 8.000 Hạng 2A
Hạng 1 3.500 7.000 Hạng 2A 3 năm
Hạng 2 3.000 6.000 Hạng 2A 2 năm
Nữ giáo viên tiểu
học
Hạng 1 2.750 5.500 Hạng 2 2 năm
Hạng 2 2.500 5.000 Hạng 2 2 năm
Hạng 3 2.250 4.500 Hạng 2 2 năm
Hạng 4 2.000 4.000 Hạng 3 2 năm
Hạng 5
hoặc tập sự 1.800 3.600 Hạng 3 2 năm
(Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia tr. 352) Bảng 2.6. Bảng lương và ngạch lương giáo viên Tiểu học (Nhân sự người bản xứ)
Ngoại hạng
Lương
(đồng Đông Dương) Xếp hạng
Thời gian làm việc tối thiểu để
đƣợc nâng bậc
Nam Nữ
Ngoại hạng 1.500 1.200 Hạng 2A
Giáo sư chính
Hạng 1 1.200 960 Hạng B 3 năm
Hạng 2 900 840 Hạng 2B 2 năm
GV chính ngạch
Hạng 1 780 720 Hạng 2C 2 năm
Hạng 2 720 660 Hạng 2C 2 năm
Hạng 3 660 600 Hạng 2C 2 năm
Hạng 4 600 540 Hạng 3 2 năm
Hạng 5 540 480 Hạng 3 2 năm
Hạng 6 480 420 Hạng 3 2 năm
(Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, tr. 353)
2.3.2.4. Về bậc Đệ nhị cấp (Trung học Bổ túc)
Theo chương trình cải cách của Albert Sarraut, trường đệ nhị cấp thuộc hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm hai bậc: Cao đẳng Tiểu học và Trung học.
Bậc Cao đẳng Tiểu học: “có thời gian học là 4 năm: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đệ tứ niên, cuối năm thứ tư học sinh được đi thi để lấy bằng cao đẳng tiểu học (hay còn gọi là “đíp lôm”)” [6, tr. 85]. Độ tuổi được quy định đối với bậc Cao đẳng Tiểu học là dưới 18 tuổi. Chương trình Cao đẳng Tiểu học gồm có các môn: Pháp văn, Luân lý, Lịch sử, Việt văn và Hán Văn, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Tập viết chữ đẹp, Vẽ theo hình mẫu, Tìm hiểu công nghiệp (riêng nữ sinh học thêm gia chánh, dưỡng nhi). Cuối năm thứ tư học sinh có thể đi thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học (còn gọi là bằng Thành chung hay Đíp lôm).
Thời lượng các môn học được bố trí như sau:
“- Mỗi tuần học 27 giờ rưỡi
- Trong 27 giờ rưỡi này phải dành 12 giờ học tiếng Pháp, lịch sử, 8 giờ học khoa học (số học, vật lý, hoá học, vật học), 2 giờ học địa lý (về hình thế và kinh tế).
Thể thao học trong giờ ra chơi
Quốc văn và chữ Hán học 3 giờ một tuần. Chữ Hán và Quốc ngữ gộp chung vào một khoá gọc gọi là “quốc văn”, vì chữ Hán dạy theo lối mới chỉ cần cho học sinh biết từ nguyên, cú pháp, điển tích cũ để giúp cho việc dạy văn quốc ngữ. Giáo viên tập trung nhiều hơn vào văn quốc ngữ.
- Trường nữ giảm bớt các khoá, giành 2 giờ một ngày dạy gia chánh và nữ công” [17, tr. 103].
Bậc Trung học: thời gian học là 2 năm, kết thúc bằng kì thi lấy bằng Tú tài bản xứ. Hệ này dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp, tiếng Việt chỉ mỗi tuần một giờ. Tính tới thời điểm này, người Pháp cũng đã mở được một số trường trung học như: Trường Trung học Chasseloup – Laubat, Trường Bảo hộ Hà Nội, Trường Quốc học Huế, Trường Trung học Mĩ Tho,... sau này có thêm trường Petrus Ký được mở vào năm 1928. Bên cạnh việc thiết lập các trường Tiểu học và trường Trung học, Toàn quyền Albert Sarraut còn chú trọng đến việc đào tạo giáo viên đối với cả hai hệ thống giáo dục này.
Về giáo viên bậc Tiểu học: Điều 162, trong Học chính Tổng quy quy định: “Các trường sư phạm giáo viên tiểu học được thành lập trong thời gian tới với mục đích tuyển dụng giáo viên tiểu học bản xứ bậc tiểu học bao gồm các trường hệ bổ túc. Các
“lớp sư phạm” sẽ được sáp nhập vào một trong các trường bổ túc đã có. Giáo sinh các lớp sư phạm được học về sư phạm” [50, tr. 390]. Chương trình tại các trường sư phạm gồm hai bậc: bậc thứ nhất (đệ nhất cấp) có bốn lớp, mỗi lớp một năm, tương tự
các trường Trung học và bậc thứ hai (đệ nhị cấp) gồm hai lớp hoàn thiện; ngoài học các môn chung, giáo sinh sẽ học chuyên môn sư phạm và thực hành dạy học. Các học sinh khi học tại các lớp sư phạm được ăn ở tại trường miễn phí và được trợ cấp “8 đồng Đông Dương/ tháng ở năm 1 và 10 đồng Đông Dương ở năm thứ 2” [50, tr. 396].
Trong thời điểm Albert Sarraut ban hành Bộ Học chính Tổng quy, các trường sư phạm vẫn đang trong quá trình tổ chức, trong khi nhu cầu giáo viên Tiểu học ngày càng tăng cao, các trường Trung học có thể mở các lớp Sư phạm (Écoles normales d’instituteurs) nhằm đào tạo giáo viên cho các trường Tiểu học. Tuy nhiên, các lớp sư phạm này chỉ dành cho những người đã có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học và dưới 22 tuổi. Thời gian học tại các lớp sư phạm là 1 năm và có thể kéo dài thời gian học khi nêu rõ lí do được hiệu trưởng nhà trường đồng ý. Người theo học tại các lớp sư phạm được gọi là giáo sinh, được hưởng chế độ ở miễn phí và hàng tháng nhận trợ cấp là 25 đồng Đông Dương. Học sinh vào học tại các lớp sư phạm phải làm đơn tình nguyện tốt nghiệp xong phải làm giáo viên Tiểu học trong 10 năm. Sau khi kết thúc 1 năm tập sự, giáo sinh sẽ phải thi chuyên môn với 2 bài luận và 1 bài thực hành. “Nếu đỗ, giáo sinh được bổ dụng làm trợ giáo hạng 2 tính từ ngày thi đỗ. Nếu trượt, giáo sinh được thi lại lần 2, không tiếp tục học ở lớp sư phạm và được cử làm trợ giảng tại một trường tiểu học Pháp – Việt. Nếu tiếp tục thi trượt lần 2, giáo sinh bị sa thải” [50, tr. 399].
Về giáo viên bậc Trung học: Theo quy định của Toàn quyền Albert Sarraut, giáo viên trường Trung học người Việt do Tổng giám đốc Học chính kí quyết định bổ dụng. Giáo viên trung học được tuyển từ những người có “bằng sư phạm, chứng chỉ sinh ngữ tại các trường trung học hoặc văn bằng năng lực giảng dạy tại các trường sư phạm hay trường cao đẳng tiểu học. Ngoài ra, đối với các nữ giáo sư, cần có bằng nữ sinh trung học” [50, tr. 405]. Giáo viên tập sự nếu được bổ nhiệm vào ngạch giáo viên hạng tư phải trải qua hai năm tập sự dưới sự dưới sự hướng dẫn của một hiệu trưởng người Pháp.
Còn nữ giáo viên được tuyển dụng từ những người có bằng Cao đẳng sư phạm, hoặc có bằng Cao đẳng Tiểu học Pháp, bằng Tú tài hay bằng Trung học. Người nào có bằng Cao đẳng sư phạm khi hết hạng tập sự hai năm phải thi lấy bằng sư phạm (Cerfiticat d’aptitude pédagogique) mới được bổ nhiệm giáo viên hạng tư. Những giáo viên tập sự bị sa thải sau hai lần thi trượt kì thi lấy bằng sư phạm.
Những giáo viên dạy chữ Hán tại các trường Trung học được tuyển dụng từ các giáo chức cũ (bậc đốc học hay giáo thụ) được chuyển sang ngạch giáo viên tương đương với mức lương được hưởng trước đó và nếu không có ngạch bậc tương đương, sẽ được chuyển lên hạng cao hơn; hoặc lấy những người có văn bằng dạy chữ Hán;
không có thì lấy những người đã đỗ tiến sĩ hay cử nhân.
Về các trường dạy nghề: Các trường dạy nghề hay còn gọi là trường thực nghiệp bao gồm: đệ nhất cấp và đệ nhị cấp.
Trường đệ nhất cấp: trường dạy nghề, trường gia chánh, trường nông nghiệp, trường kĩ nghệ và mĩ thuật trang trí, cùng các lớp dạy thợ. Trường thực nghiệp đệ nhất cấp do Thủ hiến các xứ thành lập, tổ chức và quản lí theo ý kiến của Thanh tra giáo dục nghề. Kinh phí các trường thực nghiệp đệ nhất cấp dựa vào ngân sách của tỉnh, thành phố hay xã. Giáo viên trường thực nghiệp đệ nhất cấp gồm: “Giáo sư hoặc giáo viên tiểu học thuộc các ngạch công chức nhân sự người Pháp hoặc nhân sự bản xứ bậc tiểu học, do những người đứng đầu chính quyền địa phương chỉ định sau khi thống nhất với thanh tra giáo dục nghề. Các thầy cả người Pháp hoặc người bản xứ được tuyển dụng theo hợp đồng” [50, tr. 415]. Học sinh trường đệ nhất cấp nếu không có bằng tốt nghiệp Tiểu học có thể học thêm mấy lớp phổ thông ở một trường Tiểu học ở gần nhất, lựa chọn các lớp học phù hợp nhất để được hỗ trợ học nghề.
Trường đệ nhị cấp (trường toàn thể): các trường thực nghiệp cụ thể, những trường này được coi là các trường phổ thông Trung học. Những trường này ngoài dạy những kiến thức bổ trợ cho giáo dục phổ thông, còn trang bị những kiến thức về lịch sử, khoa học, nghệ thuật hoặc ngành nghề cùng những ứng dụng thực nghiệp trong công nghiệp hoặc thương mại. Trường được thành lập theo đề nghị của những người đứng đầu chính quyền địa phương và ý kiến của Tổng Thanh tra Học chính. Để tham gia quản lí và giảng dạy tại trường, Bộ Học chính Tổng quy quy định nguồn nhân sự giáo dục gồm:
“1. Xưởng trưởng người Pháp;
2. Giảng viên dạy tiếng Pháp;
3. Thợ cả và đốc công bản xứ;
4. Giám học bản xứ;
5. Chủ xưởng hưởng trợ cấp hướng dẫn học nghề theo quy định của hội đồng quản trị của từng trường” [50, tr. 420].
Học sinh muốn nhận vào học tại trường phải là người mang quốc tịch Pháp hoặc được người Pháp bảo hộ, đủ từ 15 tuổi, có bằng tốt nghiệp Tiểu học hoặc bằng sơ đẳng. Khi đã được vào học ở trường thực nghiệp đệ nhị cấp, học sinh sẽ được hưởng chế độ nội trú miễn phí, nếu học sinh có hoàn cảnh khó khăn và có học lực tốt thì sẽ nhận trợ cấp bằng hiện vật như quần áo, vật dụng cần thiết trong quá trình học. Kết thúc chương trình học, học sinh thi lấy bằng tốt nghiệp10, trong bằng có ghi nghề mà học sinh đã học. Học sinh có bằng tốt nghiệp được ưu tiên làm việc trong các xưởng,
10 Học sinh được công nhận tốt nghiệp khi kết quả thi cuối năm nếu đạt điểm trung bình từng môn
cộng lại là 11 điểm, điểm từng môn là từ điểm 6 trở lên.