Nội dung cải cách

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 34 - 48)

CHƯƠNG 2. HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC (CHỦ YẾU) CỦA PHÁP Ở VIỆT NAM (1906-1939)

2.2. Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906-1917)

2.2.2. Nội dung cải cách

Theo nhiệm vụ của Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ và chủ trương của Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục bản xứ ở Bắc Kì được thành lập theo Nghị định do Toàn quyền Đông Dương Paul Beau kí ngày 16/5/1906 thì chương trình cải cách nền giáo dục Việt Nam sẽ tập trung vào hai bộ phận là:

- Hệ thống giáo dục Pháp – Việt (Franco – Indigène);

- Hệ thống giáo dục Bản xứ (Enseignement Indigène;

2.2.2.1. Những cải cách đối với hệ thống giáo dục Pháp – Việt:

Theo Nghị định được Toàn quyền Paul Beau kí ngày 27/4/1906, giáo dục Pháp – Việt gồm hai bậc là tiểu học và trung học. Tiểu học có 4 lớp là Dự bị (lớp tư), Sơ học (lớp ba), Trung Đẳng lớp nhì), Cao đẳng (lớp nhất) và độ tuổi quy định được học là từ 8 đến 14 tuổi. Chương trình tiểu học Pháp – Việt bao gồm các môn: Giáo dục đạo đức, Tập đọc, Tập viết, Tập làm văn, Từ vựng và đối thoại, Lịch sử, Địa lí, Số học, Kế toán, Tiếng Pháp, Vệ sinh,… Riêng môn tiếng Pháp, để học sinh có một số vốn từ tối thiểu thì ngay từ lớp Dự bị đã học thứ ngôn ngữ này. “Sở dĩ chương trình tiếng Pháp nặng như vậy vì mục tiêu là: ở lớp nhì, vốn từ cuối năm phải đạt được ít nhất 1.500 từ” [6, tr. 66]. Còn các môn bằng tiếng Việt và chữ Hán gồm có Quốc ngữ, Chính tả, Luận, Tập dịch Việt – Pháp, Học thuộc lòng và chữ Hán. Tuy nhiên, vì chỉ chú trọng học tiếng Pháp nên yêu cầu về học tiếng Việt chỉ cần giảng cho học sinh hiểu bài bằng cách cắt nghĩa chữ khó và tóm tắt các nội dung chính. Đối với chữ Hán chỉ mang nội dung luân lí, không dạy các môn bằng loại chữ này.

Về quy định tốt nghiệp bậc tiểu học: Để tham gia kì thi tốt nghiệp tiểu hoc, học sinh phải đủ 14 tuổi, có hai dạng bài thi là thi viết và thi vấn đáp, với nội dung như sau:

Bảng 2.1. Bảng nội dung về các môn thi viết và vấn đáp trong kì thi lấy bằng tiểu học Pháp – Việt

Môn thi viết Thời gian thi

1 Thi viết kiểu chữ thường, chữ rông ngả 1 giờ

2 Tập làm văn bằng tiếng Pháp 2 giờ

3 Câu hỏi về số học và hệ mét 1 giờ

4 Hình học, một bài toán về phép đo diện tích 0,5 giờ

5 Bài luận bằng chữ Quốc ngữ 1 giờ

6 Bài luận bằng chữ Hán 1,5 giờ

Môn thi vấn đáp Thời gian thi

1 Bài tập đọc bằng tiếng Pháp có giải thích, phân tích

Tổng thời gian của phần thi vấn đáp tối đa là 30 phút đối với mỗi thí sinh

2 Dịch một bài khóa từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp 3 Dịch một bài khóa từ chữ Pháp sang chữ Quốc ngữ 4 Địa lí theo chương trình lớp nhất và lớp nhì

5 Hội thoại bằng tiếng Pháp về các bài học được đăng kí vào chương trình của lớp cao đẳng

(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, tr. 144) Theo quy đinh, các môn thi viết và vấn đáp được tính từ điểm 0 đến 10 và điểm môn thi vấn đáp cộng với môn thi viết khi đạt tối đa 50 điểm thì thí sinh sẽ nhận được bằng tốt nghiệp bậc tiểu học.

Bậc trung học được phân định thành hai bộ phận: trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp. Chương trình giáo dục của hai bậc trung học này có phần chung giống nhau, trong đó, tiếng Pháp được dành nhiều thời gian hơn các môn khác như tiếng Việt, chữ Hán, Toán, Vật lí, Địa lí,… Riêng bậc trung học đệ nhất cấp học trong một năm và chia làm 2 ban:

- Ban Văn học, học thêm một ít chương trình của ban Tú tài Pháp, nhưng theo theo điều kiện của mỗi địa phương mà thay đổi cho thích hợp, có dạy thêm môn tiếng Pháp, tiếng Việt và chữ Hán.

- Ban Khoa học chia làm 3 ngành: nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, có mục đích là đào tạo những nhân viên phục vụ trong các ngành kinh tế. Vì vậy, chương trình Văn học sẽ không còn hoặc chỉ đưa vào rất ít, trái lại việc học những môn khoa học thực hành sẽ được chú trọng và tăng cường trong quá trình học. Ngoài

ra, học sinh còn có thể thi vào lớp Sư phạm hoặc Pháp chính tùy theo mong muốn và khả năng của mình [6, tr. 67].

Về quy định tốt nghiệp bậc trung học: Để tham gia kì thi tốt nghiệp tiểu học, học sinh phải đủ 18 tuổi, Có hai dạng bài thi là thi viết và thi vấn đáp, với nội dung như sau:

Bảng 2.2. Bảng nội dung về các môn thi viết và vấn đáp trong kì thi lấy bằng trung học Pháp – Việt

Môn thi viết Thời gian thi

1 Bài chính tả (1 trang) 10 phút

2 Bài tập làm văn bằng tiếng Pháp, thư, bài tường thuật hoặc báo cáo

2 giờ 3 1 trang viết bằng tiếng Anh, kiểu chữ rông ngả và gôtíc 1 giờ 4 2 bài số học và hệ mét, 1 bài hình học theo chương trình

năm thứ 3

3 giờ

5 Câu hỏi về kế toán 1 giờ

6 Môn thi vật lí, khoa học tự nhiên 2,5 giờ

7 Hội họa 4 giờ

8 Chữ Quốc ngữ (dịch ngược và xuôi) 2 giờ

9 Bài tập làm văn bằng chữ Hán 2 giờ

(Trung tâm lưu trữ, tr. 145) Học sinh muốn tham gia môn thi vấn đáp khi đạt điểm trung bình là 45 điểm ở phần thi viết. Phần thi vấn đáp với hệ thống câu hỏi về Chính tả (có tính điểm phát âm), Hội thoại tiếng Pháp, Vệ sinh, Đạo đức, Lịch sử hoặc Địa lí, Dịch một bài luận bằng tiếng Pháp và bằng chữ Quốc ngữ, Toán học, Vật lí, Hóa học,… Thời gian cho mỗi môn thi vấn đáp tối đa là 15 phút. Học sinh nhận bằng tốt nghiệp trung học khi đạt được một nửa trên tổng số điểm tối đa quy định đối với phần thi viết và vấn đáp.

2.2.2.2. Chương trình cải cách đối với hệ thống giáo dục trường chữ Hán:

Trong các bộ phận giáo dục mà Paul Beau chủ trương thực hiện trong cải cách giáo dục, hệ thống giáo dục chữ Hán có hai vấn đề được đem ra thảo luận và gây khó khăn nhất đối với người Pháp là: Thứ nhất, khi chưa có điều kiện xóa bỏ, phải giữ lại nền giáo dục chữ Hán ở mức độ nào?, Thứ hai, làm thế nào để đưa vào một chương trình liên quan đến các kiến thức khoa học tự nhiên nhưng sử dụng chữ Quốc ngữ để làm chuyển ngữ. Trên cơ sở của hai yêu cầu đó, chính quyền thuộc địa đã đề ra một chương trình cải cách giáo dục Nho học với mục tiêu xác định là nhằm đưa “hệ thống giáo dục truyền thống vốn là những trường tư thục, rải rác, tự phát vào công lập đặt dưới sự điều khiển, kiểm soát của chính quyền thuộc địa và được tổ chức lại từ việc

phân cấp học, chương trình học cũng như việc thi cử [48, tr. 163]. Nội dung cải cách giáo dục Nho học bao gồm các nội dung sau:

2.2.2.3. Những cải cách về hệ thống các bậc học

Về cấp học, hệ thống giáo dục được phân thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học, còn được gọi là cấp I, cấp II, cấp III, đồng thời đề xuất thay đổi đối với các kỳ thi Nho học, cụ thể là đưa chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và các môn khoa học vào kì thi Hương. Chương trình các bậc học như sau:

- Bậc ấu học: Đối với những làng có từ 60 học sinh nam và độ tuổi từ 6 đến 12 trở lên phải mở trường ấu học và nuôi ít nhất một giáo viên. Còn các làng không có đủ điều kiện mở trường riêng thì nhiều làng cùng chung mở trường. Phải có trường riêng dành cho học sinh nữ, nếu không mở được trường nữ thì phải có lớp học riêng tại các trường Ấu học. Bậc ấu học có 3 loại trường: Trường một năm hay dưới một năm mở ở các vùng hẻo lánh, chỉ dạy bằng chữ Quốc ngữ. Loại trường hai năm ngoài dạy chữ Quốc ngữ, có thêm dạy chữ Hán. Loại trường ba năm dạy đủ cả ba thứ chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán, trong đó, tiếng Pháp là môn bắt buộc phải học. Sau khi học xong bậc ấu học, học sinh phải qua kỳ thi “Tuyển”, những người trúng tuyển gọi là

“Tuyển sinh”.

- Bậc tiểu học: là chương trình bắt buộc đối với các trường công được mở tại các huyện, phủ của mỗi tỉnh bằng nguồn kinh phí trích từ ngân sách tỉnh. Thời gian học là hai năm và do các giáo thụ và huấn đạo phụ trách. “Chương trình dạy cũng gồm các môn của ba thứ chữ, nhưng quốc ngữ vẫn chiếm nhiều giờ hơn: 15 giờ 30 mỗi tuần và dạy các môn chủ yếu như toán, luận, cách trí, sử, địa, vệ sinh, luân lý,…” [6, tr. 69- 70]. Còn chữ Hán chiếm 10 giờ mỗi tuần, chương trình vẫn còn khá nặng vì bao gồm Tứ thư và các loại sách khác như Chính biên toát yếu, Luật lệ toát yếu, Việt sự tổng vịnh, An nam sơ học sử lược, Đông Dương chính trị, Nam quốc địa dư,… Tiếng Pháp được dạy mỗi tuần 10 giờ, chủ yếu là tập đọc, tập làm văn và tập đối thoại. Sau khi học xong bậc tiểu học, các học sinh dự kì thi “Khảo khoá” được tổ chức hàng năm tại phủ mỗi tỉnh, người đỗ được gọi là “Khoá sinh”. Người có bằng Khoá sinh được học tiếp lên bậc trung học.

- Bậc trung học: là chương trình bắt buộc tại các trường công của mỗi tỉnh, do các quan đốc học phụ trách. Chương trình học gồm cả chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán. Theo quy định, chữ Quốc ngữ chiếm nhiều thời gian nhất, mỗi tuần học 16 giờ với các môn học cũng như bậc tiểu học nhưng nâng cao hơn. Chữ Pháp sẽ dạy 12 giờ mỗi tuần (trong đó có 1 giờ làm toán, còn lại sẽ tập trung vào tập làm văn, học đọc và học dịch). Chữ Hán học 7 giờ mỗi tuần với các sách Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và tập làm phiến, tấu, sớ,…Học xong bậc trung học, học sinh được quyền dự kì thi Hạch

bằng chữ Quốc ngữ, các môn Địa lý, Khoa học tự nhiên và một bài bằng tiếng Pháp, thi đỗ được gọi là “Thí sinh” và được thi Hương.

Tuy nhiên, học sinh sau khi học xong bậc ấu học, không nhất thiết phải học lên bậc tiểu học và trung học để tham gia kì thi Hương, mà có thể vào học các trường Pháp – Việt để thi cấp trung học. Mục đích mà người Pháp ban hành quy định này là nhằm tạo điều kiện cho nền giáo dục Pháp – Việt dần thay thế cho nền giáo dục Nho học ở Bắc Kì và Trung Kì.

2.2.2.4. Về cải cách nội dung thi Hương

Trong cuộc cải cách giáo dục năm 1906, Paul Beau chỉ thay đổi nội dung các môn thi, còn hình thức và nghi lễ vẫn giữ nguyên như cũ. Nội dung thi được quy định như sau: “Trường Nhất: Văn sách viết bằng chữ Hán gồm 5 đầu bài. Trường Nhì:

Luận ngữ Việt. Trường Tam: Dịch một bài chữ Pháp ra Quốc ngữ và một bài chữ Hán sang Pháp. Kỳ phúc hạch để chọn cử nhân, thí sinh phải làm một bài luận chữ Hán, một bài luận chữ Việt và một bài dịch chữ Pháp sang chữ Hán. Tuỳ theo số điểm cao thấp mà định cử nhân hoặc tú tài” [7, tr. 14]. Năm 1909, lần đầu tiên trong lịch sử thi Hương, chữ Quốc ngữ, các môn khoa học, toán và tiếng Pháp (tự chọn) được đưa vào kỳ thi. Năm 1915, trong kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ, tiếng Pháp đã trở thành môn thi bắt buộc. Có thể nói, khi Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ ban hành cải cách đối với nền giáo dục bản xứ, đưa thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và một số môn khoa học vào các trường, cũng như vào các kỳ thi Hương, nhiều nhà Nho đã hưởng ứng nhiệt tình.

2.2.2.5. Về sách giáo khoa

Trong thời gian đầu vì chưa có sách giáo khoa, chính quyền thuộc địa Pháp phải dùng tờ Gia Định báo làm sách tập đọc, sau đó mới mang sách từ Pháp sang nhưng vì không phù hợp với học sinh nước ta nên buộc phải đổi sách học. Đây là tờ công báo bằng chữ Quốc ngữ được người Pháp sử dụng với mục đích chủ yếu là công cụ thông tin của người Pháp ở Đông Dương. Và cũng nói thêm rằng, Gia Định báo là một tờ công báo chuyên đăng các công văn, nghị định, thông tư của chính quyền thực dân.

Sau này, khi Trương Vĩnh Ký (1837-1898) chính thức làm giám đốc, tờ báo mới được phát triển mục biên khảo, thơ văn, lịch sử… Gia Định báo cũng có góp phần cổ động việc học chữ Quốc ngữ và lối học mới, mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam. “Ước tính có khoảng 490 tờ báo bằng chữ Quốc ngữ được phát hành trong suốt giai đoạn thuộc địa” [40, tr.141]. Ngoài Gia Định báo, người Pháp còn lấy tờ Đông Dương tạp chí kể từ năm 1914 có đặt thêm báo mục Sư phạm để cung cấp các bài tham khảo cho giáo viên dựa vào đó làm tài liệu giảng dạy, bao gồm các bài luân lý, luận Quốc ngữ, toán

pháp, cách trí cho học sinh bậc Ấu học và Tiểu học.

Cho đến những năm 80 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký và một số người Pháp của cơ quan Học Chính Nam Kỳ đã biên soạn một số sách giáo khoa để dạy trong các trường Tiểu học. Những sách chữ Quốc ngữ là: Ấu học phép dạy (sách tập đọc, tập viết, học toán, học vẽ) của Le Bris, Cai trị lễ pháp của Trần Văn Thông, Ấu học bị thể của Le Bris, Ấu học luân lí của Đỗ Thận, Nông học tập đọc của Breamer, Thực vật, người và động vật của Eberhart, Vô cơ vật loại của Gourdon, Toán pháp của Morel của Trần Văn Thông, Toán pháp lược học của MorelĐông Dương địa dư của Russier và Đỗ Thận.

Cũng trong nội dung của cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, chính quyền thuộc địa cũng đã biên soạn được một số sách giáo khoa bằng chữ Quốc ngữ theo những yêu cầu sau: “- Sách tập đọc với nội dung: hành chính, phong tục và những nguyên tắc về đạo đức, giải thích một số hiện tượng thiên nhiên, những điều khuyên về vệ sinh,…

- Sách về địa dư thế giới (Đông Dương và Pháp sẽ viết thành một phần riêng).

- Toán pháp, cách trí, vệ sinh.

- Ngữ pháp sơ giải” [6, tr.74].

Bên cạnh đó, Hội đồng cải cách giáo dục còn dự định biên soạn một cuốn trích giảng những bài văn tiêu biểu của những tác giả đương thời cho học sinh các trường Tiểu học. Tham gia vào công việc biên soạn sách bằng chữ Quốc ngữ, ngoài người Việt còn có một số quan chức người Pháp như: Dumoutier là Tổng Thanh tra Giáo dục Pháp – Việt đã dịch cuốn sách của Machuel Méthode de lecture et le langage à l’usage des élèves étrangers de nos colonies vào năm 1890 và sử dụng trong các trường học ở Bắc Kỳ; năm 1913, ông Gombaud Saintonge – Tham biện ở phủ Thống sứ đã soạn cuốn Sách dạy tiếng Annam (là sách song ngữ Việt – Pháp) chủ yếu dành cho người Pháp học tiếng Việt và người Việt học tiếng Pháp. Đây là cuốn sách giáo khoa tiếng Việt đầu tiên được dùng trong các trường Sơ học Pháp – Việt.

Có thể nói, việc ban hành các Nghị định nêu trên đã từng bước làm thay đổi nền giáo dục Nho học ở cả hệ thống tổ chức lẫn chương trình học. Từ năm 1906, các trường Nho học đã thuộc hệ thống giáo dục công lập do các Sở Học chính quản lí.

Người Pháp đạt được mục đích kiểm soát toàn bộ hệ thống giáo dục và phần nào định ra một chương trình học gắn với các bậc học một cách rõ ràng. Chương trình học mới đã dành nhiều nội dung liên quan đến chữ Hán, lưu giữ gần như tất cả các nội dung của chương trình Nho học (Tứ thư, Ngũ kinh, lịch sử Trung Quốc), chỉ bỏ đi các bài tập về làm thơ, câu đối. Học sinh bước đầu tiếp cận được chữ Pháp với nội dung thiên về dịch thuật từ chữ Pháp sang chữ Việt và ngược lại. Với cách thức tiến hành như vậy, người Pháp vừa không tạo ra ở những người bản xứ còn lưu luyến với

giáo dục truyền thống, vừa có cảm giác không quá xa lạ với những môn học mang tính khoa học.

2.2.2.6. Những cải cách đối với trường nữ sinh

Vấn đề giáo dục dành cho nữ giới luôn được chính quyền thuộc địa chú trọng, người Pháp từng nhận định rằng: “Dạy học cho nữ giới là vô cùng quan trọng bởi vì nữ giới sẽ là những bổ trợ tuyệt vời trong việc giáo dục trẻ thơ” [43, tr. 119]. “Mục đích của trường nữ là nhằm cung cấp cho nữ giới một số nguyên tắc và quy định về vệ sinh. Trong gia đình người phụ nữ nắm quyền dạy dỗ con trẻ, vì vậy họ có thể gây ảnh hưởng qua việc truyền đạt lại những thói quen sinh hoạt, những tiến bộ của người Pháp, nhờ đó mà tác động tới cả xã hội An Nam” [17, tr. 87-88]. Do vậy, trong cuộc cải cách lần này, Toàn quyền Paul Beau đã chú ý đến giáo dục nữ giới.

Theo chương trình cải cách, học sinh nữ được quyền học tại trường Pháp – Việt.

Ở một số tỉnh và thủ phủ các xứ cũng sẽ xây dựng các trường nữ sinh riêng từ bậc Sơ học đến Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học. Cụ thể như sau: trường Sơ học thì nữ sinh sẽ học chung với nam sinh nhưng học tại lớp riêng, trường Tiểu học tổ chức tại các tỉnh lị và do giáo viên người Pháp phụ trách, trường Cao đẳng Tiểu học sẽ tổ chức tại thủ phủ các xứ nhằm đào tạo nữ giáo viên. Chương trình dạy trong các trường nữ sinh bao gồm môn “tập đọc, tập viết, học tính, luân lí, vệ sinh và một chương trình thực tập gồm gia chánh (khâu vá, giặt giũ, nấu ăn…) và nghề thủ công dành riêng cho nữ (thêu, đan, dệt, làm bánh, làm vườn…)” [6, tr. 75].

Các trường nữ ban đầu do nữ giáo viên người Pháp quản lý và giám sát, tuy nhiên, do việc thiếu giáo viên nữ nên người Pháp quyết định mở trường Jules Ferry nhằm đào tạo giáo viên nữ là người bản xứ cho các trường học. Trong thời gian đầu, phần lớn giáo viên trường nữ là vợ của các sĩ quan người Pháp ở Đông Dương. Nếu nữ giáo viên người Việt muốn vào được dạy tại các trường này phải là người được đào tạo ở Nam Kỳ. Riêng môn chữ Hán thì buộc phải thuê giáo viên nam sinh của trường Pháp – Việt sang dạy.

Trong thời kì của Paul Beau, quy định không có trường Trung học dành riêng cho nữ, mà phải đến thời kì của Toàn quyền Albert Sarraut mới có trường Trung học nữ riêng như Trường Trung học Nữ sinh bản xứ hay còn gọi là Trường Nữ sinh Áo Tím (1913), Trường Marie Curie (1915), Trường Đồng Khánh (1917). Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Tiểu học, nếu muốn học tiếp, các nữ sinh sẽ thi vào trường Trung học Bảo hộ và học chung với nam sinh.

2.2.2.7. Cải cách đối với trường chuyên nghiệp

Trong 4 Nghị định về việc cải cách nền học chính bản xứ tại Đông Dương, trong đó có Nghị định của Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập trường Đại học

Một phần của tài liệu Cải cách giáo dục của thực dân pháp ở thuộc địa việt nam (1906 – 1939) (Trang 34 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(118 trang)