CHƯƠNG 2. HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC (CHỦ YẾU) CỦA PHÁP Ở VIỆT NAM (1906-1939)
2.3. Cải cách giáo dục lần thứ hai (1917-193)
2.3.4. Một số điều chỉnh sau cải cách giáo dục lần hai
Sau khi Merlin lên nắm Toàn quyền Đông Dương vào năm 1923, ông đã chủ trương phát triển giáo dục “theo chiều ngang”, chuyển trọng tâm sang bậc Tiểu học, mở rộng giáo dục làng xã. Nguyên nhân chính khiến Merlin phải điều chỉnh giáo dục, một mặt, là do kết quả điều tra từ Nha Học chính báo cáo là “dư luận về việc dạy tiếng Pháp tràn lan, trẻ em học mà không hiểu, dẫn đến tình trạng trẻ bỏ học nhiều là đúng sự thực” [17, tr. 124], mặt khác, làn sóng đòi người Pháp cho học sinh người Việt được học chữ Quốc ngữ.
Một yếu tố quan trọng nữa chính là sự lớn mạnh của trào lưu cộng sản đang phát triển ở nước Pháp chính quốc khiến chính quyền thuộc địa lo sợ và tìm cách ngăn cản bằng cách “chiếm trái tim” của tầng lớp thượng lưu bản xứ. Để thể hiện thiện chí hợp tác của mình, người Pháp cho thành lập và bỏ tiền bảo trợ cho các hội văn hoá. Hội viên là những người có quyền lực, học thức và giàu có, “thế nhưng nhiều hội viên đã bị thực dân Pháp lợi dụng và lừa gạt, ảo tưởng và ngộ nhận về khả năng hợp tác Pháp – Việt và sự thành tâm khai hoá văn minh của người Pháp. Một số hội viên vì danh lợi trở thành tay sai của thực dân Pháp” [31, tr. 94]. Martin Thomas cho rằng, chính Albert Sarraut trong thời gian làm Bộ trưởng Thuộc địa, đã tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của của chủ nghĩa cộng sản khi đưa ra “những chính sách chính trị, kinh tế và văn hoá nhằm hợp tác chặt chẽ với tầng lớp thượng lưu bản xứ trong việc điều hành công việc ở xứ thuộc địa trong những năm 1920” Chính những điều này đã buộc người Pháp phải điều chỉnh chính sách giáo dục, trong đó bậc giáo dục Tiểu học được chú ý nhiều nhất.
2.3.4.2. Nội dung điều chỉnh
Về giáo dục bậc Tiểu học: Việc mở rộng bậc Tiểu học được xác định là một trong những việc gấp sau chương trình cải cách giáo dục của Toàn quyền Albert Sarraut, để “tuyên truyền về việc “nước Pháp rất chú ý đến truyền thống hiếu học của dân An Nam”, hai là, để đối phó với những bất mãn có thể xảy ra trong nhân dân khi hàng loạt trường chữ Hán ở các thôn xóm phải nghỉ học sau khi chủ trương
cải cách giáo dục được ban hành” [6, tr. 97]. Ngày 18/9/1924, Toàn quyền Merlin kí Nghị định sửa đổi một số điểm trong Bộ Học chính Tổng quy. Theo đó, Merlin gộp tất cả bậc Tiểu học bao gồm cả hệ kiêm bị (5 năm), trường sơ đẳng (3 năm), hay vỡ lòng cho tới các trường tư vào kế hoạch giáo dục phổ cập và buộc học sinh sau khi học xong hệ Sơ đẳng phải thi lấy bằng Sơ học yếu lược mới được lên lớp nhì và lớp nhất. Để thúc đẩy việc học chữ Quốc ngữ, Toàn quyền Merlin ban hành Nghị định ngày 18/9/1924 chỉ thị: “Trong 3 lớp đầu của ngành tiểu học, từ nay sẽ lấy tiếng mẹ đẻ làm phương tiện chuyển tải giáo dục, còn tiếng Pháp, trái lại, sẽ là ngôn ngữ độc tôn và bắt buộc trong học hành ở các lớp nhì và nhất” [11, tr. 727], đồng thời lập răn Bằng Sơ học yếu lược bản xứ (Certificat d’É tudes élémentaires indigèns). Sau khi tốt nghiệp bậc Sơ học 3 năm chủ yếu bằng chữ Quốc ngữ, học sinh học tiếp bậc Tiểu học. Tuy nhiên muốn vào học bậc Tiểu học thì học sinh phải có bằng Sơ học có ghi
“biết tiếng Pháp”. Như vậy, vô hình chung, những học sinh chỉ học chữ Quốc ngữ mà không có biết tiếng Pháp sẽ không có cơ hội học tiếp bậc Tiểu học và kết quả tỉ lệ tốt nghiệp ở ba năm Sơ học là rất thấp. “Tháng 6 và tháng 7/1925, mở kì thi đầu tiên lấy bằng Sơ học yếu lược bản xứ (Certificat d’É tudes élémentaires indigèns). Nam Kỳ có 9.250 thí sinh, trúng tuyển 7.609 em, tức đậu trên 82% (trong khi cả Việt Nam chỉ đậu 64% (29.269/45.523). Trong số trúng tuyển của Nam Kỳ có 65% đậu thêm tiếng Pháp (mention “francais”) (Bắc Kỳ có 53%, Trung Kỳ có 31%). Như vậy, nói là bỏ tiếng Pháp ở cấp Sơ học mà vẫn thi tuy không bắt buộc. Song có tiếng Pháp mới dễ được nhận vào lớp nhì” [48, tr. 729]. Cũng theo Phan Trọng Báu đã thống kê:
“Cứ 100 em học sinh vào lớp đồng ấu thì 48 em được lên lớp dự bị, 29 em lên lớp sơ đẳng, 14 em lên lớp nhì và đến lớp nhất thì chỉ còn 9 em” [6, tr. 98]. Như vậy, kế hoạch của Merlin vẫn chưa đem lại kết quả như người Pháp mong muốn, không những tỉ lệ tốt nghiệp học sinh khá thấp, mà nhiều trường chữ Hán được mở lên ở nhiều huyện, nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Trước tình hình học sinh gặp khó khăn trong thi cử, năm 1927, Toàn quyền Alexandre Varenne đã ban hành Nghị định thành lập lớp Trung đẳng đệ nhất niên (cours moyen 1 ère année) làm lớp chuyển tiếp (giữa lớp Sơ đẳng và Trung đẳng đệ nhị niên) nhằm tạo điều kiện cho học sinh học thêm tiếng Pháp để tiếp tục học lên.
Không bằng lòng với cải cách của Merlin, Varenne đã tiến hành những điều chỉnh mới nhằm phát triển thêm số lượng trường học, xây dựng nhiều trường đến tận nông thôn và làng xã. Một loại trường học công lập kiểu mới được thành lập theo Nghị định ngày 27/12/1926 mang tên trường Sơ học hương thôn (tên gọi khác là Sơ học bản xứ), tương đương với trường Sơ học Pháp – Việt và các lớp Sơ học của trường Tiểu học Pháp – Việt toàn cấp. Theo Nghị định này, các làng bắt buộc phải
mở trường học, lấy từ kinh phí hoạt động của làng do nhân dân trong làng tự đóng góp. Làng tự thuê giáo viên về dạy tại trường nhưng điều kiện là phải có bằng Tiểu học Pháp – Việt. Chương trình học bao gồm các môn Luân lí, Thể dục, Đọc, Viết, Lịch sử, Địa lí, Làm tính, Vẽ, Thủ công được học bằng tiếng Việt. Giáo viên của trường thường là những người thi đỗ trong các kì thi Nho học hoặc đã qua trường Pháp – Việt, hưởng lương từ 10 đến 15 đồng một tháng. Mục đích mà Toàn quyền Varenne mở trường Sơ học hương thôn vì “một mặt, nó đáp ứng được yêu cầu ham học hỏi của người dân, mặt khác, Nhà nước bảo hộ không phải cung cấp kinh phí hoạt động” [12, tr. 69]. Để thúc đẩy học sinh đến trường này, chính quyền thuộc địa ban hành bản hương ước cải lương, trong đó có điều khoản yêu cầu các làng trích công quỹ ra một số tiền để trợ cấp cho học sinh nghèo, mua sách cần dùng cho học sinh và làm phần thưởng cho những học sinh có thành tích tốt và học giỏi trong quá trình học.
Cũng cần đánh giá thêm rằng, trong quá trình tổ chức giáo dục Tiểu học tại các làng, chính quyền thuộc địa đã căn cứ tình hình của từng địa phương để đề ra biện pháp cụ thể. Ở Bắc Kỳ thực hiện theo nguyên tắc là mỗi làng sẽ thành lập một trường gọi là trường “hương học”, ở Trung Kỳ nếu dân cư thưa hoặc không đủ điều kiện thì hai đến ba làng có thể tổ chức chung thành một trường, gọi là trường “liên hương”, ở Nam Kỳ do trường làng đã phát triển nhiều nên chỉ tổ chức thành những lớp “bổ trợ dự bị” cho những làng chưa có điều kiện mở trường. Chương trình học tại trường này từ 1 đến 3 năm với nội dung học hết sức đơn giản và dễ áp dụng vào đời sống, với các môn như tập đọc, làm toán, vệ sinh, các kiến thức cơ bản về nghề thủ công, đạo đức như thờ cúng tổ tiên, bổn phận con cái đối với ông bà, cha mẹ (vâng lời và kính trọng), anh chị em trong gia đình (yêu thương và bảo vệ lẫn nhau), họ hàng trong dòng tộc (tốt bụng, lịch thiệp), ngoài ra còn có bổn phận với thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, thậm chí với kẻ ăn người ở.
Giáo viên tuyển dụng tại các trường làng cũng được lựa chọn dễ dàng hơn so với trước kia và do trưởng làng chọn. Với những người đã có bằng Sơ học yếu lược hoặc bằng Khoá sinh chỉ cần làm tờ cam đoan tuân theo luật lệ của làng là có thể tham gia ứng tuyển. Mức lương được trả dựa trên sự thoả thuận giữa giáo viên với lý trưởng và trả bằng hình thức tiền hoặc ruộng đất được giao cho gia đình người giáo viên đó cày cấy hưởng phần hoa lợi. Để nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ chuyên môn của giáo viên, cơ quan Học chính tỉnh sẽ tập trung giáo viên tại trường làng ở các địa phương về tỉnh lỵ để bồi dưỡng nghiệp vụ.
Như vậy, tính đến năm 1927, bậc Tiểu học của nền giáo dục Pháp – Việt có thời gian học là 6 năm với 3 loại trường là Sơ học bản xứ, Sơ học Tiểu học, Tiểu
học Toàn cấp và hai kì thi: Sơ học yếu lược (dành cho những học sinh sau khi đã học xong 3 lớp: Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng) và Tốt nghiệp Tiểu học (dành cho học sinh sau khi đã học xong 3 lớp: Trung đẳng đệ nhất niên, Trung đẳng đệ nhị niên, Cao đẳng).
Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số: trong hai lần cải cách giáo dục (1906 và 1907) người Pháp chưa chú trọng nhiều đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số, mãi đến năm 1927 khi có chủ trương phổ cập giáo dục của Toàn quyền Varenne thì những trường học miền núi ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ mới có nhiều thay đổi.
Với mục đích tuyên truyền cho cuộc “khai hoá” và “truyền bá tiếng nói và chữ viết của người Pháp (kể cả chữ Quốc ngữ) cho người Thổ để trong một thời gian không dài lắm họ có thể theo học được những trường miền xuôi” [5, tr. 24] để mỗi làng ở vùng dân tộc ít người đều có thể hiểu được những công văn từ tỉnh, huyện gửi về.
Để thực hiện chủ trương này, Toàn quyền Varenne quy định với những học sinh mà cùng một tộc người thì ngôn ngữ của tộc người đó được dùng làm phương tiện giảng dạy, ở những trường có nhiều tộc người thì dùng tiếng Việt hoặc tiếng Pháp để giảng dạy. Tuy nhiên, quy định này không thể thực hiện ngay do phần lớn là những trường học ở các vùng dân tộc thiểu số có nhiều tộc người khác nhau, trong khi giáo viên không biết nói tiếng của các dân tộc nơi đây và không muốn làm việc ở những vùng này vì quá xa xôi. Trước tình hình này, người Pháp cho thành lập một Ban Sư phạm miền núithuộc trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội để cung cấp giáo viên cho các tỉnh miền núi. Tuy nhiên Ban Sư phạm miền núi chưa khi nào tuyển được nửa số sinh viên cần thiết, trong khi đó mở các trường Cao đẳng Tiểu học và các lớp Sư phạm ở các tỉnh vùng cao là khá cần thiết.
Ngoài ra, Nha Học chính soạn sách giáo khoa với nội dung đơn giản, dễ hiểu, được dịch ra bằng các tiếng dân tộc và chữ Quốc ngữ sao cho gần với tư duy người dân tộc.
Sách giáo khoa gồm cả ba thứ tiếng Pháp, Việt và tiếng Thổ (gọi chung là tiếng của các dân tộc vùng núi). Vấn đề nội trú cũng được chính quyền thuộc địa đề cập trong lần điều chỉnh giáo dục này, nhưng người Pháp không mấy dễ dàng khi tổ chức các trường nội trú
“học sinh chưa quen sống xa gia đình, mỗi dân tộc lại có phong tục tập quán khác nhau do đó các em không muốn rời nhà” [5, tr. 26]. Tuy vậy, sau hai năm vận động, đến năm 1929 và nhất là năm 1930 các tỉnh đã mở được một số trường nội trú dành cho trẻ em miền núi. “Ở Trung Kỳ có ba trường ở ba tỉnh Kon Tum, Pleiku, Ban Ma Thuột cho 229 học sinh các dân tộc Gia rai, Ba na, Sê đăng và Ra đê. Ở Bắc Kỳ, các dân tộc ít người sống phân tán nên có đến 7 trường nội trú (Cao Bằng 2 trường, Bắc Cạn, Hoà Bình, Lai Châu, Thái Nguyên, Yên Bái) cho 261 học sinh người Mường, Thái, Tày, Dao” [6, tr.
102-103]. Đối với Nam Kỳ, số trường nội trú trên toàn xứ chỉ có ba trường là Hớn Quản
(Thủ Dầu Một), Vô Dật và Phú Riềng (Biên Hoà).
Không những các trường nội trú được thiết lập, mà các trường học miền núi cũng đã được mở ra thu hút nhiều trẻ em đến học. Tác giả Phan Trọng Báu cũng đã khảo sát chi tiết về số học sinh miền núi đến trường ở Bắc Kỳ là 12.873, Bắc Trung Kỳ và Tây Nguyên là 2.317 em Nếu so với tổng số các dân tộc thiểu số ở cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời điểm này thì số học sinh đến trường là khá khiêm tốn (Bắc Kỳ chiếm tỉ lệ 1,8%, Bắc Trung Kỳ và Tây Nguyên chiếm 3.8%). Riêng đối với Nam Kỳ, trước khi Pháp thiết lập nền giáo dục Pháp – Việt vào vùng đất này thì người Khơme ở đây đã có một nền giáo dục do các nhà sư đảm nhận, thông qua các trường học Nhà chùa. Từ sau cuộc cải cách lần thứ hai (1917), chính quyền thuộc địa cần phải sửa đổi nền giáo dục của người Khơme thống nhất với nền giáo dục duy nhất do người Pháp chỉ đạo. Người Pháp chủ trương vẫn duy trì sự hoạt động các trường học Nhà chùa, nhưng chia trường này thành 2 bậc: Sơ học và Tiểu học.
Bậc Sơ học: trẻ em sẽ học trong 3 năm gồm các lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng.
Ngôn ngữ giảng dạy chính ở bậc Sơ học là tiếng Khơme, cuối lớp Sơ đẳng học sinh sẽ thi tốt nghiệp để nhận bằng Sơ học. Nội dung học ngoài giáo lý nhà Phật, học sinh còn học thêm môn toán, cách trí, địa dư, lịch sử,..
Bậc Tiểu học: Bậc học này kéo dài trong 3 năm gồm các lớp nhì đệ nhất, nhì đệ nhị và lớp nhất. Chương trình học của bậc Tiểu học theo chương trình Pháp – Việt.
Kết thúc lớp nhất, học sinh sẽ thi tốt nghiệp Tiểu học.
Đối với bậc Trung học: theo Nghị định ngày 26/12/1924, sau 2 năm học ở bậc Trung học học sinh sẽ đạt trình độ cao hơn Tú tài phần thứ nhất nhưng lại thấp hơn Tú tài toàn phần của Tú tài Pháp, cho nên người học không thể theo học các trường Cao đẳng, Đại học tại Pháp. Mọi tuyên truyền cho khuynh hướng liên hiệp14 và cố gắng chinh phục “trái tim” của tầng lớp thượng lưu bản xứ sẽ trở nên hoài phí nếu còn tồn tại giữa chính quốc và Đông Dương ngay trong lĩnh vực giáo dục. Do vậy, Toàn quyền Varenne ban hành Nghị định ngày 15/7/1927 về quy chế giáo dục Trung học Pháp – Việt quy định thời gian học là 3 năm (thay vì 2 năm như quy định của Học chính Tổng quy) và sau khi hoàn thành việc học, học sinh sẽ thi lấy bằng Tú tài bản xứ. Chương trình học bậc Trung học bao gồm các môn như: Tiếng Pháp, Triết học, Lịch sử, Địa lý, chữ Quốc ngữ, chữ Hán Nôm, Toán học, Khoa học vật lý, Khoa học tự nhiên, Vẽ mỹ thuật, Giáo dục thể chất.
14 Liên hiệp đang trở thành khuynh hướng cai trị được chính quyền thực dân phương Tây sử dụng tại
các thuộc địa, trong đó lực lượng muốn cốt kết nhất là tầng lớp thượng lưu bản xứ.
Bảng 2.9. Bảng phân chia thời gian học trong tuần
Môn học Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3
Tiếng Pháp 4 3
Khái niệm về triết học 3 2
Lịch sử và Địa lý 3 3 2
Ngôn ngữ bản địa 1 2 2
Chữ Hán Nôm (xứ An Nam). Khái niệm chữ Pâli và chữ Phạn (Cao Miên và Lào)
1 1 2
Toán học 5 (1) 6 6
Khoa học vật lý 5 4 (1) 4 (1)
Khoa học tự nhiên 2 2 2
Tổng số: 25 25 23
Vẽ nghệ thuật 1,5 (2) 1 (3) 1 (3)
Giáo dục thể chất 2 2 2
(1) 1 giờ trong kì 1; 2 giờ trong kì 2
(2) 2 giờ/tuần trong kì 1; 2 giờ/2 tuần trong kì 2 (3) 2 giờ/tuần trong kì 1.
(Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1 (2016). Giáo dục Việt Nam thời kì thuộc địa và tư liệu lưu trữ (1858-1945). Nxb Thông tin và Truyền thông, tr. 747) Như vậy, tiếng Pháp sẽ bắt đầu dạy từ năm thứ 2 và đóng vai trò quan trọng trong chương trình học, tuy nhiên trong chương trình trung học bản xứ cũng chú ý nhiều đến Việt Văn và Hán văn, được thể hiện qua các nội dung như: “có một số vốn chữ Hán để có thể đọc và hiểu được những bài Hán văn thông thường hoặc cổ điển dễ; bước đầu tìm hiểu được những tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ Hán; học cả văn học Việt Nam cổ điển (mà chương trình xếp vào loại “Văn học Hán – Việt) và văn học cổ đại Trung Quốc” [42, tr. 82]. Đến ngày 12/10/1930, nhà cầm quyền Pháp ra Nghị định thừa nhận bằng Tú tài bản xứ có cùng giá trị với Tú tài Pháp.
Như vậy, bậc Trung học theo chương trình cải cách mới có thời gian học là 7 năm: Cao đẳng Tiểu học có 4 năm là đệ nhất, đệ nhị, đệ tam và đệ tứ niên. Sau khi học xong, học sinh được đi thi để lấy bằng Cao đẳng Tiểu học; Trung học có 3 năm, chia thành hai giai đoạn: 2 năm đầu kết thúc bằng kì thi lấy bằng Tú tài phần thứ nhất, sau đó, học sinh được tiếp tục học năm thứ ba và thi tốt nghiệp để nhận bằng Tú tài toàn phần.
Mặc dù, cải cách giáo dục của Merlin và Varenne đã có hoàn thiện thêm các trường học theo quy định của Học chính Tổng quy trong chương trình cải cách nhưng