CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM TRƯỚC CẢI CÁCH CỦA THỰC DÂN PHÁP
1.2. Sự xâm nhập của giáo dục Pháp vào nền giáo dục bản xứ (1862-1905)
1.2.1. Giáo dục Pháp – Việt từ 1862 đến 1885
Với kinh nghiệm của một nước thực dân nhà nghề, Pháp hiểu rõ sức mạnh của giáo dục và họ sử dụng giáo dục như một công cụ đắc lực để cai trị Đông Dương. Vì thế, ngay khi vừa làm chủ vùng đất Nam Kì, người Pháp đã từng bước thiết lập nền giáo dục theo mô hình phương Tây, đó cũng là quá trình Pháp du nhập nền giáo dục phương Tây vào Việt Nam, đầu tiên tại vùng đất Nam Kì.
Mặc dù nền giáo dục Nho học ở thế kỉ XIX có thể là lực cản của sự phát triển xã hội, lạc hậu về nội dung và phương pháp giáo dục những vẫn còn đủ khả năng đào tạo ra những sĩ phu yêu nước, trung thành với nền độc lập của quốc gia, dân tộc. Do đó, khi quân đội triều đình vừa thất bại trước ưu thế về vũ khí của quân Pháp thì ngay lập tức đã khởi phát một phong trào kháng chiến quy tụ toàn thể nhân dân Nam Kì mà lực lượng lãnh đạo không ai hết chính là quan lại, sĩ phu có tinh thần yêu nước, bài Pháp.
2 Vua Thành Thái tên huý là Nguyễn Phúc Bửu Lân, con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ
Minh Hoàng hậu Phan Thị Điểu. Sinh ngày sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão (tức 14 tháng 3 năm 1879), lên ngôi vào ngày 2 tháng 2 năm 1889, lấy niên hiệu là Thành Thái. Tại vị được 18 năm, đến năm 1907, vua Thành Thái bị dẫn giải đến Capsaint Jacques) và năm 1916 bị đày sang đảo La Réunion. Sau 31 năm bị đày, năm 1953 ông mới được phép về thăm lăng tẩm tổ tiên, nhưng bắt buộc phải ở Sài Gòn, đến tháng 3 năm 1954, vua Thành Thái mất
Vì thế, người Pháp chủ trương phải xóa bỏ những ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học, thay thế nền giáo dục Tây học.
Trong giai đoạn từ năm 1862 đến năm 1885, do nhu cầu đáp ứng về người cho bộ máy cai trị, người Pháp đã nhanh chóng cho mở hệ thống các trường thông ngôn và các trường học phổ thông. Do vấp phải những “rào cản về mặt ngôn ngữ với người bản địa, việc đào tạo thông dịch viên vô cùng quan trọng đối với người Pháp lúc bấy giờ” [36, tr. 15]. Có thể nói, người Pháp rất mong muốn có một lực lượng nhân sự đủ trình độ và trung thành để phục vụ trong bộ máy công quyền của mình. “Sự giao tiếp trực tiếp với người bản xứ mà không phải thông qua trung gian là những thông ngôn mà họ không mấy tin tưởng và đặc biệt, trong ánh mắt của chính quyền thực dân, nền Nho học và chữ Hán là nguyên nhân của mọi bất ổn, rào cản của mọi nhu cầu tiếp xúc với dân chúng, chướng ngại của mọi dự định truyền bá tôn giáo và văn minh, nhất thiết phải bị loại bỏ” [42, tr. 49].
Năm 1862, Đô đốc Charner đã kí nghị định thành lập trường Thông ngôn An Nam (Évêque d’Adran) để dạy tiếng Pháp cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Pháp do linh mục Croc làm hiệu trưởng và linh mục Thu làm trợ giáo. Mục đích của trường là đào tạo những thông dịch viên cho quân đội Pháp và những thư kí làm trong cơ quan hành chính. Ngày 10/2/1868, chính quyền thuộc địa Nam Kì cho thành lập Học đường thị chính tại Sài Gòn. Học đường thị chính gồm 2 trường giáo dục phổ thông: trường tiểu học dành cho người châu Âu (École primaire européenne), trường cho học sinh lớn tuổi Á châu (École des adultes asiatique); và 1 trường thông ngôn.
Trường tiểu học dành cho người châu Âu chia làm 2 lớp: lớp tiểu học (classe élémentaire) miễn phí, học các môn tập đọc, sơ lược ngữ pháp tiếng Pháp và toán pháp; lớp sơ học (classe supérieure) phải trả tiền học phí, học các môn như tập viết, ngữ pháp tiếng Pháp, số học, hình học, lịch sử, địa lí, vạn vật học. Còn trường cho học sinh lớn tuổi Á châu chỉ nhận 12 người [11, tr. 695].
Để đáp ứng đội ngũ giáo viên vào dạy tại các trường này, chính quyền thuộc địa ban hành quy định về thi tuyển giáo viên bản xứ. “Giáo viên hạng nhất phải thi viết:
chính tả Pháp ngữ và quốc ngữ la tinh, viết tập nắn nót; và thi vấn đáp: 4 phép tính tam suất, tính lãi, hình học, tính đo diện tích và thể tích, đo đạc ruộng đất, mẹo tiếng Pháp, dịch Việt – Pháp và ngược lại, địa lý hoàn cầu (lương giáo viên hạng nhất 600 fr/năm). Giáo viên hạng hai phải thi viết: chính tả quốc ngữ latinh, tập viết, dịch Việt – Pháp và ngược lại; thi vấn đáp: 4 phép tính, toán đố (trong phạm vi 4 phép tính) (lương giáo viên hạng hai 360 fr/năm)” [11, tr. 696]. Ngày 19/7/1871, Đô đốc Dupre cho thành lập trường Sư phạm thuộc địa (École normale colonial) để đào tạo giáo viên, công chức, đặc biệt là ngành địa chính. Đến năm 1874, cơ quan Học chính Nam Kì
được thành lập để nghiên cứu và thiết lập nền giáo dục tại vùng đất vừa mới chiếm đóng. Người đặt nền tảng cho sự thiết lập nền giáo dục này là Luro. Từ đó, một chương trình giáo dục bậc tiểu học và trung học công lập được thiết lập. Để đáp ứng tài liệu học tập tại các trường này, Học chính Nam Kì đã giao cho một số công chức của cơ quan này và Trương Vĩnh Ký biên soạn một số sách giáo khoa cho tiểu học bằng ba loại chữ là Quốc ngữ3, Hán và Pháp từ năm 1880.
Cũng trong năm 1874, người Pháp cho mở trường Chasseloup Laubat để cho con em người Pháp đang cai trị và những người Việt làm cho Pháp. Đây cũng là trường trung học sớm nhất dạy từ bậc tiểu học đến tú tài của đất Nam Kì thời đó. Ngoài ra, người Pháp còn khuyến khích thành lập các trường dòng để thu hút các học sinh là con em đạo Thiên Chúa vào học và đào tạo họ trở thành những thông ngôn, thư kí.
Để đẩy mạnh hơn nữa sự thay đổi nền giáo dục tại Việt Nam, trong các năm 1874 và năm 1879, người Pháp đã ban hành hai quy chế giáo dục. Quy chế năm 1874 là bản quy chế giáo dục đầu tiên của Pháp ở Nam Kì quy định tất cả các trường tư chỉ được phép hoạt động khi có sự đồng ý của chính quyền thuộc địa. Nội dung quy chế chia giáo dục thành hai bậc: tiểu học và trung học. Trường tiểu học được mở tập trung ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng. Chương trình học tại trường tiểu học có các môn: tập đọc, tập viết chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Pháp và toán học. Kì thi tốt nghiệp gồm cả thi viết và thi vấn đáp. Trường trung học chỉ mở ở Sài Gòn, dạy 3 ban với các môn: tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, toán, lịch sử, địa lí. Vì bản quy chế năm 1874 tỏ ra kém hiệu quả, đến tháng 3/1879, Lafont kí nghị định ban hành quy chế mới, theo đó, hệ thống giáo dục được chia làm 3 cấp, bãi bỏ tất cả các trường đã tổ chức theo quyết định ngày 17/11/1874 của Phó Đô đốc Krant. Ba cấp học gồm có: trường hàng tổng (cấp I), trường hạng quận (cấp II) và trường tỉnh (cấp III).
Cấp I học 3 năm, chương trình học gồm tiếng Pháp, bốn phép tính, cách đo lường, chữ Hán và chữ Quốc ngữ chỉ học đến một mức độ nhất định, đủ để biết đọc biết viết; Cấp II học 3 năm, tiếng Pháp bao gồm: tập đọc, tập viết, ngữ pháp, tập đối thoại. Môn toán thì học phân số, quy tắc tam suất, chiết khấu, hình học sơ giải; Cấp III học 4 năm, chương trình học giống như cấp II, nhưng mở rộng và nâng cao hơn, ngoài ra còn được học thêm một số môn mới như thiên văn, sinh vật, địa chất và học bằng tiếng Pháp [5, tr. 48-49].
Lemyre de Viler thay Lafont đã chủ trương áp dụng một nền giáo dục với nội
3 Sách Quốc ngữ: Ấu học phép dạy (Sách tập đọc, tập viết, học toán, học vẽ), Ấu học bị thể của Le Bris; Cai trị lễ pháp của Trần Văn Thông; Áu học luân lý của Đỗ Thuận; Đông Dương địa dư của Russier và Đỗ Thuận, Nông học tập đọc của Breamer; Thực vật, người và động vật của Eberhart, Vô cơ vật học
dung chương trình như ở Pháp nhưng dạy bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán sẽ xóa bỏ hoàn toàn. Viler còn đưa một số giáo viên người Pháp sang dạy tiếng Pháp cho dân bản xứ. Ngày 2/71880, ở Sài Gòn lại tổ chức thêm một trường cho cả nam và nữ học sinh từ 6 đến 12 tuổi, có cả giáo viên người Pháp và người Việt.
Đi đôi với việc chú trọng thiết lập hệ thống giáo dục Pháp – Việt, người Pháp còn bắt buộc nhân dân đến năm 1882 phải dùng chữ Quốc ngữ trong mọi công văn giấy tờ.
Điều 2 của Nghị định số 82, ngày 6/4/1878, Chuẩn Đô đốc hải quân, Thống soái Nam Kì Louis Lafont có nói rằng: “Kể từ ngày 01/01/1882, mọi sự tuyển dụng nhân sự phải dựa vào khả năng biết chữ Quốc ngữ” [39, tr. 31]. Đến năm 1885, chính quyền thuộc địa tiếp tục cho thành lập một trường Thông ngôn dạy cả tiếng Việt, tiếng Hoa, tiếng Cmapuchia và tiếng Thái với chương trình học 2 năm. Thầy dạy tiếng Campuchia là Taupin, tiếng Pháp là Chéon, tiếng Việt là Petrus Ký, chữ Hán là Trần Nguyên Hanh.
Nguyễn Văn Phong làm phụ tá giám đốc, Trương Minh Ký và André Xu làm thầy ôn tập tiếng Pháp. Phạm Đức Hoa và Lê Văn Tư ôn tập chữ Hán và chữ Việt cho học sinh Pháp. Học sinh Pháp được nhận học bổng 900 đồng/năm, học sinh bản xứ là 240 đồng/năm [11, tr. 708].
Như vậy, trong giai đoạn 1862 đến 1885, người Pháp tập trung phát triển giáo dục chủ yếu ở Nam Kì với hai mục tiêu cơ bản: một là, đào tạo thông dịch viên và Nho sĩ phục vụ cho quân đội xâm lược và bộ máy chính quyền thuộc địa trong các tỉnh Nam Kì vừa mới chiếm đóng; hai là, xây dựng nền giáo dục phương Tây để truyền bá văn minh và chữ Pháp, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục Nho học và chữ Hán. Để thực hiện mục tiêu này, người Pháp đã sử dụng chữ Quốc ngữ như một phương tiện chuyển ngữ để người dân bản xứ dễ dàng học chữ Pháp. Tuy nhiên, sau gần 25 năm thực hiện, chính quyền thuộc địa ở Nam Kì vẫn không thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Vì thế, trong những giai đoạn sau họ đã tỏ ra thận trọng hơn trong việc thực thi chính sách giáo dục tại Bắc Kì và Trung Kì.