CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu
2.3.5. Tình hình nợ xấu
Bất cứ ngân hàng nào dù thừa vốn hay thiếu vốn, khi tiến hành cấp tín dụng đề mong muốn thu được nợ và lãi đúng hạn. Khi đó, nghiệp vụ cấp tín dụng mới được
xem là hoàn tất và ngân hàng mới đạt được mục đích của mình là tạo ra lợi nhuận.
Nợ xấu là những biểu hiện rõ nét nhất của chất lượng tín dụng. Khi phát sinh nợ xấu cùng đồng nghĩa với khoản vay của Ngân hàng đã bị rủi ro.
Bảng 2.8. Phân loại nợ cá nhân của PG Bank ĐVT: Tỷ đồng
Tiêu chuẩn
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số tiền Tỷ lệ
% Số tiền Tỷ lệ
% Số tiền Tỷ lệ
% Nợ nhóm 1 (1) 1.489 97,7 1.733 95,4 2215 79,6
Nợ nhóm 2 (2) 13 0,9 47 2,6 334 12,0
Nợ xấu (3): 22 1,4 37 2,0 234 8,4
Nợ nhóm 3 8 0,5 10 0,6 178 6,4
Nợ nhóm 4 10 0,7 6 0,3 25 0,9
Nợ nhóm 5 4 0,2 21 1,1 42 1,5
Tổng (1 + 2 + 3) 1.524 100% 1.817 100% 2.783 100%
( Nguồn: Báo cáo tài chính PG Bank năm 2010-2012 ) Số liệu trong bảng trên cho thấy, tuy nợ quá hạn và nợ xấu đều tăng qua các năm do tác động lớn của khủng hoảng kinh tế nhưng Nợ nhóm 1 (nợ trong hạn) vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, gần 80% trên tổng dư nợ. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng của PG Bank ít rủi ro và khá hiệu quả.
Nợ nhóm 2 chiếm chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng tăng qua mỗi năm. Năm 2010 là 13 tỷ đồng, năm 2011 là 47 tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với năm 2010. Năm 2012, nợ nhóm 2 là 334 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần so với năm 2012. Nợ nhóm 2 tăng nhanh là do khách hàng không kịp thu hồi vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên trễ hẹn thanh toán với Ngân hàng từ 1-10 ngày. Đây là việc bình thường vì hoạt động kinh doanh không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Nhất là, trong năm 2012, nền kinh tế lâm vào diễn biến suy thoái kéo dài từ năm 2011 nên việc chậm trễ một phần cũng do yếu tố khách quan của nền kinh tế. Trong khi đó, theo Quyết định 493 thì khoản nợ chậm trả 1 ngày so với cam kết trong hợp đồng tín dụng đã bị chuyển sang nợ nhóm 2. Chính vì vậy, nợ nhóm 2 tăng đột biến trong năm 2012.
Nợ nhóm 2 tuy chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nợ quá hạn và tăng nhanh nhưng nếu Ngân hàng và khách hàng không quản lý tốt việc trả nợ chậm này sẽ bị chuyển thành nợ nhóm 3. Điều này ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của khách hàng cũng như uy tín của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng cần tích cực giúp đỡ khách hàng về phương án trả nợ để nhanh chóng thu hồi nợ.
Nợ nhóm 3 tăng từ 8 tỷ năm 2010 lên 178 tỷ năm 2012, nợ nhóm 4 năm 2011 giảm 4 tỷ so với năm 2010, nhưng sau đó lại tăng lên 25 tỷ vào năm 2012. Nợ nhóm 3 và nhóm 4 chủ yêu là do các khoản nợ từ nhóm 2 chuyển sang. Ngân hàng cần có biện pháp kiên quyết hơn trong việc xử lý và cố gắng giải quyết những khoản nợ từ nhóm 3 có dấu hiệu chuyển sang nhóm 4 và nhóm 5, vì càng chuyển sang nhóm sau thì khả năng đòi được nợ sẽ càng thấp.
Nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng khá thấp trong tổng nợ xấu. Cụ thể, năm 2010 tỷ lệ này là 0,2%, năm 2011 là 1,1% và năm 2012 là 1,5%. Đây là các khoản nợ chuyển từ nhóm 4 sang. Tuy nhiên, cuối năm 2012, tỷ lệ nợ xấu của PG Bank là 8,4%, đã vượt quá mức quy định của NHNN, đây là dấu hiệu không tốt khi đánh giá tình hình hoạt động của Ngân hàng.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu tăng cao là do khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm trong bối cảnh suy thoái kinh tế kéo dài. Nhiều khách hàng dự báo không tốt nhu cầu dẫn đến đầu tư quá lớn, dư thừa. Tỷ lệ cho vay bất động sản và chứng khoán thấp nhưng tỷ trọng cho vay của Ngân hàng vào một số ngành phụ trợ như thép, vật liệu xây dựng cao nên chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng khi thị trường bật động sản trầm lắng kéo dài. Bên cạnh nguyên nhân khách quan cũng có nguyên nhân chủ quan, đó là: trong quá trình thẩm định đầu tư cho vay vốn, một số cán bộ tín dụng chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện đúng các quy định của Ngân hàng do năng lực và trình độ chuyên môn còn hạn chế, Ngân hàng chưa có cơ chế ràng buộc hoặc các nhân chưa tận tâm với công việc; các bộ phận, cá nhân chạy theo thành tích ảo (dư nợ cao) để được hưởng lương cao hơn những người khác....
Ngoài ra, việc kiểm soát sau cho vay của một số đơn vị chưa tốt, công tác quản lý hàng tồn kho thế chấp chưa chặt chẽ dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.
Khi xảy ra nợ quá hạn thì cán bộ tín dụng thiếu cương quyết, đôn đốc trong việc thu hồi nợ.