CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu
2.3.7. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng cá nhân
Từ khi chuyển đổi từ ngân hàng TMCP nông thôn sang ngân hàng cổ phần đô thị, PG Bank đã được Ngân hàng nhà nước xếp hạng là Ngân hàng loại A trong nhiều năm liền ( 2007, 2008, 2010, 2011, 2012) và giải thưởng Thương hiệu mạnh Việt Nam (2008, 2010, 2011, 2012) do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) và Thời báo Kinh tế Việt Nam bình chọn. Trong thành công đó có sự góp phần không nhỏ của PG Bank Chi nhánh Sài Gòn. Điều này ngày càng tạo sự uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
Khi đến với PG Bank để giao dịch, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm vì ở đây tài sản của khách hàng được trông coi cẩn thận (có phòng bảo vệ, chỗ giữ xe, không thu phí). Khách hàng mới sẽ không phải mất nhiều thời gian để tìm gặp CV QHKH vì họ luôn trực tại chi nhánh trong giờ hành chính, hoặc khi muốn tư vấn, đội ngũ tư vấn luôn sẵn sàng. Ngoài ra, phong cách bài trí của ngân hàng rất sạch sẽ, gọn gàng;
đặc biệt là thái độ của nhân viên ngân hàng ở đây rất lịch thiệp, cởi mở, chuyên nghiệp tạo bầu không khí thoải mái giữa khách hàng với cán bộ ngân hàng. Tất cả những điều đó đã góp phần rất nhiều vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng cá nhân ở PG Bank.
2.3.7.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng theo chỉ tiêu định lượng Bảng 2.11. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng cá nhân qua các năm
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2010
Năm 2011
Năm 2012
1. Tổng thu nhập Tỷ đồng 664 1.170 1.159
2. Thu nhập lãi Tỷ đồng 156 305 264
3. Chi phí lãi Tỷ đồng 4 8 13
4. Tổng nguồn vốn Tỷ đồng 16.378 17.582 19.251
5. Vốn huy động Tỷ đồng 4.714 5.010 8.846
6. Tổng dư nợ Tỷ đồng 1.524 1.817 2.783
7. Dư nợ ngắn hạn Tỷ đồng 1.006 1.272 1.906
8. Dư nợ trung- dài hạn Tỷ đồng 518 545 877
9. Doanh số cho vay Tỷ đồng 1.372 1.635 2.505
10. Doanh số thu nợ Tỷ đồng 273 327 375
11. Nợ xấu Tỷ đồng 22 37 234
12. Vốn huy động/ tổng nguồn vốn % 28,78 28,44 45,95
13. Dư nợ/ vốn huy động Lần 0,32 0,36 0,31
14. Dư nợ ngắn hạn/tổng dư nợ % 66,01 70,01 68,49 15. Dư nợ trung- dài hạn/ tổng dư nợ % 33,99 29,99 31,51
16. Hệ số thu nợ (10)/(9) % 0,20 0,20 0,15
17. Thu nhập lãi/ tổng thu nhập % 23,49 26,07 22,78
18. Tỷ lệ nợ xấu (11)/(6) % 1,44 2,04 8,41
( Nguồn: Báo cáo tài chính PG Bank năm 2010-2012 ) Vốn huy động/ tổng nguồn vốn (%)
Vốn huy động là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu, đảm bảo quá trình kinh doanh được thuận lợi, góp phần tích cực vào việc đầu tư mở rộng tín dụng và đa dạng hóa các dịch vụ của Ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết trong tổng nguồn vốn cho bao nhiêu tỷ lệ % là vốn huy động từ cá nhân, chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
Vốn huy động từ khách hàng cá nhân chiếm trên 28% tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Vốn huy động từ khách hàng cá nhân của PG Bank đều tăng qua mỗi năm. Cụ thể, năm 2010 tỷ lệ vốn huy động/tổng nguồn vốn là 28,78%; năm 2011, tỷ lệ này có phần giảm nhẹ nhưng không đáng kể 28,44% và đến năm 2012, tỷ lệ này tăng lên 45,95%. Có được kết quả này là nhờ Ngân hàng đã đa dạng hóa các hình thức huy động, cán bộ của ngân hàng tích cực trong công tác huy động vốn. Ngân hàng tạo được sự tin tưởng và đáp ứng được chất lượng dịch vụ tốt đối với khách hàng giúp cho nguồn vốn huy động tăng lên làm cho tổng nguồn vốn của PG Bank ngày càng tăng.
Tổng dư nợ/vốn huy động
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sử dụng vốn huy động của Ngân hàng. Thông thường, chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt, tốt nhất là gần bằng 1. Nếu chỉ tiêu này quá lớn thì có nghĩa là khả năng huy động vốn của ngân hàng thấp;
ngược lại nếu chỉ tiêu này quá nhỏ tức ngân hàng sử dụng vốn huy động không hiệu quả nghĩa là ngân hàng đã cho vay được ít hơn vốn huy động vào, ngân hàng chịu lỗ phần lãi huy động dư do phải trả lãi tiền gửi cho phần vốn thừa không cho vay được. Do đó, phần vốn thừa cần được điều chuyển đến nơi thiếu để cân bằng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Nhưng vốn huy động từ khách hàng cá nhân cao hơn nhu cầu vay của nhóm khách hàng này trong khi nhu cầu vay vốn đối với khách hàng là doanh nghiệp thì cao hơn khả năng huy động vốn của nhóm khách hàng này, nên nguồn vốn huy động thừa từ khách hàng cá nhân được chuyển them cho khách hàng của doanh nghiệp vay. Điều này lý giải tại sao tỷ số dư nợ/ Vốn huy động của bộ phận khách hàng cá nhân là thấp. Cụ thể, năm 2010 là 0,32 nghĩa là 1 đồng vốn huy động có dư nợ là 0,32 đồng; năm 2011 thì 1 đồng vốn huy động có dư nợ là 0,36 đồng; năm 2012 thì một đồng vốn huy động có dư nợ là 0,31 đồng.
Qua đó, cũng cho thấy được khả năng huy động vốn từ khách hàng cá nhân là rất tốt, đã góp phần bổ sung thêm nguồn vốn cho khách hàng doanh nghiệp nói riêng và PG Bank nói chung.
Dư nợ ngắn hạn/ tổng dư nợ:
Cho vay ngắn hạn thường có thời gian thu hồi vốn nhanh, đảm bảo nguồn vốn cho Ngân hàng tái đầu tư, mở rộng hoạt động cho vay mà cũng ít gặp rủi ro hơn so với những khoản vay trung và dài hạn. Vì vậy, Ngân hàng luôn chủ động điều tiết lượng cho vay ngắn hạn cao nên dư nợ ngắn hạn/ tổng dư nợ luôn ở mức cao và chiếm tỷ trọng khá ổn định trong 3 năm. Cụ thể, năm 2010 chiếm 66,01%, năm 2011 chiếm 70,01% và năm 2012 chiếm 68,49% tổng dư nợ.
Dư nợ trung- dài hạn/ tổng dư nợ:
Như đã giải thích ở trên, do dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nên chỉ tiêu dư nợ dài hạn/tổng dư nợ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ: năm 2010 chỉ tiêu này là 33,99%, năm 2011 là 29,99% và năm 2012 là 31,51%.
Hệ số thu nợ
Chỉ tiêu này giúp đánh giá khả năng thu hồi nợ của ngân hàng hay khả năng trả nợ của khách hàng. Hệ số thu nợ càng cao thể hiện đồng vốn cho vay của ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, khách hàng vay vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đồng thời cũng nói lên khả năng thu nợ của các cán bộ tín dụng ngân hàng. Hệ số thu nợ của Ngân hàng giảm dần qua các năm, năm 2010 và 2011 là 20%, năm 2012 là 15%. Việc thu hồi nợ thấp là do nền kinh tế không ổn định khiến cho khách hàng gặp khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh hoặc những khách hàng vay chuyển nhượng bất động sản lại gặp tình trạng đóng băng khiến cho việc thanh khoản bị trì trệ. Những tác động đó đã gây không ít khó khăn cho ngân hàng trong công tác thu hồi nợ, nhiều khoản nợ không được trả đúng hẹn và xin dẫn qua năm sau.
Thu nhập lãi/tổng thu nhập
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng thu được từ hoạt động tín dụng trong tổng thu nhập của Ngân hàng. Nó cho thấy vai trò, vị trí của hoạt động cho vay trong việc tạo ra lợi nhuận cho toàn bộ hoạt động ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn chiếm tỷ lệ nhỏ so với các khoản thu lãi tiền gửi, lãi từ hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán nợ. Chỉ tiêu thu thập lãi/tổng thu nhập qua 3 năm là: năm 2010 là 23,49%, năm 2011 là 26,07% và năm 2012 giảm xuống còn 22,78%. Điều này có thể giải thích là do tình hình kinh tế diễn biến không khả quan dẫn đến các khoản vay của khách hàng chưa thể hoàn trả đúng thời hạn hợp đồng tín dụng gây ra tình trạng nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ xấu
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng một cách rõ rệt, chỉ tiêu này các nhỏ càng tốt. 3 năm qua, tỷ lệ nợ xấu của PG Bank tăng đột
biến vào năm 2012, vượt quá quy định cho phép tỷ lệ duy trì của NHNN (≤5% theo thông tư số 49/2004/TT-BTC ngày 3/6/2004). Năm 2010 là 1,44%, năm 2011 là 2,04% và năm 2012 là 8,41%. Điều này có thể giải thích là do sự suy thoái kinh tế kéo dài khiến cho khách hàng vay vốn gặp khó khăn khiến cho việc trả lãi và nợ vay chậm trễ nên làm cho nợ quá hạn trong năm 2012 tăng cao.