CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP XĂNG DẦU PETROLIMEX
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu
2.3.2. Tình hình doanh số cho vay
2.3.2.1. Doanh số cho vay cá nhân theo thời hạn
Khi nói đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng thì tín dụng ngắn hạn luôn được quan tâm hàng đầu, bên cạnh việc hỗ trợ vốn cho các thành phần kinh tế phát triển, đây còn là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Cho vay ngắn hạn thường chiếm tỉ trọng lớn vì đảm bảo thu hồi vốn nhanh và ít rủi ro hơn cho vay trung và dài hạn. Vì thế, doanh số cho vay cá nhân ngắn hạn của Ngân
1,372
1,635
2,505
0 500 1,000 1,500 2,000 2,500 3,000
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
hàng tăng qua mỗi năm theo tổng doanh số cho vay cá nhân, cụ thể năm 2011 tăng từ 876 tỷ đồng lên 1.145 tỷ đồng và tiếp tục tăng lên 1.715 tỷ đồng vào năm 2012.
Trong cơ cấu cho vay, cho vay ngắn hạn ngày càng tăng về số lượng và tỷ trọng được đảm bảo từ 60-70% trong cho vay cá nhân. Cho vay trung và dài hạn có xu hướng giảm xuống. Do định hướng phát triển của Ngân hàng là tập trung tăng trưởng dư nợ bằng cách cho vay có trọng điểm sau đó sẽ đẩy mạnh cho vay phân tán theo đề án phù hợp với lợi thế từng địa bàn. Bên cạnh nhu cầu vay vốn ngắn hạn, khách hàng cũng có nhu cầu vay vốn trung hạn. Đặc điểm của món vay này là số tiền vay tương đối lớn và thời gian trả nợ dài, hơn một năm nên đòi hỏi khách hàng phải có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trả hết nợ cho Ngân hàng khi món vay đáo hạn, do đó vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với cho vay ngắn hạn. Nhằm hạn chế rủi ro khi cho vay trung và dài hạn nên ngân hàng đã chủ động giảm dần tỷ trọng cho vay của loại hình này.
2.3.2.2. Doanh số cho vay cá nhân theo mục đích vay
Trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng, cho vay sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất trên 90% tổng doanh số cho vay. Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay có xu hướng ngày càng giảm dần do đời sống của người dân ngày càng được nâng cao kéo theo nhu cầu ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng cộng với sự chủ động của Ngân hàng trong việc điều chỉnh cơ cấu cho vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Sản xuất kinh doanh:
TP HCM là một trung tâm kinh tế lớn nên việc cho vay sản xuất kinh doanh là một nhu cầu rất lớn, không chỉ riêng các doanh nghiệp mà các cá nhân cũng cần vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình, cho nên doanh số cho vay ở lĩnh vực này cũng tăng rất nhanh qua mỗi năm: Năm 2010 đạt 1.249 tỷ đồng, năm 2011 là 1.471 tỷ đồng tăng lên 18% so với năm 2010. Năm 2012 đạt 2.229 tỷ đồng tăng 51% so với năm 2011. Nguyên nhân của sự tăng trưởng đó bên cạnh nhu cầu vốn của khách hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh, còn nhờ nỗ lực tăng cường quảng bá hình ảnh Ngân hàng nhằm giới thiệu các sản phẩm tín dụng đến với khách hàng và tạo điều kiện để khách hàng tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng.
Tiêu dùng:
Đây là loại hình cho vay phổ biến và rất phát triển trong những năm gần đây.
Khi thu nhập cùng như đời sống càng được nâng cao thì nhu cầu vay tiêu dùng là một nhu cầu không thể thiếu. Loại hình này đã được phổ biến rộng rãi từ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp nhà nước, thậm chí những hộ sản xuất kinh doanh nhỏ. Mục đích của khoản vay tiêu dùng là để mua nhà, sửa chữa nhà, mua quyền sử dụng đất để làm nhà ở, mua thiết bị nội thất gia đình, phương tiện đi lại… Với đặc điểm của nó là cho vay trả góp trong thời hạn từ 1 đến 3 năm hoặc thời gian có thể linh động hơn theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng giúp cho khách hàng dễ dàng có được phương tiện, vật dụng mình mong muốn khi tài chính có giới hạn. Điều này làm cho doanh số cho vay của loại hình này tăng lên, cụ thể năm 2010 là 123 tỷ đồng, năm 2011 là 164 tỷ đồng và tăng lên 276 tỷ đồng vào năm 2012 tương ứng tăng 68% so với năm 2011.
2.3.3. Tình hình doanh số thu nợ cá nhân
Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ảnh số tiền ngân hàng thu về từ các khoản cho vay, bao gồm cả những khoản cho vay của những năm trước. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với các ngân hàng. Việc thu hồi nợ có tốt hay không là do mỗi ngân hàng biết tính toán và tránh được những rủi ro có thể xảy ra, từ đó việc thu hồi nợ mới đúng hạn và nhanh chóng. Doanh số này còn phản ánh khả năng đánh giá khách hàng của cán bộ tín dụng, đồng thời phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Bảng 2.6. Doanh số thu nợ qua các năm
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Doanh số thu nợ 273 327 375
Doanh số cho vay 1.372 1.635 2.505
Tỷ lệ 19,9% 20% 15%
( Nguồn: Báo cáo tài chính PG Bank năm 2010-2012 )
Nhìn chung, doanh số thu nợ của Ngân hàng cũng tăng qua 3 năm, cụ thể năm 2011 doanh số thu nợ là 273 tỷ đồng tương ứng tăng 20% so với năm 2010, năm 2012 là 375 tỷ đồng tăng 48 tỷ đồng tương ứng 14,7%. Doanh số thu nợ thấp do nền kinh tế không ổn định khiến cho khách hàng gặp khó khăn trong việc sản xuất kinh doanh hoặc những khách hàng vay chuyển nhượng bất động sản lại gặp tình trạng đóng băng khiến cho việc thanh khoản bị trì trệ nên Ngân hàng không thể thu nợ đúng hạn, tỷ lệ thu hồi nợ thấp.
ĐVT: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.6. Doanh số thu nợ qua các năm 2.3.4. Tình hình dư nợ cho vay
Dự nợ là kết quả của quá trình tăng trưởng tín dụng, cho ta thấy quy mô về hoạt động tín dụng của Ngân hàng, phản ánh chính xác, đầy đủ lượng vốn đầu tư phát triển kinh tế mà Ngân hàng thực hiện tại thời điểm xem xét. Dư nợ bao gồm nợ chưa đến hạn, nợ quá hạn, nợ được gia hạn điều chỉnh và nợ khó đòi. Trong thời gian qua, PG Bank đã thực hiện tích cực mở rộng tín dụng với đối tượng là khách hàng cá nhân. Với mục tiêu hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững, Ngân hàng đã tập trung nguồn lực đầu tư vào công tác tín dụng cá nhân- một thị trường đầy tiềm năng. Vì vậy, dư nợ cho vay cá nhân ngày càng tăng.
273 327 375
1,372
1,635
2,505
0 500 1,000 1,500 2,000 2,500 3,000
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh số thu nợ Doanh số cho vay
Bảng 2.7. Dư nợ cá nhân qua các năm ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1. Theo thời hạn 1.524 1.817 2.783
- Ngắn hạn 1.006 1.272 1.906
- Trung và dài hạn 518 545 877
2. Theo mục đích vay 1.524 1.817 2.783
- Tiêu dùng 137 182 306
- SXKD 1.387 1.635 2.477
( Nguồn: Báo cáo tài chính PG Bank năm 2010-2012 ) ĐVT: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.7. Dư nợ cá nhân qua các năm
Qua bảng dư nợ cho vay, ta thấy dư nợ cho vay cá nhân của Ngân hàng đều tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2010 dư nợ đạt 1.524 tỷ đồng, đến năm 2011 dư nợ đạt 1.817 tỷ đồng tăng với tỷ lệ 19,2% so với năm 2010. Đến năm 2012, dư nợ đạt 2.783 tỷ đồng tăng 53,2% so với năm 2011. Dư nợ cho vay tăng lên do sự chủ động
1,524
1,817
2,783
0 500 1,000 1,500 2,000 2,500 3,000
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
của Ngân hàng trong điều tiết dư nợ, do nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của khách hàng ngày càng cao, nhưng tùy theo đặc điểm của từng thời kỳ kinh tế mà dư nợ tăng nhiều hay ít. Ngân hàng có nghĩ vụ đảm bảo việc cung ứng vốn luôn được sẵn sàng để đẩy mạnh việc lưu thông hàng hóa, thúc đẩy kinh tế phát triển, qua đó cũng góp phần tạo nguồn lợi nhuận cho ngân hàng.