XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Hướng dẫn ôn tập kinh tế chính trị mác lênin (Trang 152 - 161)

Câu 1: Những tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăng ghen uà V.I.Lênin uề phương thức sản xuất cong sản chủ nghĩa

Trả lời:

1. Tinh tét yếu khách quan của sự ra đời phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Khi nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người, C.Mác rút ra kết luận: Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên. Nghĩa là nó có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong. Bởi vì do sự tác động của quy luật kinh tế chung đó là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Theo quy luật này, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất, do vậy nó luôn luôn biến đổi và phát triển không 153

ngừng. Khi nó phát triển đến một trình độ nhất định thì mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, vì quan hệ sản xuất là yếu tố biến đổi chậm. Mâu thuẫn này đòi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Sự vận động và mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến sự vận động và mâu thuẫn trong chính trị - xã hội. Đó là mâu thuẫn giai cấp, giữa gia1 cấp tiên tiến đại diện cho lực lượng sản xuất đang phát triển và gia1 cấp bảo thủ đại diện cho quan hệ sản xuất lạc hậu. Mâu thuẫn giữa _ hai giai cấp này dẫn đến đấu tranh giai cấp và cách

mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, xác lập quan hệ sản xuất mới. Chính các cuộc cách

mạng xã hội đã làm cho xã hội loài người chuyển từ xã hội thấp lên xã hội cao hơn.

Theo C.Mác, xã hội loài người đã chuyển từ xã hội

nguyên thủy lên xã hội chiếm hữu nô lệ, từ xã hội chiếm hữu nô lệ chuyển lên xã hội phong kiến và từ xã hội phong kiến chuyển lên chủ nghĩa tư bản.

Khi phân tích chủ nghĩa tư bản, C.Mác nhận thấy

rằng: để bóc lột nhiều giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã

không ngừng tích lũy tư bản, để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, xã hội hóa sản xuất. Trong khi đó, quan hệ sản xuất vẫn dựa trên chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ trở nên gay gắt. Mâu thuẫn

154

này được biểu hiện về mặt xã hội, đó là mâu thuẫn giữa

giai cap tu san và gia1 cấp vô sản. Từ đó tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và xác lập quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa, làm cho phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ra đời thay thế cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

C.Mác viết: “Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó võ tung ra. Giờ tận số của chế độ tư

hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt

bi tước đoạt"!.

Như vậy, sự xuất hiện của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người.

Hơn nữa chính sự phát triển của đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra đội ngũ giai cấp công nhân. Người đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và có sứ mệnh lịch sử là người đào mổ chê chủ nghĩa tư bản.

2. Hai giai đoạn phát triển của phương thức sản xuốt cộng sản chủ nghĩa

Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa không phải tự nhiên xuất hiện mà nó “thoát thai” từ chủ

1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr. 1059.

155

nghĩa tư bản, nên không phải ngay từ đầu nó đã có ngay những đặc trưng cơ bản, mà phải trải qua một

quá trình phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện

đến hoàn thiện.

Theo C.Mác, chủ nghĩa cộng sản phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp và giai đoạn cao. Sau này V.I.Lênin gọi giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội, giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản. Do mỗi giai đoạn có trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nên nó có những đặc trưng khác nhau.

a. Giai đoạn thấp - chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn này

có những đặc trưng sau:

- Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, khoa học và công nghệ chưa đạt tới trình độ tiên tiến nhất, nên năng suất lao động còn thấp, sản phẩm chưa đổi dào.

Đồng thời, còn có sự cách biệt giữa các loại lao động nên chưa phân phối theo nhu cầu, mà phải phân phối theo

laodéng. ~

- Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với hai hình thức: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Với chế độ công hữu, chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ấp bức bóc lột và đưa người lao động từ chỗ là người làm thuê thành người làm chủ về tư liệu sản xuất, làm chủ quá trình sản xuất và làm chủ thành quả lao động của mình làm ra.

- Trong chủ nghĩa xã hội, quyền lợi bình đẳng là quyền lợi kiểu tư sản.

156

Sự bình đẳng ở đây chính là ở chỗ đã sử dụng lao

động làm đơn vị đo lường chung. Lao động ngang nhau thì được hưởng ngang nhau. Nhưng chính ở đây lại bao hàm những yếu tố không bằng nhau về thu nhập như:

+ Tinh than và thể chất khác nhau

+ Cường độ lao động khác nhau + Điều kiện lao động khác nhau + Hoàn cảnh gia đình khác nhau...

Tất cả những yếu tố đó làm cho quyền lợi bình đẳng trở thành quyền lợi bất bình đẳng.

Do vậy, C.Mác khẳng định: "Quyền không bao giờ có

thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển

văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định".

- Trong chủ nghĩa xã hội, xã hội còn giai cấp, nên còn nhà nước. Đó là nhà nước chuyên chính vô sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội và trấn Ap su phan khang của gia1 cấp tư sản.

b) Gia1 đoạn cao — chủ nghĩa cộng sản

Khi xây dựng xong chủ nghĩa xã hội, loài người sẽ bước vào chủ nghĩa cộng sản. Giai đoạn này có những đặc trưng cơ bản sau:

- Luc lượng sản xuất xã hội phát triển cao.

Chủ nghĩa cộng sản là phương thức sản xuất cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cho nên 1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995, t.19, tr.36.

157

lực lượng sản xuất của nó phải cao hơn rất nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Lực lượng sản xuất đó tất yếu phải dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học — công nghệ hiện đại nhất. Đó là một nền sản xuất với quy mô lớn, với một năng suất lao động xã hội cao chưa

từng thấy. Nó có thể xóa bỏ mọi sự cách biệt giữa lao

động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và

nông thôn. |

- Chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập.

— Theo C.Mác, chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội mà chỉ còn một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân. Người lao động thực sự là người chủ xã hội, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu, quan hệ giữa người với người là quan hệ hợp tác của những người lao động. Khi đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.

- Nền kinh tế được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vì xã hội.

Do dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên việc tổ chức sản xuất được tiến hành một cách có ý thức, có kế hoạch trên phạm vi toàn xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển một cách cân đối, nhịp nhàng.

Hơn nữa, lao động khi đó mang tính chất lao động xã hội trực tiếp, sẽ không còn sản xuất hàng hóa, do đó không còn dùng tiền để làm thước đo giá trị nữa.

158

- Thực hiện phân phối theo nhu cầu. Do lực lượng sản xuất phát triển cao, với khoa học - công nghệ hiện đại, chủ nghĩa cộng sản sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm đổi dào, phong phú. Từ đó cho phép thực hiện nguyên tắc phân phối: làm theo năng lực phân phối

theo nhu cầu.

Nguyên tắc phân phối này khắc phục được những hạn chế của nguyên tắc phân phối lao động, đồng thời dam bao cho mọi thành viên trong xã hội có cuộc sống vật chất và tỉnh thần đầy đủ.

- Không còn nhà nước và giai cấp. Đến chủ nghĩa cộng sản do dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên mọi nguồn gốc sinh ra giai cấp, sinh ra áp bức, bóc lột đều bị thủ tiêu. Mọi người là chủ nhân của xã hội, do đó đến đây nhà nước không còn nữa, mà nó

tự tiêu vong.

Như vậy, trên cơ sở kế thừa có phê phán những tư tưởng, quan điểm của các nhà kinh tế tư sản, với thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản, CMác và Ph.Ăngghen đã thành công trong việc phân tích chủ nghĩa tư bản. Các ông đã khẳng định phương thức sản xuất. tư bản chủ nghĩa không phải là phương thức sản xuất tổn tại vĩnh viễn, mà tất yếu sẽ diệt vong và được thay thế bằng phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Đây là phương thức sản xuất cao hơn, tốt đẹp

hơn, nên nó phải trải qua hai giai đoạn để hình thành nên những đặc trưng cơ bản của nó.

159

Câu 9: Những tư tudéng cua C.Mdc va Ph.

Angghen vé thoi ky qua dé tu chi nghĩa tư bản

lén chủ nghĩa công sản 0à tư tưởng của V.I. Lênin uề thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Trả lời:

1. Tư tưởng cia C.Mdc va Ph.Angghen vé thoi ky quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản

C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ dự báo về hai giai

đoạn phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, mà còn chỉ ra rằng: từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải qua thời kỳ quá độ.

C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thơi kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ

ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính

cách mạng của gia1 cấp vô sản”!,

Thời kỳ quá độ này có những đặc điểm sau:

- Đây là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, nên thời kỳ quá độ này trùng với giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản, đó là giai đoạn chủ nghĩa xã hội. Do vậy, ở những nước này - những nước chủ nghĩa tư bản đã phát triển, có trình độ phát triển cao 1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toờn tập, Nxb.Chính trị quốc

gia, Hà Nội, t. 17, tr. 724 — 72B.

- 160

về lực lượng sản xuất. Nghĩa là có nền đại công nghiệp cơ khí, với khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại.

- Đây là thời kỳ cải biến cách mạng toàn điện từ lực

lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng để xóa bỏ những hạn chế pháp quyền tư sản. Từ đó mà hoàn thiện những đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản. |

- Trong thời kỳ quá độ này, vẫn còn tồn tại sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị vẫn còn vai trò tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông.

- Về chính trị, phải thực hiện chuyên chính vô sản.

Đó là nhiệm vụ của nhà nước. Nhà nước của nhân dân lao động có nhiệm vụ trấn áp sự phản kháng của giai cấp tư sản và tổ chức, xây dựng xã hội mới. Hết thời kỳ

quá độ thì nhà nước tự tiêu vong.

2. Tư tưởng của V.] Lênin uề thời bỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

a) Tính tất yếu của thời kỳ quá độ

Trong học thuyết kinh tế của V.I.Lênin, bộ phận quan trọng nhất là lý luận về thời kỳ quá độ. Theo V.I.Lênin, quá độ ở đây là quá độ từ những nước chủ nghĩa tư bản chưa phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội (giai đoạn thấp) chứ không phải quá độ từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển lên chủ nghĩa cộng sản. Theo V.I.Lênin quá độ này là một tất yếu khách

quan vì:

11-245 161

- Do bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng khác về bản chất với mọi cuộc cách mạng xã hội trước

đây, nó là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất nhằm xóa bỏ tận gốc cơ sở kinh tế sinh ra giai cấp, nhà nước và áp bức bóc lột, chứ không phải là thay thế hình thức sở hữu tư nhân này bằng hình thức sở hữu tư nhân khác và không phải thay nhà nước bóc lột này bằng nhà nước bóc lột khác.

- Do đặc điểm của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa quyết định.

Đối với các phương thức sản xuất trước đây, quan hệ sản xuất đều nảy mầm trong lòng xã hội cũ, do vậy khi giành được chính quyền là có ngay phương thức sản xuất mới.

Còn đối với phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa thì quan hệ sản xuất không nảy mầm trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên khi giành chính quyền phải dùng nhà nước chuyên chính vô sản để từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới, và do đó

cần có thời kỳ quá độ.

b) Đặc điểm của thời kỳ quá độ

Một phần của tài liệu Hướng dẫn ôn tập kinh tế chính trị mác lênin (Trang 152 - 161)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(321 trang)