C. Mác đã khẳng định: xét về mặt phát triển lực
2. Các hình thức cơ bản của tiền công
Là hình thức tiển công mà số lượng của nó phụ thuộc vào thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tuần, tháng...).
Muốn đánh giá đúng mức tiền công không chỉ căn cứ vào lượng tiền công mà còn phải căn cứ vào độ dài ngày lao động và cường độ lao động.
Cho nên giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian. Giá cả của một giờ lao động hay còn gọi là giá cả lao động được tính như sau:
| Gia tri hang ngay Gia ca trung bình của sức lao động
laođộng =
Số giờ lao động của ngày trung bình
Ở đây nhà tư bản không thay đổi lương ngày, tuần, mà vẫn hạ thấp được giá cả lao động do kéo dài ngày
61
lao động, tăng cường độ lao động, hạ giá trị sức lao động. Tiền công phụ thuộc vào giá cả lao động và số
lượng lao động.
- Tiền công tính theo sản phẩm.
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền
công, mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm được công nhân sản xuất ra hoặc số lượng công việc đã hoàn
thành.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định, gọi là đơn giá tiền công. Để biết đơn giá tiền công, người ta tính như sau:
Tiền công trung bình một ngày Don gia của người công nhân
tin công =
Số lượng sản phẩm của người công nhân sản xuất trung bình trong ngày
Tiền công theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công theo thời gian. Trong tiền công tính theo sản phẩm, đơn vị sản phẩm làm cơ sở để tính công.
Trong một đơn vị sản phẩm lại có một lượng lao động nhất định được kết tỉnh, thước đo chính xác lượng lao động đó là giờ lao động.
3. Ý nghĩa của uiệc nghiên cứu tiền công
_- Chỉ rõ cơ sở khoa học và khách quan của vấn đề trả công cho lao động nói chung không phụ thuộc vào
62
điều kiện xã hội của lao động. Trong bất kể xã hội nào, tiền công phải bảo đảm nuôi sống người lao động (nhằm
duy trì và tái tạo sức lao động cá biệt) cũng như nuôi sống gia đình người lao động (nhằm tái sản xuất sức lao động xã hội).
- Tiền công không chỉ là phần trả cho kết quả lao động của công nhân, mà còn là công cụ kích thích người công nhân tích cực lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ xã hội.
Câu 15Ì Tich luy tu ban la gi? Phán tích các nhan to lam tang quy m6 tich luy tu ban.
Trả lời:
1. Tích luỹ tư bản
Tích luỹ tư bản là chuyển một bộ phận giá trị thặng
dư thành tư bản. Nói một cách khác, tích lũy tư bản là
tư bản hoá giá trị thặng dư.
Tích luỹ tư bản gắn liền với quá trình phát triển
của chủ nghĩa tư bản, gắn với quá trình bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với lao động làm thuê, gắn với tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa. Do đó. xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản chính là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng.
Như vậy, về thực chất tích luỹ tư bản là sự tăng cường bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân tạo ra VỚI quy mô ngày càng lớn hơn.
2. Các nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ tư bản Quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào 2 nhân tố:
- Khối lượng giá trị thang du.
- Tỷ lệ phân chia của khối lượng giá trị thặng dư thành tích lũy và tiêu dùng. Khi tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Vì vậy, những nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư cũng là những nhân tố tác động làm tăng quy mô tích lũy tư bản.
Có bốn nhân tố tác động làm tăng quy mô tích luỹ
tư bản: _ /
+ Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động.
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công của người công nhân. Nghĩa là,
nhà tư bản không chỉ chiếm đoạt lao động thặng dư mà còn chiếm đoạt một phần lao động tất yếu của công nhân, biến một phần quỹ tiêu dùng của công nhân thành quỹ tích luỹ tư bản.
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động.
Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó làm tăng thêm bộ phận giá trị thặng dư, tức là làm tăng tích
luỹ tư bản. Số lượng lao động tăng thêm do tăng cường
độ lao động và kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải
64
tăng thêm tư bản một cách tương ứng (trang thiết bị.
nhà xưởng. số lượng công nhân). Hơn nữa, tư bản sẽ có lợi, tránh được hao mòn vô hình, giảm được chi phí bảo
quản, sớm cải tiến kỹ thuật. Như vậy, để mở rộng được quy mô bóc lột, nhà tư bản có thể tăng thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trong ngày. tức nâng cao hệ số sản
xuất mà không cần đầu tư thêm tư bản để tăng thêm thiết bị, nhà xưởng mà chỉ cần tăng thêm nguyên, vật liệu một cách tương ứng. Mặt khác, nhà tư bản bắt công nhân đang có việc phải tăng cường độ lao động hoặc kéo
dài thời gian lao động để tăng khối lượng giá trị thặng
dư. Trong công nghiệp khai khoáng và trong nông nghiệp, nhà tư bản đã sử dụng phổ biến phương pháp này để tăng quy mô tích luỹ tư bản.
+ Nâng cao năng suất lao động xã hội.
Khi năng suất lao động tăng làm cho giá cả hàng
hoá giảm. Do đó, với một khối lượng giá trị thăng dư
đành cho tích luỹ như cũ, nhà tư bán có thể mua được tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm để mở rộng sản xuất. Hoặc nếu giữ quy mô sản xuất như cũ thì có thể giảm phần tích lũy để tăng phần tiêu dùng. Mặt khác sự
tiến bộ không ngừng của khoa học - kỹ thuật và công
nghệ sẽ cho phép các nhà tư bản tận dụng phế liệu để tạo ra nguyên liệu mới, từ đó giam chi phí và tạo ra nhiều giá trị thặng dư, làm tích lũy tăng.
+ Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
5 - 245 G65
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu
lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều
hoạt động trong quá trình sản xuất ra sản phẩm.
Tư bản tiêu dùng là bộ phận giá trị của những tư liệu lao động đã hao mòn dần trong quá trình sản xuất và được chuyển từng phần vào sản phẩm mới dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Trong quá trình sản xuất, tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đều hoạt động. Chỉ có sự
hoạt động của toàn bộ máy móc thì mới tạo ra được sản
phẩm. Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy nhưng trong
suốt. thời gian hoạt động, máy móc vẫn có tác dụng như
hiện còn đủ giá trị. Do đó, nếu không kể đến giá trị của
máy móc chuyển dần vào sản phẩm trong từng thời gian thì máy móc phục vụ không công cho nhà tư bản.
Chủ nghĩa tư bản càng phát triển, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, máy móc ngày càng tinh vi và hiện đại thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng ngày càng lớn. Do đó tích luỹ tư bản
ngày càng cao.
+ Quy mô của tư bản ứng trước.
Với mức độ bóc lột không đổi thì khối lượng giá trị
thặng dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định.
Do đó, quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì giá trị thặng dư bóc lột
66
được và quy mô tích luỹ càng lớn. Như vậy, khi lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng mở rộng, kỹ thuật sản xuất càng hiện đại, do đó, các động lực thúc đẩy sản xuất giá trị thặng dư càng có tác động mạnh.
Tóm lại, để tăng quy mô tích luỹ tư bản, các nhà tư bản phải sử dụng nhiều biện pháp: nâng cao trình độ bóc lột sức lao động, nâng cao năng suất lao động xã hội, sử dụng triệt để công suất và hiệu quả của máy móc, thiết bị, tăng quy mô tư bản ứng trước để mở rộng sản xuất và đổi mới kỹ thuật, công nghệ.
Câu 16: Tái sản xuất là gì? Trình bày các loại hình tái sản xuất 0uà những bết luận rút ra cua
C.Mác khi nghiên cứu tái sản xuốt gian don va
tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa.
Trả lời:
1. Túi sản xuất uò các loại hình tới sản xuất a. Khái niệm
Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp
lại và đổi mới không ngừng.
Theo C.Mác, xã hội không ngừng tiêu dùng, do đó không ngừng sản xuất. Xét trong mối liên hệ không ngừng đó thì quá trình sản xuất cũng chính là quá trình tái sản xuất. Từ đó rút ra hai điểm sau:
Một là, những điều kiện của sản xuất cũng là điều kiện của tái sản xuất. Vì vậy, muốn tái sản xuất phải 67
trích một phần sản phẩm xã hội gồm: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng hay những yếu tố của quá trình sản xuất mới.
Hai lò, sàn xuất mang hình thái nào thì tái sân xuất cũng mang hình thái đó. Nghĩa là mục đích của sản xuất và tái sản xuất do quan hệ sản xuất quyết định.
Trong bất cứ xã hội nào, tái sản xuất cũng gồm ba mặt:
+ Tái sản xuất của cải vật chất, tức là tái sản xuất tư liệu sản xuất và tái sản xuất tư liệu tiêu dùng.
+ Tái sản xuất sức lao động, tức là dành một phần
tư liệu sinh hoạt để tiêu dùng cho cá nhân và gia dinh người lao động nhằm khôi phục sức lao động đã hao phí và tạo ra sức lao động mới để đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất.
+ Tái sản xuất ra quan hệ sản xuất. Sản xuất và tái sản xuất bao giờ cũng tiến hành trên cơ sở những quan hệ sản xuất nhất định. Những quan hệ sản xuất này
thường xuyên được khôi phục lại trong quá trình tái
sản xuất.
b. Các loại hình tái sản xuất
Có hai loại hình tái sản xuất cơ bản là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất. mở rộng.
2. Tai sản xuất giản đơn tư bản chủ nghĩa
a. Khái niệm: tái sản xuất giản đơn tư bản chủ nghĩa là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như
68
cũ. Toàn bộ giá trị thặng dư đã được nhà tư bản tiêu dùng hết cho cá nhân.
Ví dụ: một nhà tư bản cé 10.000 USD dau tu vào sản xuất với quy mô và cấu tạo hữu cơ tư bản như sau:
8.000 USD để mua tư liệu sản xuất (c) 2.000 USD để mua sức lao động (v)
Gia su tỷ suất giá trị thặng dư (m) = 100%, chu
chuyển tư bản một vòng trong một năm và lưu thông
diễn ra trôi chảy thì sau một năm sản xuất của nhà tư bản đó sẽ thu về 12.000 USD. Kết quả nhà tư bản thu vé 2.000 USD (gia tri thang du). Néu 2.000 USD gia tri thặng dư, nhà tư bản tiêu dùng hết cho cá nhân và gia đình thì trong những điều kiện không thay đối, quy mô sản xuất của năm thứ hai vẫn như cũ:
8.000 USD (c) + 2.000 USD (v) + 2.000 USD (m) = 12.000 USD
Vẫn giả định như trên thì quy mô của năm thứ ba sẽ là:
8.000 USD (c) + 2.000 USD (v) + 2.000 USD (m) = 12.000 USD
Và V.V..
b. Những kết luận mà C.Mac rit ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất giản đơn tư bản chủ nghĩa.
Thứ nhất. về nguồn gốc tư bản khả biến hay tiền lương. Nguồn gốc tư bản khả biến hay tiền lương là một
bộ phận của giá trị hàng hoá do chính công nhân tạo ra.
69
Không phải nhà tư bản ứng trước tiền lương cho công
nhân mà trái lại, công nhân ng trước sức lao động cho
nhà tư bản. Họ đã sản xuất ra tư bản khả biến trước khi được trả công. Như vậy, công nhân sản xuất ra giá trị thặng dư để nuôi sống nhà tư bản, đồng thời sản xuất ra tiền lương để nuôi sống mình.
Thi hai, theo C.Mac không kể đến nguồn gốc tư
bản ban đầu là như thế nào (do ông cha để lại hay quá
trình nhịn ăn tiêu) mà có, thì chỉ sau một quá trình tái
sản xuất giản đơn liên tục thì nhà tư bản cũng tiêu dùng hết số tư bản ban đầu của mình. Số tài sản còn lại chỉ đại biểu cho giá trị thặng dư đã tư bản hóa mà thôi.
Theo ví dụ trên nhà tư bản có 10.000 USD. Mỗi năm tiéu sai 2.000 USD gia tri thang du. Nhu vậy chỉ sau ð năm nhà tư bản đã tiêu sài hết số tư bản ban đầu, số còn lại là giá trị thặng dư đã tư bản hóa.
Thứ ba, thông qua tái sản xuất giản đơn tư bản chủ nghĩa, Mác còn chỉ ra rằng: người công nhân không những tạo ra tư bản khả biến, tạo ra toàn bộ tư bản ứng ra ban đầu, mà còn không ngừng tạo ra người lao động làm thuê hay tạo ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
3. Tới sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa
a. Khái niệm: tái sản xuất mở rộng tư bản chủ
nhĩa là sự lặp lại quá trình sản xuất theo quy mô lớn
hơn trước, với một tư bản lớn hơn trước. Để có được quy mô và số lượng tư bản lớn hơn trước, nhà tư bản phải biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản
70
phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ thêm).
Theo ví dụ trên, nhưng khác với tái sản xuất giản đơn, với số 2.000 USD (m) thu được, nhà tư bản chỉ tiêu
dùng cho cá nh¿aì và gia dinh 1.000 USD, con 1.000
USD nhà tư bản dành cho tích luỹ để tái sản xuất mở rong, va s6 1.000 USD gia tri thang dư này nhà tu ban biến nó thành tư bản bất biến phụ thêm va tu ban kha biến phụ thêm. Với cấu tạo hữu cơ là 4/1 thì nhà tư bản phải mua thêm 800 c và 200 v nữa. Như vậy. vẫn giả định như trên thì quy mô của năm thứ hai sẽ là:
8.800 USD (c) + 2.200 USD (v) + 2.200 USD (m) = 13.200 USD
Các năm sau cũng diễn ra như vậy làm cho quy mô tích luỹ của tư bản cứ tăng lên không ngừng và ngày càng mở rộng.
b. Những kết luận mà C.Mác rút ra từ việc nghiên
cứu tái sản xuất mở rộng.
Thứ nhốt, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản.
Sự phân tích theo ví dụ trên đã chỉ rõ tư bản tích luỹ là giá tri thang du tu ban hoá. C.Mác chỉ rõ. tư bản phụ thêm là giá trị thặng dư tư bản hoá. Ngay từ lúc mới ra đời, không một nguyên tử giá trị nào của nó mà lại không phải do lao động không công của người khác
tạo ra.
71
Hơn nữa, tư bản tích luỹ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản. Tư bản ứng trước chiếm tỷ lệ rât
nhỏ bé, không đáng kể, "chỉ là một giọt nước trong dòng
sông ngày càng lớn của tích luỹ".
Như vậy. toàn bộ sự giàu có của giai cấp tư sản đều là kết quả của chiếm đoạt giá trị thặng dư do lao động không công của gia1 cấp công nhân tạo ra.
Thứ hơi, sự chuyển hoá các quy luật sở hữu của nền sản xuất hàng hoá thành các quy luật chiếm hữu tư bản chủ nghĩa.
Trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, người chiếm hữu hàng hoá là nhà tư bản. Sự chiếm hữu hàng hoá đó dẫn đến sự chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Thật vậy, nhà tư bản là người sản xuất hàng hoá, tư bản thuộc quyền sở hữu của anh ta, nên anh ta có quyền sử dụng, chi phối. Qua trao đổi ngang giá (theo đúng quy luật giá trị. anh ta nắm quyền sở hữu các yếu tố sản xuất cần thiết. Sau quá trình sản xuất, hàng hoá được tạo ra cũng thuộc quyền sở hữu của nhà tư bản. Cuối cùng nhà tư bản bán hàng hoá đi và
thu về giá trị. Nhà tư bản vẫn luôn thực hiện đúng quy luật của sở hữu hàng hoá.
Nhưng điều đáng quan tâm là, khi trao đối các yếu tố sản xuất. nhà tư bản đã có quyền sở hữu hàng hoá sức lao động và do đó có quyền sở hữu giá trị thặng dư do hàng hoá sức lao động tạo ra.
72