C. Mác đưa ra khái niệm tư bản giả để chỉ mọi tư
3. Vai trò của các độc quyên xuyên quốc gia
- Độc quyền xuyên quốc gia là nhân tố chủ yếu thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển. Vì: độc quyền xuyên quốc gia thường là những trung tâm phát minh, sáng chế ra hầu hết những kỹ thuật, công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại nhất, tỉnh xảo nhất và trực tiếp ứng dụng nó vào trong sản xuất một cách rộng rãi
128
nhất. Vì thế mà nó thường là trung tâm cung cấp cho thị trương trong nước và thị trường thế giới những sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao nhất.
- Độc quyền xuyên quốc gia còn là một tổ chức kinh
doanh hiện đại, nó biểu thị được sự thích ứng tương đối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở giai đoạn độc quyền.
- Độc quyền xuyên quốc gia là lực lượng chủ yếu thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tập đoàn hóa kinh tế khu vực và quốc tế hóa kinh tế toàn cầu, do đó nó có khả năng mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra phạm vi thế giới.
- Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh: do có khối lượng tư bản khổng lổ nên các xuyên quốc gia có khả năng phát triển kinh doanh nhanh chóng ở nhiều ngành kinh tế và ở các lĩnh vực khác nhau và có khả nang dam bảo được cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất. Bởi vậy mà chúng tránh được rủi ro của vốn đầu tư của hàng rào thuế quan, có sức cạnh tranh mạnh và
thu được lợi nhuận độc quyền cao để không ngừng tái
sản xuất mở rộng.
- Vì mục tiêu thu lợi nhuận độc quyền cao nên hoạt động của các công ty độc quyền xuyên quốc gia thường gây ra sự phát triển không đều và không ổn định cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà sự biểu hiện của nó là khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, phân hóa giàu _ nghèo, ô nhiễm môi trường sinh thái và các tệ nạn xã
9-245 : 129
hội có xu hướng phát triển ngày càng tăng, do đó mà độc quyền xuyên quốc gia đã làm cho mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê ngày càng trở nên gay gắt chẳng những ở từng quốc gia tư bản chủ nghĩa mà còn ở trên phạm vi thế giới.
b) Đối với các nước đang phát triển
- Những tác động tích cực:
+ Các công ty độc quyền xuyên quốc gia đã tác động về kinh tế, khoa học và kỹ thuật làm cho các nước đang phát triển sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu sang thị trường các nước tư bản
chủ nghĩa.
+ Góp phần tạo ra được nguồn vốn khá lớn để hỗ trợ cho các nước đang phát triển tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển mở rộng các ngành nghề trong nước thực hiện công nghiệp hoá
hướng ngoại.
+ Thực hiện chuyển giao kỹ thuật công nghệ mới
tiên tiến, hiện đại sang các nước đang phát triển, góp phần đào tạo kỹ năng quản lý, nâng cao tay nghề cho lao động ở các nước sở tại.
+ Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng quan hệ thị trường, thực hiện sự phân công lao động quốc tế một cách có hiệu quả chẳng những ở phạm vi mức sở tại mà cả trên trường quốc tế.
130
- Những tác động tiêu cực:
+ Dễ dàng làm cho nền kinh tế các nước đang phát
triển phụ thuộc vào vốn kỹ thuật, công nghệ, thị trường
của các nước tư bản chủ nghĩa.
+ Các nước đang phát triển do trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu nên thường phải chấp nhận những kỹ thuật, công nghệ cũ của các tổ chức độc quyền mà giá cả lại cao hơn mức bình thường.
+ Làm xuất hiện và tăng dần tình trạng phân phối thu nhập không đều ở nước chủ nhà và dễ dàng làm cho các công ty của nước chủ nhà bị phá sản vì không đủ sức cạnh tranh.
+ Các nước chủ nhà thường phải chịu đựng sự ô nhiễm nặng nề của môi trường sinh thái do công nghệ cũ
kỹ của các công ty độc quyền xuyên quốc gia mang lại,
đồng thời bị bóc lột nặng nề tài nguyên thiên nhiên.
+ Các chủ công ty chi nhánh xuyên quốc gia thường cấu kết với một số công chức bản xứ để tham nhũng và bóc lột công nhân nặng nề thông qua việc ký kết hợp đồng không bình đẳng, tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian lao động.
4. Ý nghĩa của uiệc nghiên cứu
- Sự ra đời và phát triển của độc quyển xuyên quốc gia tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan do sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa quy định. Nó sẽ tổn tại và phát triển cùng với 131
sự tổn tại và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Vai trò của độc quyền xuyên quốc gia có tính chất hai mặt: Một mặt, nó có tác dụng tích cực thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển, tạo thời cơ cho các nước đi sau.
Các nước đang phát triển lợi dụng được những thành tựu
khoa học, kỹ thuật công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình phát triển của mình sớm hội nhập được với sự phát
triển chung của nền kinh tế thế giới. Mặ¿ khác, do bị quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối và vì mục tiêu dành lợi nhuận độc quyền cao nên mọi hoạt động của độc quyền xuyên quốc gia thường xuyên làm cho nền kinh tế thế giới phát triển không ổn định, tính chất bóc lột, ăn bám, thối nát ngày càng tăng lên và khả năng các nước đang phát triển phải lệ thuộc vào các nước phát triển là rất lớn, do đó mà nguy cơ tụt hậu ngày càng xa của các nước đang phát triển là rất dễ xảy ra.
Để hạn chế mặt tiêu cực, tận dụng, phát huy mặt tích cực, một mặt, các nước đang phát triển phải không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản chủ nghĩa, chấp nhận sự có mặt các chỉ nhánh của các độc quyền xuyên quốc gia ở nước mình. Một khác, phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ, phát huy hết nội lực, dựa vào sức mình là chính để vươn lên, vừa hợp tác, vừa đấu
tranh để phát triển.
132-
Câu 30: Phân tích địa uị lịch sử của chủ nghĩa
để quốc. :
Tra loi:
1. Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyên, giai đoạn phát triển cao nhất của chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển cao nhất của chủ nghĩa tư bản là vì chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển kế tục trực tiếp những đặc tính cơ bản của chủ nghĩa tư bản ở trình độ cao. Cụ thể là:
- Về mặt kinh tế: sự độc quyền của chủ nghĩa tư bản sinh ra từ tự do cạnh tranh, nhằm thay thế tự do
cạnh tranh nhưng lại không thủ tiêu được tự do cạnh tranh mà ngược lại là làm cho cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn trên quy mô ngày càng rộng
lớn ở mọi ngành sản xuất.
Trong giai đoạn độc quyền thì tích tụ, tập trung tư bản vẫn được đẩy mạnh với tốc độ ngày càng cao mà sự biểu hiện cụ thể của nó đó là sự xuất hiện nhiều ngành kinh tế mới có quy mô lớn mà phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh, phạm vi cạnh tranh giành độc quyền đã được mở rộng ra phạm vi quốc tế thông qua con đường xuất khẩu tư bản.
- Về mặt chính trị: sự lớn mạnh của các tổ chức độc quyền đó là sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Một liên mình sức mạnh giữa nhà nước va độc quyền giữ địa vị thống trị mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của chủ nghĩa tư bản.
133
Quan hệ sản xuất tư bản từ chỗ do tư bản tư nhân thống trị nay do độc quyền thống trị và sự thống trị ngày càng được mở rộng làm cho khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên với tốc độ ngày càng cao so với thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
2. Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản ăn bám, thốt nút
- Về mặt kinh tế: |
Một mặt, do sự thống trị của độc quyền nên tiến bộ kỹ thuật phát triển chậm vì bị kìm hãm, không được kích thích và do đó cũng làm cho lực lượng sản xuất phát triển chậm lai. Mat khác, cũng do độc quyền mà các nhà tư bản có khả năng đầu tư để nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu kỹ thuật mới để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ngoài độc quyền làm cho các xí nghiệp này bị phá sản, gây ra tình trạng thất nghiệp của công nhân, làm lãng phí sức lao động xã hội. Do đó, mà nền kinh tế thường lâm vào khủng hoảng.
- Về mặt xã hội:
Các tổ chức độc quyền ra đời đã tạo ra một tầng lớp thực lợi thoát ly khỏi sản xuất, ăn bám ngày một tăng, tầng lớp công nhân quý tộc cũng đã xuất hiện làm tay sai cho các nhà tư bản độc quyền. Đội ngũ này chẳng những tăng lên ở trong nước mà còn tăng lên ở các nước thuộc địa và cuộc sống của chúng ngày càng xa xỉ, bởi vậy mà gia1 cấp công nhân lao động bị bóc lột ngày càng
134
nặng nề trên quy mô ngày càng rộng lớn và do đó đời
sống ngày càng trở nên khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gay gắt.
- Về chính trị:
Các độc quyền đã liên minh rất chặt chẽ với nhà nước tư sản để thống trị nhân dân trong nước và bành
trướng ra nước ngoài bằng các cuộc chạy đua vũ trang,
tiến hành chiến tranh xâm lược với quy mô ngày càng lớn, làm cho tài sản, của cải, thành quả lao động của con người bị phá hủy, hàng chục triệu người bị chết vì đói vì bom đạn, còn bọn tư bản độc quyền thì ngày càng giàu có hơn, sống xa xi hơn bởi vì ăn cướp được nhiều và bóc lột được nhiều.
Đó chính là sự ăn bám và là sự thối nát của chủ nghĩa tư bản.
3. Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản đang trong qua trinh bi diét vong
Thứ nhất, nó đã trở thành chủ nghĩa tư bản ăn bám và thối nát.
Thứ hơi, trong giai đoạn này, sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất mà nền sản xuất xã hội ngày càng được xã hội hóa. Và do đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng tăng lên. Mà sự biểu hiện của nó đó là mâu thuẫn giữa gia1 cấp tư sản với gia1 cấp vô sản, giữa nhà nước đế quốc và các dân tộc thuộc địa cũng ngày
càng tăng lên gay gắt. Chính điều đó đã tạo điều kiện
135
vật chất cho sự ra đời một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa cao đẹp hơn, tốt đẹp hơn thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa.
Câu 31: Phân tích nguyên nhân hình thành uà những biến đổi của chủ nghĩa tư bản ngày nay.
Trả lời:
| 1. Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bỏn
ngay nay
- Do sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mang khoa học và công nghệ.
Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại diễn ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho lực lượng sản xuất của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển hết sức nhanh chóng. Sự phát triển đó đã làm cho nền kinh tế các nước tư bản tăng trưởng mạnh mẽ chẳng những theo chiều rộng mà cả theo chiều sâu. Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện cho các nhà tư bản ứng dụng nhanh những công nghệ, kỹ thuật mới, như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ điện tử,... tự động hóa vào mọi quá trình sản xuất. Nhờ đó mà tạo ra được một sức sản xuất to lớn, tăng nhanh năng suất lao động, hiệu quả kinh tế cao, nhở đó mà chủ nghĩa tư bản có khả năng điều chỉnh để thích nghị với thởơi đại mới - trở thành một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản ngày nay.
136
- Do sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong những năm 1950 - 1980.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự hùng mạnh, có chế độ xã hội ưu việt và ngày càng phát
triển đã có tác dụng tích cực hướng các nước đang phát
triển tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã làm giảm sút uy tín, sức mạnh và vai trò của chủ nghĩa tư bản trên thế giới. Đứng trước thách thức này, chủ nghĩa tư bản buộc phải có sự biến đổi để tồn tại và phát
triển - để trở thành chủ nghĩa tư bản ngày nay.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời đã tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước đang phát triển, bảo vệ hòa bình thế giới, chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc. Các nước xã hội chủ nghĩa liên tiếp đạt được thắng lợi đã buộc các nước tư bản chủ nghĩa phải liên minh lại với nhau cả về kinh tế, chính trị quân sự để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc của các nước đang phát triển. Sự liên minh đó đã mang lại cho chủ nghĩa tư bản có sự phát triển cao về kinh tế, sự ổn định tạm thời về chính trị, tạo đà cho chủ nghĩa tư bản bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ chủ nghĩa tư bản ngày nay.
- Do hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau chiến tranh, nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa đều bị tàn phá hết sức nặng nề (trừ Mỹ), 137
đòi hỏi các nước tư bản chủ nghĩa phải tập trung mọi nguồn lực để khôi phục và phát triển nền kinh tế. Sự phục hồi và phát triển nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa do nhà nước tư sản, người đại diện cho giai cấp tư sản đứng ra tổ chức thực hiện và có sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ - một nhà nước tư sản mạnh nhất, giàu có nhất, có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến - giàu có nhờ chiến
tranh - đã giúp cho chủ nghĩa tư bản sớm được hồi phục và phát triển sang một thời kỳ mới - đó là chủ nghĩa tư bản ngày nay.
9. Những biến đổi của chủ nghĩa tư bản ngày nay - Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất.
Xuất hiện nhiều ngành kinh tế có hàm lượng trí tuệ cao, nhiều loại hình dịch vụ mới hiện đại như: công nghệ
chế tạo chất bán dẫn, công nghệ thông tin liên lạc viễn thông, tự động hóa công việc văn phòng - người máy - sản xuất không có người điều khiển, công nghệ quang học, sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ sản xuất vật liệu mới... Với sự ra đời của công nghệ, kỹ thuật mới, chủ nghĩa tư bản đã sử dụng nguồn nguyên liệu và lao động sống ngày càng có hiệu quả cao.
Phân công lao động xã hội trong chủ nghĩa tư bản ngày nay ngày càng được đẩy mạnh, chẳng những ở trong các nước tư bản chủ nghĩa mà còn diễn ra cả trên phạm vi thế giới mà nòng cốt thúc đẩy sự phát triển đó là các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia. Sự phát
138
triển của phân công lao động đã cho phép chủ nghĩa tư
bản khai thác một cách có hiệu quả tiểm năng thế mạnh kinh tế của máy móc làm cho cơ cấu nền kinh tế thế giới biến đổi theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
- Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có sự điều chỉnh.
* Về mặt sở hữu: chủ nghĩa tư bản thực hiện mạnh mẽ việc cổ phần hóa - đa dạng hóa các hình thức sở hữu.
+ Sở hữu nhà nước tư bản chủ nghĩa + Sở hữu tập thể tư bản
+ Sở hữu tư nhân tư bản
+ Sở hữu cổ phần của người lao động và các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Nhờ đa dạng hóa các hình thức sở hữu, đặc biệt là
cổ phần hóa nên các nhà tư bản đã tập trung được khối lượng tư bản rất lớn của xã hội để phát triển sản xuat, kinh doanh, thu lợi nhuận và mọi tầng lớp người lao động có điều kiện tham gia quản lý xí nghiệp thông qua cổ phần mà mình đóng góp.
Tuy nhiên, bản chất của sở hữu vẫn không thay đổi.
Trên thực tế, các nhà tư bản vẫn chi phối khối lượng lớn tư bản xã hội vì họ có nhiều tư bản và nắm cổ phần khống chế.
139