2.3.2.1. Một số hạn chế trong thanh toán quốc tế của Ngân hàng Công Thơng Việt Nam
+ Thị phần TTQT của NHCTVN còn thấp:
Đợc biết đến nh một trong 4 NHTM lớn của Việt Nam, đã có bề dày kinh nghiệm đối với hoạt động TTQT nhng cho đến thời điểm này doanh số TTQT của NHCTVN vẫn còn kiêm tốn. Trong khi tổng nguồn vốn huy động chiếm khoảng 15% trên thị trờng huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tổng d nợ cho vay và đầu t trực tiếp đối với nền kinh tế chiếm 13% trên thị trờng tín dụng đối với nền kinh tế, doanh số và thị phần thanh toán XNK của NHCTVN còn quá nhỏ bé, khoảng 8%.
Bảng 2.6: Doanh số và tỷ trọng thanh toán XNK của NHCTVN [4]; [10]; [11]
Đơn vị tính :1000 USD
Năm Doanh số thanh toán XNK
Thị phần (%)
NHCTVN Cả nớc
2001 2.010,96 31.189 6,45
2002 2.257,12 35.830 6,30
2003 3.589,11 44.875 8,00
2004 4.546,31 57.503 7,91
2005 5.281,06 69.420 7,6
Thị phần nhỏ bé trong tổng kim ngạch thanh toán XNK cho thấy NHCTVN cha nắm bắt đợc thị trờng. Khách hàng đến với NHCTVN cha nhiều, cha hoàn toàn tin tởng vào hoạt động TTQT của ngân hàng, năng lực cạnh tranh của ngân hàng còn thấp, cha sẵn sàng và cha đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng tăng, đa dạng và phong phú của thơng mại quốc tÕ.
+ Giữa thanh toán hàng nhập khẩu và thanh toán hàng xuất khẩu có sự mất cân đối lớn:
So với thanh toán hàng nhập khẩu, doanh số thanh toán hàng xuất khẩu chỉ bằng 55%. Đây là một khó khăn lớn trong việc thu hút nguồn ngoại tệ để
đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng nhập khẩu. Hàng năm, NHCTVN phải tìm nhiều biện pháp với chi phí cao để bù đắp phần thiếu hụt nguồn ngoại tệ trong thanh toán. +
Sơ đồ 2.2: Cán cân thanh toán xuất -nhập khẩu của NHCTVN [10]; [11]
1008
1157 1175
1444
2145
470 498 554
727
1050
0 500 1000 1500 2000 2500
2001 2002 2003 2004 2005
N¨m
Doanh số (triệu USD)
Tài chợ nhập khẩu Tài chợ xuất khẩu
+ Sản phẩm, dịch vụ TTQT còn hạn chế, cha đáp ứng đợc đầy đủ các nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng:
Hiện nay NHCTVN chỉ tập trung vào một số sản phẩm TTQT truyền thống nh tín dụng chứng từ; chuyển tiền; nhờ thu. Đây là những sản phẩm mà hầu hết các ngân hàng đều có nên luôn ở trong tình trạng cạnh tranh gay gắt. Một số sản phẩm mới có tiềm năng phát triển nh bao thanh toán, thẻ tín dụng quốc tế đa năng, đã bớc đầu đợc đa ra nghiên cứu nhng cha đa vào thực hiện. Các dịch vụ hỗ trợ cho TTQT còn hạn chế ở một số hình thức quen thuộc, quá trình hoạt động TTQT mang tính thụ động, gần nh toàn bộ các giao dịch TTQT đều liên quan hoặc phụ thuộc vào hoạt động tín dụng.
Thực tế cho thấy hầu hết các L/C nhập khẩu đợc mở bằng nguồn vốn vay của ngân hàng. Do vậy, khi ngân hàng có khó khăn về vốn, hoặc thị tr ờng ngoại tệ có nhiều biến động thì ngân hàng không đáp ứng đ ợc nhu cầu của khách hàng.
+ Tốc độ xử lý công việc trong các khâu TTQT còn chậm:
Thời gian thực hiện một giao dịch TTQT còn kéo dài, quy trình thanh toán rờm rà, cha tạo thành khâu khép kín, ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và uy tín của ngân hàng, quá trình thanh toán đôi khi vẫn xảy ra sai sót làm ảnh hởng tới chất lợng hoạt động nói chung. Hiện nay, NHCTVN đang bị khách hàng phàn nàn về thời gian thực hiện các giao dịch TTQT quá lâu so với các NHTM khác
+ TTQT của NHCTVN chiếm tỷ trọng thấp so với các nghiệp vụ khác của ngân hàng:
Điều đó đợc phản ánh rõ nét qua doanh thu từ hoạt động TTQT trong tổng doanh thu của NHCTVN. Trong cơ cấu doanh thu, có đến gần 90% là doanh thu từ đầu t và cho vay, còn lại là doanh thu của TTQT và các loại dịch vụ khác. Trong khi đó theo con số thống kê của các ngân hàng n ớc ngoài, đặc biệt là các ngân hàng Mỹ, tỷ lệ lợi nhuận thu đ ợc từ hoạt động này rất cao. Ví dụ, ngân hàng American Express năm 2002 có mức tăng tr - ởng lợi nhuận thu đợc từ phí dịch vụ của TTQT là 12%, trong khi mức tăng trởng lợi nhuận chung chỉ đạt 3%, Bank America năm 2004 có mức tăng tr - ởng lợi nhuận thu đợc từ phí dịch vụ của TTQT là 41%, đạt mức 2.833 triệu
đô la Mỹ, trong khi mức tăng trởng lợi nhuận chung là 31%, đạt 14.143 triệu đô la Mỹ.
2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế + Nguyên nhân khách quan:
- Những biến động về kinh tế, chính trị trong khu vực và trên thế giới:
Trong những năm qua nhiều sự kiện ảnh hởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam trong đó có hoạt động TTQT nh sự tăng giá dầu liên tục trên thị trờng thế giới, bệnh viêm đờng hô hấp cấp (SARS) và cúm gia cầm năm 2004 - 2005, sự lên giá của đồng Euro, việc chính phủ Mỹ thực hiện phán quyết chống bán phá
giá…
- Chính sách thơng mại cha ổn định:
Danh mục các mặt hàng đợc phép XNK, biểu thuế áp dụng đối với từng mặt hàng, điều kiện để doanh nghiệp đợc phép hoạt động XNK thờng xuyên có sự thay đổi, song thời gian kể từ khi ra quyết định đến khi quyết định có hiệu lực thi hành thờng là ngắn, không đủ để các doanh nghiệp dự tính sắp xếp kế hoạch cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, Chính phủ cha có chiến lợc, giải pháp tổng thể hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp xuất khẩu, cha chú trọng đến nghiên cứu thị trờng nớc ngoài, cha liên kết các mối quan hệ, các tổ chức của nớc ta ở các nớc để nắm bắt kịp thời nhu cầu, thông tin về mặt hàng, ngành hàng của phía nớc ngoài. Các thủ tục hành chính XNK còn rờm rà, cha có sự liên kết phối hợp giữa các ban ngành, các quy định còn chồng chéo gây phiền hà cho khách hàng, tốn kém thời gian và chi phí.
- Thị trờng ngoại hối cha phát triển:
Hiện nay, ở Việt Nam cha có thị trờng ngoại hối đích thực, các NHTM hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên cơ sở tỷ giá liên ngân hàng do NHNN ấn
định, vì vậy xác định tỷ giá ngoại hối của các ngân hàng không dựa vào qua hệ cung cầu trên thị trờng, không phản ánh đợc thực tế nhu cầu cũng nh khả năng
đáp ứng ngoại tệ của thị trờng. Thực tế cho thấy đã có những cơn sốt và tình trạng khan hiếm ảo về ngoại tệ, làm cho việc khai thác nguồn ngoại tệ phục vụ TTQT gặp nhiều khó khăn, cả ngân hàng và khách hàng đều phải chịu nhiều thiệt thòi khi chuyển đổi tỷ giá, giảm hiệu quả kinh doanh.
- Môi trờng pháp lý cho hoạt động TTQT còn thiếu và cha đồng bộ:
Thực tế cho thấy, môi trờng pháp lý liên quan đến hoạt động TTQT của nớc ta hiện nay con nhiều bất cập, các văn bản luật pháp về tài chính tín dụng hay pháp lệnh ngân hàng không đề cập đến các nội dung điều chỉnh hoạt động TTQT. NHNN cha ban hành đầy đủ những văn bản pháp lý hớng dẫn hoạt
động TTQT, cha có sự hớng dẫn thống nhất về việc áp dụng các thông lệ quốc tế nh UCP, INCOTERMS. Hoạt động TTQT cha thực sự đợc bảo vệ bởi một hành lang pháp lý đã gây không ít khó khăn cho các NHTM trong quá trình giải quyết các tranh chấp với đối tác nớc ngoài. Hiện nay, khi có tranh chấp xảy ra, các NHTM chủ yếu dựa vào thông lệ quốc tế và luật pháp của nớc thứ ba, trong nhiều trờng hợp gây khó khăn cho ngân hàng cũng nh khách hàng.
Một số văn bản của NHNN quy định về quản lý ngoại hối, tài trợ thơng mại, chiết khấu chứng từ có giá... cha cụ thể, gây ra sự giải thích khác nhau
giữa các ngân hàng dẫn đến áp dụng không thống nhất, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM.
- Khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ về ngoại thơng, hành vi đạo đức của khách hàng còn yếu kém cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển hoạt động TTQT tại NHCTVN. Hiện nay, tình trạng vốn tự có của doanh nghiệp ít nhng chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt
động lại rất lớn là khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp đầu t vào máy móc thiết bị bằng việc tranh thủ vốn vay ngắn hạn thông qua mở L/C trả chậm dẫn đến tình trạng không trả đợc nợ khi đến hạn thanh toán. Nhiều khách hàng không hiểu biết các thông lệ quốc tế, thiếu kinh nghiệm trong đàm phán, ký kết hợp
đồng nên chịu nhiều điều khoản thua thiệt.
- Công tác thanh tra, kiểm tra về hoạt động TTQT của NHNN Việt Nam đối với các NHTM cha kịp thời và cha có hiệu quả. Các đoàn thanh tra cha phát hiện đợc những sai sót cũng nh không thấy đợc những vấn đề bất cập trong quá trình thực thi các quyết định liên quan đến hoạt động TTQT.
+ Nguyên nhân chủ quan từ phía NHCTVN:
Thứ nhất, mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại HSC và từng Chi nhánh cha hợp lý.
Hiện nay, NHCTVN đã ban hành quy định về chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban tại HSC và các Chi nhánh, theo quy định này, các nghiệp vụ liên quan đến TTQT đợc thực hiện bởi một số phòng nh Phòng Tín dụng, Phòng Thanh toán XNK, Phòng Chuyển tiền ngoại tệ, Phòng Thanh toán ngân quỹ, Phòng Thanh quyết toán vốn kinh doanh, Phòng Thẻ, Tổ SWIFT và Teskey... Việc thực hiện chuyên môn hoá các nghiệp vụ là cần thiết. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tợng chức năng nhiệm vụ của các phòng cha rõ ràng, chồng chéo, phân công nhiệm vụ giữa các phòng cha hợp lý. Ví dụ, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa phòng Thanh toán XNK với Phòng Chuyển tiền ngoại tệ trong hoạt động thanh toán chuyển tiền ngoại tệ, sự thiếu văng những quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn của phòng Thanh toán XNK và phòng Tín dụng trong việc hớng dẫn và chỉ đạo thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh… . Do vậy trong quá trình thực hiện, những khó khăn vớng mắc của các Chi nhánh trình lên HSC không đợc giải quyết kịp thời, gây ách tắc
trong công việc, ảnh hởng đến cơ hội kinh doanh của NHCTVN cũng nh của khách hàng. Các phòng chuyển tiền ngoại tệ, Thanh toán xuất nhập khẩu, Dịch vụ thẻ tại HSC còn quá tập trung vào xử lý nghiệp vụ cụ thể, ch a thể hiện đợc vai trò quản lý và điều hành tập trung, vì vậy trong nhiều tr ờng hợp không nắm đợc tình hình thực hiện và những khó khăn thực tế của các Chi nhánh.
Tại HSC cũng nh các Chi nhánh, sự phối kết hợp giữa các phòng ban cha chặt chẽ, đặc biệt giữa bộ phận TTQT và tín dụng trong vấn đề thẩm định hồ sơ khách hàng, cấp hạn mức mở L/C và hạn mức tín dụng cho khách hàng.
Do vậy, cha tạo nên một dịch vụ khép kín trong hoạt động ngân hàng nói chung và TTQT nói riêng.
NHCTVN đang thực hiện tổ chức và quản lý TTQT theo mô hình tập trung bán phân tán, về cơ bản là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của NHCTVN trong thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện bộc lộ một số hạn chế nh tập trung quá mức việc kiểm soát các giao dịch TTQT tại HSC, tất cả các bức điện đi và đến đều phải in ra, xử lý tr ớc khi truyền ra nớc ngoài hoặc truyền về Chi nhánh làm cho quá trình thực hiện phải qua nhiều khâu, nhiều cấp, nên xử lý giao dịch chậm, lãng phí thời gian và nhân lực. Trong khi một số lợng lớn các giao dịch phi tài chính có thể cho phép chi nhánh truyền, nhận trực tiếp với ngân hàng n ớc ngoài. Hơn nữa, hiện nay NHCTVN cha thực hiện đợc việc quản lý tập trung hệ thống khách hàng, một khách hàng có thể giao dịch tại nhiều Chi nhánh của NHCTVN nhng mỗi Chi nhánh lại có chính sách u đãi khách hàng khác nhau nên dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các Chi nhánh. Trong điều kiện khối lợng giao dịch TTQT và trình độ nghiệp vụ của cán bộ TTQT tại các Chi nhánh còn hạn chế, thực hiện phân tán các giao dịch tại các Chi nhánh này sẽ dẫn đến tăng chi phí quản lý, tăng độ rủi ro của giao dịch, không đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện, ảnh h ởng
đến uy tín của ngân hàng.
Thứ hai, chính sách phát triển TTQT cha đợc quan tâm đúng mức, văn bản chế độ liên quan đến TTQT thiếu tính đồng bộ.
Cho đến nay, NHCTVN vẫn cha có cơ chế rõ ràng cho việc u tiên phát triển TTQT, mà chỉ tập trung vào các hoạt động tín dụng có liên quan đến một phần TTQT là tài trợ thơng mại. Hoạt động TTQT hầu nh phụ thuộc vào chính sách và cơ chế tín dụng. Trong chính sách tín dụng liên quan đến TTQT còn
nhiều bất cập nh các quy định về việc ký quỹ mở L/C, cam kết vay vốn, cam kết thanh toán, quy định về hạn mức tín dụng và hạn mức mở L/C còn có sự phân biệt đối xử giữa khách hàng là các DNNN và khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động rất hiệu quả, tài chính lành mạnh, song họ vẫn phải ký quỹ tối thiểu là 50% với khách hàng có tài sản cầm cố và tối thiểu 80% đối với khách hàng không có tài sản cầm cố, trong khi tỷ lệ này ở các DNNN là 20- 30% (nhiều khi, tỷ lệ ký quỹ chỉ là 0% - tín chấp) mặc dù cha chắc chắn các doanh nghiệp này đã hoạt động có hiệu quả hơn. Thậm chí, khi ngoại tệ khan hiếm, ngân hàng còn u tiên mở L/C cho các DNNN mà từ chối các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hoặc buộc họ phải tự lo nguồn ngoại tệ thanh toán.
Mặt khác, khi khách hàng cam kết sử dụng vốn tự có để thanh toán, tỷ lệ ký quỹ rất cụ thể và chặt chẽ, còn khi khách hàng cam kết sử dụng vốn vay thì
mức ký quỹ lại hoàn toàn linh động tuỳ từng trờng hợp cụ thể, có nhiều trờng hợp còn miễn ký quỹ trong khi mức độ rủi ro sử dụng vốn tự có và sử dụng vốn vay là nh nhau, thậm chí sử dụng vốn vay còn tạo ra cho ngân hàng nhiều rủi ro hơn.
Công văn số 2725/CV-NHCT của Tổng Giám đốc NHCTVN ra ngày 29/09/1999 về hớng dẫn mở L/C at sight từ khi ra đời đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập song vẫn cha đợc sửa đổi, do vậy đã hạn chế và gây khó khăn cho các chi nhánh rất nhiều trong việc thực hiện TTQT bằng phơng thức L/C.
Sự phối kết hợp giữa bộ phận tín dụng và TTQT trong việc ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện còn nhiều bất cập. Hiện nay, NHCTVN quy định tổng hạn mức và hạn mức tối đa một món đối với từng loại hình doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay, vốn tự có để mở L/C và bảo lãnh. Tuy nhiên, do hạn mức tối đa một món vay ngắn hạn, bảo lãnh chỉ là 1.000.000USD đến 1.500.000USD nên khi có nhu cầu mở L/C cao hơn mức trên, các Chi nhánh phải trình hồ sơ lên bộ phận tín dụng HSC xét duyệt, quy trình xét duyệt qua nhiều phòng ban, nhiều cấp phê duyệt nên gây mất thời gian và làm lỡ cơ hội kinh doanh của khách hàng, do đó đã phần nào hạn chế số lợng khách hàng đến với NHCTVN. Mặt khác, do còn có quan niệm đồng nhất giữa việc mở một L/C hay bảo lãnh nh là một khoản cho vay, nên bộ phận tín dụng đã tính gộp cả
hạn mức mở L/C, bảo lãnh và cho vay ngắn hạn vào cùng một tiêu chí, hay nói một cách khác, cha có hạn mức riêng cho việc mở L/C và bảo lãnh. Bộ phận tín dụng cha xây dựng đợc tiêu chí cụ thể để đánh giá, xếp loại các doanh
nghiệp, để từ đó có chính sách đối xử phù hợp. Ví dụ, công nghiệp đóng tầu hiện đang là một ngành tiềm năng tại Việt Nam, hứa hẹn mang lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nớc cũng nh tạo ra nhiều việc làm, song cũng là ngành có nhu cầu vốn rất lớn. Bên cạnh đó, việc thanh toán của các doanh nghiệp đóng tầu đợc sự đảm bảo của Bộ tài chính theo tiến độ công việc (do doanh nghiệp nớc ngoài đã ký quỹ tại Bộ tài chính). Tuy nhiên, bộ phận tín dụng đã không xét đến khía cạnh đó khi cấp hạn mức tín dụng tài trợ cho các doanh nghiệp ngành này. Do đó, họ đã phải tìm nguồn tài trợ từ ngân hàng khác.
Đối với nghiệp vụ chiết khấu chứng từ xuất khẩu, theo quy định tạm thời ban hành trong công văn số 972/QĐ-NHCT22, có hai hình thức chiết khấu: chiết khấu theo hạn mức và chiết khấu theo bộ chứng từ. Tuy nhiên, do cha đề ra đợc các cơ sở cho việc xác định hạn mức chiết khấu, cho nên chủ yếu thực hiện chiết khấu theo bộ chứng từ, thủ tục rờm rà, liên quan đến nhiều phòng ban, gây mất thời gian cho khách hàng. Để việc thực hiện chiết khấu theo hạn mức, các chi nhánh phải gửi công văn yêu cầu lên HSC để xin duyệt cho từng khách hàng riêng, trong một khoảng thời gian nhất định (thờng là một năm), nhng việc này cũng cha mang tính hệ thống.
Thứ ba, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác TTQT nói chung còn thấp.
Nhiều lãnh đạo ở các Chi nhánh không biết ngoại ngữ và không am hiểu về hoạt động TTQT nên không quan tâm và tạo điều kiện phát triển nghiệp vụ này. Các chi nhánh cha chủ động tìm kiếm khách hàng, thậm chí đã có một số lãnh đạo chi nhánh còn từ chối tài trợ những hợp đồng thanh toán XNK lớn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nhiều cán bộ làm TTQT ở các chi nhánh cha qua đào tạo lại hoặc đào tạo cha chuyên sâu, cha đạt tiêu chuẩn về chuyên môn ngoại ngữ, vi tính, không am hiểu thông lệ và luật pháp quốc tế, do vậy cha đáp ứng đợc yêu cầu công việc, lúng túng khi xử lý nghiệp vụ, khả năng t vấn cho khách hàng yếu kém dẫn đến những sai sót làm ảnh hởng tiêu cực đến cả ngân hàng và khách hàng.
Thứ t, hệ thống ngân hàng đại lý còn hạn hẹp.
Mạng lới ngân hàng đại lý thời gian qua đã phát triển t ơng đối nhanh song vẫn còn nhỏ bé so với vị thế và tiềm năng của ngân hàng đồng thời chất lợng hoạt động của các ngân hàng đại lý cha cao. Cụ thể, NHCTVN đã
thực hiện giao dịch qua các ngân hàng đại lý của mình, song ng ợc lại nhiều giao dịch của các ngân hàng đại lý đó không đợc thực hiện qua NHCTVN