Tình hình thanh toán quốc tế của Ngân hàng Công Thơng Việt Nam những năm qua

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 49 - 53)

Theo Quyết định số 28/NH-QĐ ngày 16/03/1991 và Quyết định số 87/NH-QĐ ngày 06/07/1991 của Thống đốc NHNN Việt Nam, NHCTVN đợc phép thực hiện các hoạt động ngân hàng quốc tế nh nhận gửi và cho vay ngoại tệ, TTQT, kinh doanh ngoại tệ. Tuy nhiên, trớc năm 1992, NHCTVN cha thực hiện TTQT do cha có đủ điều kiện cần thiết nh: thiết lập quan hệ ngân hàng

đại lý, mở tài khoản NOSTRO ở ngân hàng nớc ngoài, hệ thống thanh toán

điện tử liên chi nhánh cha phát triển, đội ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ về TTQT còn yếu. Nhận thấy đây là một nghiệp vụ mới có nhiều tiềm năng phát triển, với phơng châm mở rộng hoạt động và đa dạng hoá các nghiệp vụ, tháng 4 năm 1993, Ban lãnh đạo NHCTVN đã quyết định thành lập Phòng ngoại hối tại HSC và các Chi nhánh của NHCTVN. Với việc ra đời Phòng ngoại hối khi

đó hoạt động TTQT của NHCTVN mới chỉ bó hẹp trong một vài nghiệp vụ nh thanh toán chuyển tiền, séc, chi trả kiều hối. Nhng chỉ trong vòng hai năm sau hoạt động TTQT tại các Chi nhánh và HSC đã phát triển vợt bậc, các phòng ngoại hối đã đợc đổi tên thành Phòng TTQT, mở rộng các nghiệp vụ thanh toán nh một ngân hàng quốc tế, đặc biệt phát triển nghiệp vụ thanh toán XNK bằng phơng thức tín dụng chứng từ, nhờ thu, chuyển tiền.

Để hoạt động TTQT đi vào ổn định và phát triển, ngày 20/10/1999 Tổng giám đốc NHCTVN đã ra quyết định số 438/QĐ-NHCT22 ban hành Quy chế và Quy trình nghiệp vụ TTQT trong hệ thống NHCTVN. Đến tháng

11/2001, NHCTVN thực hiện chơng trình INCAS, theo Đó NHCTVN đã ra quyết định số 968/QĐ-NHCT22 ngày 15/07/2004 ban hành Quy chế và Quy trình tạm thời về TTQT phù hợp với chơng trình quản lý thanh toán hiện

đại. Tuy là quy định tạm thời, nhng tài liệu này đã phân định tơng đối rõ quyền hạn và trách nhiệm của các bên liên quan đến TTQT, h ớng dẫn tơng

đối đầy đủ các trình tự nghiệp vụ tiến hành từ khâu tiếp nhận chứng từ, xử lý giao dịch cho đến đóng hồ sơ, lu giữ chứng từ cũng nh việc thu phí dịch vụ, hạch toán kế toán.

Bên cạnh việc ban hành quy chế và quy trình về TTQT, NHCTVN còn chú trọng việc phát triển con ngời, từ khâu tuyển chọn đến khâu đào tạo. Hàng năm NHCTVN tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ mới tuyển dụng và liên tục tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ, bổ sung các thông tin mới và sửa đổi của ICC về thông lệ và luật TTQT.

Do yêu cầu của thực tiễn, phải phát triển mạnh TTQT về quy mô, đa dạng hoá các loại nghiệp vụ, năm 1996, NHCTVN đã tham gia hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT. Từ đó hoạt động TTQT của NHCTVN đã có điều kiện phát triển nhanh chóng (thể hiện qua số liệu bảng 2.1), tốc độ truy cập và xử lý cao, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Đến nay toàn bộ giao dịch TTQT đã đợc xây dựng chuẩn hoá theo hệ thống SWIFT.

Bảng 2. 1: Thống kê điện SWIFT [10]; [11]

Năm Số lợng các bức điện Tốc độ tăng(%)

2001 178.245 17

2002 215.254 20

2003 270.655 25

2004 344.708 27

2005 413.332 20

Trong vòng 5 năm qua, NHTCVN đã mở rộng mạng lới ngân hàng đại lý ở khắp các châu lục, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TTQT phát triển, hiện nay, NHCT VN đã thiết lập quan hệ đại lý với 650 ngân hàng ở 62 nớc trên thế giới.

Bảng 2.2: Quan hệ đại lý với các Ngân hàng nớc ngoài của NHCTVN [10]; [11]

Năm Số NH quan hệ đại lý Số nớc quan hệ đại lý

2001 550 53

2002 570 55

2003 610 57

2004 623 61

2005 650 62

Cùng với việc thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng nớc ngoài, trong những năm qua NHCTVN còn liên tục mở và duy trì các tài khoản tiền gửi thanh toán tại các ngân hàng nớc ngoài bằng các loại ngoại tệ khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu TTQT đa dạng và ngày càng phát triển. Cho đến nay, NHCTVN đã mở và duy trì hơn 30 tài khoản thanh toán USD, EUR tại các ngân hàng hàng đầu ở Mỹ nh ngân hàng Bank of New York, JP Morgan Chase, American Express N.A, Citi Bank... và tại các ngân hàng lớn ở Châu

Âu nh BHF Bank Dresdner Bank, Bayerisch Hypo und Veirnsbank... Ngoài ra, NHCTVN còn mở và duy trì các tài khoản thanh toán bằng các loại ngoại tệ mạnh khác nh JPY, GBP, AUD...

Cho đến nay, NHCTVN luôn thực hiện đúng những nghĩa vụ mà mình

đã cam kết, phù hợp với luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế. Ngay cả ở những thời điểm khó khăn về nguồn vốn ngoại tệ, NHCTVN vẫn thanh toán cho ngân hàng nớc ngoài đúng hạn để giữ uy tín. Điển hình là các khoản nợ của công ty Minh Phụng và công ty EPCO, tổng số tiền mà NHCTVN phải trả

thay lên tới hơn 200 triệu USD. Chính việc giữ uy tín đã tạo điều kiện cho hoạt

động TTQT của NHCTVN phát triển. Cụ thể trong thời gian xảy ra khủng hoảng tiền tệ ở Châu á, hầu hết các ngân hàng đại lý của NHCTVN đều giữ

nguyên hạn mức tín dụng, lãi suất và việc xác nhận L/C do NHCTVN phát hành cũng không yêu cầu phải ký quỹ.

Trong những năm qua, đặc biệt là trong vòng 5 năm trở lại đây các nghiệp vụ TTQT của NHCTVN phát triển cả về số lợng, chủng loại và chất lợng.

Bảng 2.3: Doanh số thanh toán theo các phơng thức TTQT của NHCTVN [10]; [11]

Đơn vị tính : 1000 USD

Phơng thức 2001 2002 2003 2004 2005

ChuyÓn tiÒn 906.647 1.118.553 1.263.183 1.368.719 1.626.514 L/C xuÊt khÈu 470.254 498.199 554.252 727.961 1.050.248 L/CnhËp khÈu 1.008.124 1.157.381 1.174.614 1.444.008 2.145.856

Nhê thu 167.620 217.910 305.074 370.034 442.375

Doanh số thanh toán XNK theo các phơng thức TTQT của NHCTVN trong những năm gần đây tăng trởng năm sau cao hơn năm trớc. Số khách hàng đến với NHCTVN ngày càng tăng, không chỉ khách hàng trong nớc đã

tin tởng hơn vào NHCTVN mà khách hàng nớc ngoài cũng đã biết, tin tởng và lựa chọn NHCTVN là ngân hàng thông báo, xác nhận và thanh toán.

Điều này chứng tỏ TTQT của NHCTVN có chất lợng phục vụ ngày một tốt hơn.

Hiện nay, NHCTVN đang quan hệ với hầu hết các Tổng Công ty lớn có khối lợng thanh toán XNK lớn đứng đầu trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam nh Tổng Công ty Xăng dầu, Tổng Công ty Xi măng, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng, Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty lơng thực.... Bên cạnh các khách hàng trong nớc, NHCTVN đã bớc đầu đợc các doanh nghiệp nớc ngoài, công ty liên doanh lựa chọn là ngân hàng phục vụ mình thực hiện các giao dịch TTQT nh Samsung Vina, L/G Dutch Lady...

Số lợng giao dịch TTQT qua NHCTVN cũng tăng dần qua các năm, đợc thể hiện rõ nét trong bảng thống kê số liệu của từng nghiệp vụ.

Bảng 2. 4: Tình hình thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu [10]; [11]

N¨m

Thông báo Thanh toán

Sè mãn Sè tiÒn

§VT: 1000 USD Sè mãn Sè tiÒn

§VT: 1000 USD

2001 3.603 324,67 8.144 470,25

2002 4.597 356,89 9.227 498,20

2003 5.105 398,19 13.634 554,25

2004 4.299 406,25 13.800 727,96

2005 5.023 491,78 14.520 1.050,42

Bảng 2.5: Tình hình thanh toán chuyển tiền [10]; [11]

N¨m

Chuyển tiền đi Chuyển tiền đến

Sè mãn Sè tiÒn

§VT: 1000 USD Sè mãn Sè tiÒn

§VT: 1000 USD

2001 9.936 408.933 17.699 497.714

2002 14.484 511.212 28.325 607.341

2003 16.287 586.842 43.360 676.131

2004 18.064 609.759 73.558 758.960

2005 24.793 779.546 95.235 846.968

Với u thế từ mạng lới 134 chi nhánh, hơn 600 phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm, công nghệ thông tin ngân hàng hiện đại, trong những năm qua, doanh số chi trả kiều hối của NHCTVN tăng dần qua các năm, phản ánh sự phát triển không ngừng của hình thức thanh toán chuyển tiền. Trong năm 2005, doanh số chi trả kiều hối của NHCTVN đạt 370 triệu USD, tăng 41%

so với năm 2004 và chiếm gần 10% tổng lợng kiều hối chính thức về Việt Nam [10]. NHCTVN đã ký thêm hợp đồng kiều hối với các ngân hàng ở Nga, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan... Bên cạnh phơng thức chi trả truyền thống theo điện chuyển tiền SWIFT, NHCTVN đã chấp nhận và đa vào sử dụng phơng thức chuyển tiền kiều hối qua mạng Internet. Công nghệ này cho phép thời gian chi trả gần nh tức thời, chi phí thấp và vẫn đảm bảo tính an toàn của giao dịch.

Doanh số thanh toán séc du lịch quốc tế năm 2005 đạt hơn 4,5 triệu USD, trong đó hơn 83% là séc du lịch của tổ chức American Express Travellers Cheque [10]. NHCTVN bán séc trắng, thu đổi séc và hoàn tiền séc mất nhanh chóng, chính xác cho khách hàng. Từ năm 2003, song song với quy trình giám sát và so sánh chữ ký “Watch & Compare”

truyền thống NHCTVN đã triển khai quy trình kiểm tra và phê duyệt chi trả trên Internet đối với séc du lịch của Amex, Visa, Master.... Kết quả, thời gian giao dịch séc đợc rút ngắn, trong khi điểm giao dịch séc đ ợc mở rộng hơn.

Cùng với những nỗ lực mở rộng dịch vụ thanh toán Thẻ tín dụng quốc tế, phục vụ nhu cầu khách nớc ngoài đến Việt Nam, tháng 10 năm 2004 NHCTVN đã triển khai chơng trình đại lý phát hành thẻ Tín dụng. Năm 2005 số lợng điểm chấp nhận thanh toán Thẻ tín dụng Visa và Master Card của NHCTVN đã đợc phát triển lên hơn 200 điểm trên toàn quốc, đạt gần 30.000 giao dịch, tổng giá trị thanh toán đạt gần 7 triệu USD.[10]

2.3. Đánh giá chung về hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Công thơng Việt Nam

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 49 - 53)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(83 trang)
w