Kinh nghiệm phát triển thanh toán quốc tế của một số Ngân hàng thơng mại trong nớc và quốc tế

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 27 - 31)

Nhờ chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trờng, mở cửa, hội nhập kinh tế của Đảng và Nhà nớc, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bớc tiến mạnh mẽ. Trong một thời gian ngắn, hàng loạt các NHTM cổ phần mới đ-

ợc thành lập, các NHTM nhà nớc và cổ phần khác không ngừng mở rộng thêm các chi nhánh ở khắp các tỉnh, thành phố trong cả nớc. Một số ngân hàng nớc ngoài nh Citibank, HSBC, Mizuho Bank, ANZ... đã chuyển văn phòng đại diện thành chi nhánh hoặc mở chi nhánh tại thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh. Sự phát triển của thị trờng ngân hàng đã tạo ra cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong nớc và nớc ngoài. Nằm trong tổng thể hoạt động kinh doanh của ngân hàng, TTQT đợc các NHTM tận dụng nh một u thế trong cạnh tranh. Các NHTM coi TTQT là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lợc phát triển hoạt động kinh doanh của mình.

Tuỳ theo khả năng và điều kiện cụ thể, các NHTM Việt Nam tham gia TTQT với phạm vi và quy mô khác nhau. VCB là NHTM có hoạt động ngân hàng quốc tế đầu tiên và lâu đời nhất ở Việt Nam. Trớc năm 1991, hầu nh mọi hoạt động TTQT của Việt Nam đều thông qua VCB, có thể nói trong giai đoạn này VCB là NHTM độc quyền TTQT tại Việt Nam. Hiện nay, hệ thống các NHTM ở Việt Nam đã phát triển, VCB đã phải chia xẻ thị phần TTQT cho các NHTM khác, tuy nhiên VCB vẫn là NHTM hoạt động TTQT phát triển nhất ở Việt Nam.

Khái quát quá trình phát triển của VCB cho thấy VCB đã đạt đợc những kết quả đáng kể nh: TTQT chiếm khoảng 53% thị phần trong nớc, là NHTM duy nhất tại Việt Nam đạt tỷ lệ trên 95% điện SWIFT đợc xử lý hoàn toàn tự

động, nhiều năm liền đợc công nhận là ngân hàng có chất lợng dịch vụ tốt nhất về TTQT qua SWIFT theo tiêu chuẩn quốc tế. VCB còn là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 NHTM trong nớc và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài tại Việt Nam, là NHTM đầu tiên ở Việt Nam hoạt

động kinh doanh ngoại tệ, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng, là NHTM đầu tiên phát hành và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Visa, MasterCard và là đại lý thanh toán thẻ lớn nhất tại Việt Nam.

VCB đạt đợc những kết quả đáng kể trên đây là do những nguyên nhân sau:

- VCB đã tận dụng đợc lợi thế về bề dày kinh nghiệm trong hoạt động TTQT đặc biệt trong vấn đề tổ chức và điều hành, quản lý. Hiện nay, VCB thực hiện mô hình quản lý vốn tập trung và tổ chức thực hiện phân tán: HSC thực hiện chức năng quản lý vốn tập trung bằng việc theo dõi tài khoản NOSTRO, thiết lập và quản lý các ngân hàng đại lý. Mọi giao dịch TTQT đợc khởi tạo và xử lý tại Chi nhánh, Chi nhánh chịu hoàn toàn trách nhiệm về giao

dịch TTQT mà mình thực hiện, các bức điện TTQT đợc truyền thẳng đến ngân hàng nớc ngoài thông qua hệ thống SWIFT không qua kiểm soát tại HSC.

Bằng cách này, VCB đã thực hiện đợc mục tiêu quản lý vốn tập trung, giao quyền chủ động cho giám đốc chi nhánh, giúp cho các chi nhánh có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến TTQT linh hoạt hơn, tốc độ xử lý giao dịch nhanh hơn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. Cán bộ TTQT tại các Chi nhánh có điều kiện tiếp cận với nhiều tình huống nghiệp vụ phức tạp, qua đó nâng cao trình độ nghiệp vụ.

- VCB có một số lợng lớn khách hàng truyền thống do có thời gian dài hoạt động trong lĩnh vực này, đồng thời thiết lập đợc mạng lới ngân hàng đại lý rộng khắp các châu lục trên thế giới. Mạng lới ngân hàng đại lý đã tạo điều kiện thuận lợi cho VCB trong việc thực hiện giao dịch TTQT và giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra, VCB cũng có thể tranh thủ sự hỗ trợ của các ngân hàng đại lý về kinh nghiệm quản lý hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến,

đào tạo cán bộ…

- Có cơ chế và chính sách tuyển chọn và đào tạo cán bộ TTQT nhằm thu hút đợc những cán bộ giỏi có chuyên môn nghiệp vụ cao, thực tế cho thấy gần 100% cán bộ VCB có trình độ ngoại ngữ. Hàng năm VCB có kế hoạch tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp loại giỏi từ các trờng Đại học ngoại thơng, Đại học kinh tế quốc dân, Đại học ngoại ngữ, có chính sách tuyển thẳng sinh viên tốt nghiệp các trờng đại học kinh tế ở nớc ngoài.

- VCB luôn là ngân ngân hàng đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại. VCB đã mạnh dạn đầu t vốn lớn cho phát triển công nghệ thông tin cả về thiết bị và phần mềm ứng dụng, sẵn sàng mua lại các phần mềm hoàn hảo mà các ngân hàng nớc ngoài đang sử dụng có hiệu quả, thay vì

tự lập trình, do trong nhiều trờng hợp chơng trình tự viết không đồng bộ dẫn đến trục trặc trong quá trình sử dụng hoặc không đảm bảo tính bảo mật.

- VCB mở rộng mạng lới các chi nhánh có trọng tâm, trọng điểm, không phát triển tràn lan, không có hiệu quả. Các chi nhánh của VCB tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, các vùng có doanh số hoạt động XNK lớn.

Cũng nh VCB, hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đang áp dụng mô hình quản lý vốn tập trung, thực hiện TTQT phân tán tại các chi nhánh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định về công nghệ thông tin, về trình độ quản lý, quy trình nghiệp vụ không chặt chẽ, đặc

biệt là hạn chế về mặt nghiệp vụ TTQT của cán bộ, nên trong quá trình thực hiện đã xảy ra một số vụ việc ảnh hởng đến hoạt động TTQT. Điển hình nh vụ Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phát hành và thanh toán L/C nhập khẩu cho công ty Centimex. Trong quá trình xử lý nghiệp vụ, do trình độ nghiệp vụ TTQT kém nên cán bộ TTQT đã bắt lỗi bất hợp lệ bộ chứng từ không đúng với tập quán và thông lệ quốc tế, dẫn đến việc ngân hàng nớc ngoài không chấp nhận và phong toả tài khoản của Agribank,

đồng thời khách hàng trong nớc không chấp nhận thanh toán do đợc thông báo bộ chứng từ không phù hợp với quy định của L/C. Trong quá trình xử lý vụ việc do thiếu kiến thức về TTQT và luật pháp cũng nh tập quán quốc tế dẫn

đến việc Agribank tiếp tục bị khách hàng trong nớc kiện, vụ việc đã kéo dài nhiều năm, gây mất uy tín của Agribank trên thị trờng trong nớc và nớc ngoài và Agribank cũng phải tốn một khoản chi phí không nhỏ để giải quyết vụ việc này.

Về TTQT của các NHTM cổ phần. So với các NHTM quốc doanh, các NHTM cổ phần có quy mô nhỏ hơn, hạn chế về vốn, do vậy ngay từ khi thành lập các ngân hàng này đã chọn mục tiêu phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ thay vì phát triển các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống nh tín dụng, đầu t... TTQT đợc các NHTM cổ phần coi là một hoạt động kinh doanh chính, đặc biệt là TTQT bằng phơng thức chuyển tiền, chuyển tiền du học, kiều hối… với mục tiêu tăng nguồn thu từ dịch vụ, giảm thiểu rủi ro tín dụng và tài trợ thơng mại. Một số NHTM cổ phần đã thành công trong hoạt động TTQT nh: Eximbank, Techcombank, ACB… Các ngân hàng này tập trung phục vụ đối tợng là các khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Với đối tợng khách hàng này, các giao dịch TTQT có giá trị không lớn nhng nhiều về số lợng và mức độ rủi ro thấp. Những yếu tố cạnh tranh với các NHTM quốc doanh mà các ngân hàng nay đang áp dụng có hiệu quả là bộ máy tổ chức gọn nhẹ, giảm thiểu giao dịch trung gian mang tính hành chính, hạn chế đến mức tốt đa các chi phí liên quan, áp dụng chính sách khách hàng - u đãi, linh hoạt, biểu phí dịch vụ có tính cạnh tranh, phong cách giao dịch hiện

đại và chính sách marketing hợp lý.

Về TTQT của các NHTM nớc ngoài. Hầu hết các NHTM nớc ngoài có quan hệ đại lý với các NHTM trong nớc đều đạt ở trình độ cao về quản lý và

điều hành hoạt động TTQT. Hiện nay, một số ngân hàng lớn nh Citi Bank, Bank of NewYork, American Express Bank, ABN Amro Bank… phát triển thành những tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, mạng lới thanh toán rộng khắp

các châu lục. Trong giai đoạn hiện nay, các ngân hàng này phát triển TTQT theo mô hình quản lý tập trung, chuyên môn hoá. Ngoài việc phát triển mạng lới các chi nhánh tại các nớc khác nhau, các NHTM nớc ngoài còn thành lập các trung tâm xử lý TTQT theo từng loại nghiệp vụ nh trung tâm tài trợ thơng mại, trung tâm chuyển tiền, trung tâm thanh toán séc… Các trung tâm này

đóng tại các châu lục khác nhau. Ví dụ, ngân hàng American Express Bank có 3 trung tâm xử lý các giao dịch TTQT tại các châu lục khác nhau: khu vực Châu á tại Bombay - ấn Độ, khu vực châu Âu tại Frankfurt - Đức, và tại NewYork- Mỹ có trung tâm thanh toán toàn cầu. Với ba trung tâm này American Express Bank có thể thực hiện đợc các giao dịch TTQT toàn cầu 24 giờ trong ngày, không bị ảnh hởng bởi sự khác biệt về thời gian giữa các châu lục. Sở dĩ các NHTM nớc ngoài chọn mô hình tổ chức TTQT tập trung vì sự tập trung sẽ dẫn đến chuyên môn hoá cao, giúp cho các ngân hàng có thể thực hiện các giao dịch với tốc độ nhanh, chính xác và an toàn, tăng cờng sự kiểm soát, đáp ứng yêu cầu quản lý vốn tập trung, hơn nữa tập trung hoá sẽ giúp cho các ngân hàng tiết kiệm đợc chi phí quản lý. Tuy nhiên, để có thể xây dựng đ- ợc mô hình tổ chức và quản lý tập trung, các ngân hàng cần phải có những

điều kiện nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ ngân hàng hiện đại, vốn lớn, cán bộ quản lý và nghiệp vụ có trình độ cao…

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 27 - 31)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(83 trang)
w