Hệ thống các văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thơng mại

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 23 - 26)

Để điều chỉnh các quan hệ trong nớc, mỗi nớc phải xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng phù hợp với thể chế chính trị, xã hội, tập quán và trình độ phát triển. Chính vì vậy, luật pháp giữa các nớc thờng khác nhau. Để giải quyết vấn đề mâu thuẫn về luật pháp giữa các nớc trong quan hệ quốc tế, ngời ta đã xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh các quan hệ này trong đó có hoạt động TTQT. Những văn bản pháp lý chủ yếu điều chỉnh hoạt động TTQT hiện hành là:

+ Quy tắc thực hành thống nhất về th tín dụng (Uniform Customs and Practice for the Documentary Credit - gọi tắt là UCP).

Bản quy tắc UCP đầu tiên do ICC soạn thảo năm 1933 và đợc Hội nghị ICC lần thứ 7 tại Viene thông qua cùng năm. Nhằm theo kịp sự phát triển của ngoại thơng, khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, cho đến nay,

bản quy tắc đã đợc ICC tu chỉnh 6 lần vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983 và lần gần đây nhất là vào năm 1993 với ấn phẩm UCP 500, có hiệu lực từ ngày 01/01/1994. Điều đặc biệt là các ấn phẩm UCP ra đời sau không tuyên bố huỷ bỏ các bản trớc đó, nên toàn bộ 6 bản UCP vẫn còn nguyên hiệu lực trong TTQT. Chính vì vậy, các bên liên quan muốn áp dụng UCP nào là tuỳ vào sự thoả thuận và nhất thiết phải dẫn chiếu vào hợp đồng thơng mại và L/C. Thực tế, trong các L/C thờng dẫn chiếu áp dụng các bản mới nhất, và hiện nay là UCP 500. UCP chỉ áp dụng trong TTQT không áp dụng trong thanh toán nội

địa [18, tr. 111-112].

Nội dung chủ yếu của UCP là:

- Nguyên tắc chung và định nghĩa về tín dụng chứng từ.

- Hình thức, nội dung và tính chất của th tín dụng.

- Quyền hạn và trách nhiệm của các ngân hàng liên quan.

- Những quy định về chứng từ thanh toán.

UCP là văn kiện tập hợp toàn bộ những quy tắc và định nghĩa thống nhất về tín dụng chứng từ, đợc hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận (hơn 165 nớc), trong đó Mỹ và Canada coi UCP là một bộ phận cấu thành luật pháp quốc gia.

Ngoại trừ Mỹ và Colombia, đối với các nớc còn lại, nếu UCP có mâu thuẫn với luật pháp quốc gia, thì luật pháp quốc gia sẽ vợt lên trên về mặt pháp lý và đợc áp dụng để giải quyết các tranh chấp.

Tại Việt Nam, tất cả các NHTM đợc phép hoạt động nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khi thực hiện các giao dịch TTQT theo phơng thức tín dụng chứng từ, đều cam kết tuân thủ thực hiện theo văn bản UCP hiện hành (UCP 500).

+ Quy tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ:

Cũng nh UCP, nhằm có sự thống nhất trên phạm vi quốc tế về nghiệp vụ nhờ thu trong thơng mại quốc tế, ICC đã soạn thảo và ban hành văn bản “Quy tắc thực hành thống nhất về nhờ thu” (Uniform Rules for Collection - URC).

Cho đến nay bản quy tắc này vẫn đợc hơn 60 quốc gia tuân thủ thực hiện trong nghiệp vụ nhờ thu.

Bản URC đầu tiên ra đời từ năm 1956, sau đó đợc chỉnh sửa vào các năm 1967 và 1978. Bản sửa đổi năm 1978 có hiệu lực từ ngày 01/01/1979, có tên gọi là URC 1979 Revision - ICC Publication No. 322, gọi tắt là URC No.

322. Để đáp ứng sự phát triển của thơng mại quốc tế, trên cơ sở những ý kiến

đóng góp, nhận định từ các phòng thơng mại quốc gia, các NHTM, ICC đã tiến hành chỉnh sửa một số nội dung của URC No.322 cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Do đó, năm 1995 ấn phẩm URC No.522, 1995 Revision đợc ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/01/1996, thay thế URC No. 322 [18, tr.112].

Bản quy tắc này qui định những vấn đề có tính nguyên tắc về khái niệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong phơng thức thanh toán nhờ thu. Quy định thủ tục nhờ thu, chứng từ nhờ thu, chi phí và thời hạn thanh toán...

+ Các nguồn luật điều chỉnh hối phiếu:

Do vai trò ngày càng tăng của hối phiếu trong TTQT, để thống nhất trong việc sử dụng hối phiếu ngời ta xây dựng luật quốc tế áp dụng chung cho các nớc tham gia TTQT.

Về phơng diện pháp lý, cho đến nay, thế giới có 4 luật điều chỉnh hối phiÕu nh sau:

- Công ớc Geneve 1930 - Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange - ULB 1930)

- Luật hối phiếu của Anh năm 1882 (Bill of Exchange Act 1882- BEA) - Công ớc liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế (International Bill of Exchange and International Promissory Note - UN Convention 1980)[18, tr. 113].

Các luật về hối phiếu này giải thích một cách thống nhất những vấn đề thuộc khái niệm, nội dung, tính chất của hối phiếu, lệnh phiếu quốc tế, cách tạo lập và lu thông chúng trong buôn bán và trả tiền, về quyền lợi và nghĩa vụ của ngời có liên quan đến hối phiếu và lệnh phiếu.

+ Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán séc

Séc đợc sử dụng rộng rãi trong thanh toán nội địa ở các nớc. Trong TTQT, nhìn chung các nớc đều sử dụng công ớc Geneve 1931 (Geneve Convention for Check 1931) làm nguồn luật điều chỉnh các giao dịch TTQT có liên quan đến việc lu thông séc.

Ngoài công ớc Geneve 1931, hiện nay hệ thống luật về séc Anh - Mỹ cũng đợc áp dụng trong thơng mại quốc tế [18, tr.113].

+ Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng

Trong khi UCP là một tiêu chuẩn quốc tế (tơng đối hoàn hảo và thống nhất) cho giao dịch tín dụng chứng từ, theo đó khối lợng hoàn trả giữa các ngân hàng tăng lên đáng kể, nhng việc hoàn trả giữa các ngân hàng vẫn còn là vấn đề

tuỳ thuộc vào tập quán của địa phơng trong các khu vực tài chính trên thế giới.

Do vậy, để đáp ứng đòi hỏi về tiêu chuẩn quốc tế thống nhất trong việc hoàn trả

giữa các ngân hàng và nhằm hỗ trợ nền thơng mại toàn cầu, năm 1993 Uỷ ban Ngân hàng của ICC đã thành lập Ban soạn thảo “Quy tắc thống nhất về hoàn trả

liên hàng theo tín dụng chứng từ, Phòng thơng mại quốc tế, số xuất bản 525, 1996, hiệu lực từ 01/07/1996”. ấn bản này có tên gọi tiếng Anh là: “The Uniform Rules for Bank - to - Bank Reimbursement under Documentary Credit, ICC Pub.No. 525, 1995”, viết tắt là URR 525 [18, tr.114].

Một phần của tài liệu Luan van 3 1 (Trang 23 - 26)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(83 trang)
w