BÀI 7: GIẢI PHẪU HỆ TIẾT NIỆU
2. Hình thể, vị trí
Người trưởng thành, khi bàng quang rỗng: bàng quang có hình tứ diện với 4 mặt (mặt trên, mặt sau (đáy bàng quang), 2 mặt dưới bên), một đáy và một đỉnh.
Mặt trên: phủ bởi phúc mạc, lồi khi bàng quang đầy, lõm khi bàng quang rỗng. Hai mặt dưới bên: nằm tựa trên hoành chậu. 2 mặt này gặp nhau ở trước bởi 1 bờ tròn, đôi khi được gọi là mặt trước. Mặt sau: còn gọi là mặt đáy, ở phần trên mặt sau có
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 247
phúc mạc phủ. Mặt trên và 2 mặt dưới bên gặp nhau ở phía trước gọi là đỉnh bàng quang (apex vesicae), có dây chằng rốn giữa treo bàng quang vào rốn. Phần giữa đỉnh và đáy là thân bàng quang (corpus vesicae). Ở phía dưới, tại góc hợp bởi đáy và 2 mặt dưới bên bàng quang là lỗ niệu đạo trong (ostium urethrae intemum), qua đó bàng quang thông với niệu đạo; phần bàng quang quây xung quanh lỗ niệu đạo trong gọi là cổ bàng quang (cervix vesicae).
Khi bàng quang đầy: các bờ tròn lại và biến mất, bàng quang có hình trứng.
Phúc mạc của thành bụng trước bị đẩy lên theo, ở phần trước các mặt dưới bên trở thành mặt trước áp vào thành bụng trước ở vùng hạ vị, trên gò mu và không có phúc mạc che phủ.
Trên thiết đồ đứng dọc: bàng quang có hình chữ Y. Hai thành trước, sau chếch xuống dưới, cổ bàng quang ở dưới thông với niệu đạo. Mặt trên bàng quang trũng xuống hình tam giác, nền ở sau và hai góc có hai niệu quản thông vào. Đỉnh ở trên có dây treo bàng quang dính tới rốn. Khi bàng quang đầy, mặt trên vòng lên, mặt trước bàng quang áp vào vùng hạ vị ở trên gò mu.
Hình 7.16. Bàng quang ở nữ
1. Tử cung 2. Mặt trên 3. Đỉnh bàng quang 4. Mặt dưới bên 5. Niệu đạo 6. Trực tràng 7. Âm đạo
3. Liên quan
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 248
Nói chung, bàng quang nằm trong chậu hông bé, giống như bình nước đặt trong một chiếc sọt và được giới hạn: đáy sọt là hoành chậu hông của đáy chậu, nắp là phúc mạc, thành trước bên là cân rốn trước bàng quang và thành sau là cân sinh dục phúc mạc (cân Dénonvillier).
3.1. Liên quan hai mặt dưới bên
Khi bàng quang rỗng: liên quan với khoang sau xương mu, qua đó liên quan xương mu và khớp mu (có thể thủng bàng quang khi gãy xương mu).
Khi bàng quang đầy: 2 mặt dưới bên trở thành mặt trước, liên quan đến thành bụng trước nên mặt này là mặt phẫu thuật của bàng quang. Từ nông vào sâu gồm có:
- Da, tổ chức dưới da.
- Các cơ thành bụng trước bên, chú ý đường trắng giữa ở đây rất hẹp.
- Mạc ngang bụng.
- Khoang trước bàng quang hay khoang sau xương mu (khoang Retzius): là một khoang ngoài phúc mạc, có hình chữ U mở ra sau, trải từ nền chậu tới rốn, một phần ở vùng chậu, một phần ở vùng bụng. Khoang được giới hạn phía sau bởi mạc tiền liệt (thuộc lá tạng mạc chậu). Phía ngoài: là mạc cơ bịt trong và cơ nâng hậu môn thuộc lá thành mạc chậu. Phía trong: mạc phủ lên 2 mặt dưới bên của bàng quang.
Phía dưới là dây chằng mu - tiền liệt tuyến. Phía trên: phúc mạc đi từ bàng quang tới thành bụng trước. Trong khoang chứa đầy tổ chức mở và tổ chức liên kết lỏng lẻo, đáy khoang liên quan với đám rối TM Santorini (khi phẫu thuật bàng quang phải nhét đầy gạc vào khoang này để tránh nước tiểu tràn vào khoang gây nhiễm trùng).
- Cân rốn trước bàng quang: là một màng cân mỏng, ôm sát mặt trước bên bàng quang. Cân có hình tam giác mà đỉnh dính vào rốn, 2 cạnh bên ôm lấy dây chằng rốn trong (thừng ĐM rốn).
- Dây treo bàng quang: đi từ đỉnh bàng quang tới rốn.
- Phúc mạc ở trong cùng và có 2 trường hợp cần chú ý:
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 249
+ Nếu bàng quang rỗng: thì phúc mạc sau khi phủ thành bụng lật lên phủ bàng quang bình thường.
+ Nếu bàng quang đầy và có cầu bàng quang vượt trên khớp mu: thì phúc mạc sau khi phủ thành bụng, lật lên phủ bàng quang tạo thành túi bịt lách giữa bàng quang và thành bụng trước (áp dụng nguyên tắc mổ bàng quang ngoài phúc mạc).
Trong khi phẫu thuật người ta có thể dựa vào một số đặc điểm để nhận ra mặt trước bàng quang: có hai TM đi song song hai bên đường giữa, phần cơ mặt trước bàng quang rất dầy.
3.2. Liên quan mặt trên
Qua phúc mạc, ở nam liên quan với các quai ruột non và kết tràng xích ma. Ở nữ, còn liên quan thêm với tử cung và dây chằng rộng.
3.3. Liên quan mặt sau dưới (đáy bàng quang)
3.3.1. Liên quan với các tạng sinh dục và trực tràng: ở nam giới mặt sau bàng quang có bọng (túi) tinh, ống dẫn tinh, niệu quản (đoạn chậu), xa hơn là trực tràng.
Ở nữ giới, liên quan ở 1/3 trên với cổ tử cung, 2/3 dưới với thành trước âm đạo, xa hơn là trực tràng.
3.3.2. Liên quan với phúc mạc: sau khi bọc mặt sau dưới bàng quang, lật lên phủ các tạng sinh
dục - trực tràng, tạo thành các túi cùng. Đặc biệt túi cùng sâu nhất là túi cùng lách giữa tạng sinh dục và trực tràng gọi là túi cùng Douglase. Riêng ở nam giới, đáy túi cùng Douglase dính chập lại tạo thành cân gọi là cân nhiếp hộ - phúc mạc, nằm ngăn cách giữa trực tràng và các tạng sinh dục.
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 250
Hình 7.17. Liên quan giữa bàng quang với các cơ quan xung quanh ở nam 1. Ruột non 2. Lỗ niệu quản 3. Xương mu 4. Khoang sau xương mu
5. Túi cùng bàng quang trực tràng 6. Trực tràng 7. Tuyến tiền liệt 4. Phương tiện cố định bàng quang
Bàng quang được cố định vững chắc nhất ở đáy và cổ bàng quang.
Cổ bàng quang được gắn chặt vào hoành chậu, tiếp nối với bàng quang là tuyến tiền liệt (ở nam) và niệu đạo gắn chặt vào hoành niệu dục. Ngoài ra, cổ bàng quang còn được cố định bởi: dây chằng mu - tiền liệt (ở nam) hay dây chằng mu - bàng quang (ở nữ).
Đỉnh bàng quang được treo vào mặt sau rốn bởi dây chằng rốn giữa (do ống niệu rốn xơ hóa và bít tắc lại).
Hai mặt dưới bên được cố định bởi dây chằng rốn trong (do ĐM rốn xơ hóa tạo thành). Phía sau bàng quang còn được cố định bởi mạc tiền liệt. Phúc mạc ở trên cũng góp phần cố định bàng quang.