BÀI 9: GIẢI PHẪU HỆ NỘI TIẾT
7. Tuyến thượng thận (glandula suprarenalis)
- Có 2 tuyến thượng thận phải và trái nằm ở cực trên và dọc phần trên bờ trong của 2 thận, ở trong một ngăn riêng của mạc thận. Có màu xám vàng, lúc trưởng thành cân nặng khoảng 3-6 g. Ngoài hai tuyến bình thường, đôi khi còn có tuyến thượng thận phụ nằm ở trong bụng hay trong vùng chậu. Tuyến được bọc trong một bao collagen dày, từ đó có những bè ăn sâu vào trong vỏ ở độ sâu thay đổi. Bao tuyến chứa đựng đám rối ĐM phong phú phân nhánh vào trong tuyến.
- Mỗi tuyến có 2 phần riêng biệt có nguồn gốc phôi thai học khác nhau.
7.1. Vị trí, chức năng
Tuyến thượng thận gồm hai tuyến nhỏ, dẹt theo chiều trước sau, nằm áp lên mặt trước trong cực trên mỗi thận, được bao quanh bởi mô mỡ quanh thận cùng với thận trong mạc thận, song được ngăn cách với thận bởi mạc thận.
Tuyến gồm 2 phần vỏ và tủy, thực ra là 2 tuyến nội tiết khác nhau bởi nguồn gốc phát triển và chức năng.
7.1.1. Vỏ thượng thận: giàu lipid, không chứa mô ái crôm, tiết các nội tiết tố loại steroid. Có chức năng duy trì nước - điện giải trong cơ thể và liên quan đến chuyển hoá carbohydrat; đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng bình thường của cơ thể với "stress".
7.1.2. Tủy thượng thận: ngấm nhiều muối crôm, phát triển từ cùng những tế bào sinh ra hệ TK giao cảm, được coi như một cơ quan hậu hạch giao cảm, vì chỉ nhận
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 286
các sợi chi phối TK trước hạch. Nó tiết ra epinephrin và norepinephrin, đưa vào máu có tác dụng giống như các chất sinh ra do hoạt hoá TK giao cảm.
Hình 9.3. Thận và tuyến thượng thận
1. Cực dưới 2. Bờ ngoài 3. Cực trên 4. Tuyến thượng thận 5. ĐM thận 6. TM thận 7. Niệu quản
7.2. Hình thể, kích thước
Tuyến có hình gần giống tam giác hay hình dấu phẩy, đầu tuyến ở gần cuống thận, đuôi thì ôm lấy cực trên của thận. Tuyến cao 3-5 cm, rộng 2-3 cm, và dày tới 1 cm. Nặng trung bình khoảng 5 g (trong đó tuỷ thượng thận chiếm 2/10 tổng trọng lượng tuyến).
Thực tế kính thước tuyến khá thay đổi theo các thời kỳ phát triển. Khi mới sinh kích thước tuyến thượng thận bằng khoảng 1/3 kích thước thận, còn ở người lớn chỉ bằng hoảng 1/30. Sự thay đổi về tỷ lệ này không chỉ do sự phát triển của thận mà còn vì tuyến thượng thận sau khi sinh đã bắt đầu giảm kích thước, do sự phát triển của vỏ lúc phôi thai. Đến cuối tháng thứ hai trọng lượng chỉ bằng khoảng 1/2 lúc mới sinh. Đến nửa sau của năm thứ hai tuyến mới lại tăng kích thước và dần dần lấy lại trọng lượng lúc mới sinh vào tuổi dậy thì hoặc trước đó một ít. Sau đó nó chỉ tăng rất nhẹ ở tuổi trưởng thành.
7.3. Liên quan
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 287
Mỗi tuyến có 3 mặt: mặt trước, mặt sau, mặt thận và 2 bờ: trên, trong.
7.3.1. Tuyến thượng thận phải
Nằm sau TM chủ dưới và thùy phải gan, trước cơ hoành và cực trên thận phải.
Tuyến có hình tam giác (hình tháp), đáy ở dưới úp lên phần trên bờ trong thận hơn là cực trên của thận phải.
Mặt trước: hơi hướng ra ngoài, có một diện hẹp thẳng đứng ở trong nằm sau TM chủ dưới và một diện ngoài gần tam giác giáp với gan, phần trên áp trực tiếp vào vùng trần của gan, phần dưới có phúc mạc phủ lật xuống từ lá dưới dây chằng vành. Giữa 2 diện có rốn tuyến, từ đó thoát ra TM thượng thận phải, đổ vào TM chủ dưới.
Mặt sau: rộng, hơi lồi, áp vào cơ hoành.
Mặt thận: hẹp, úp lên cực trên và một phần mặt trước thận phải.
Bờ trong mỏng, liên quan tới TM chủ dưới và hạch bụng phải, nằm ở trong và dưới nó. Bờ trên áp vào diện trần của gan và liên quan với ĐM hoành dưới phải chạy lên trên, ra ngoài ở trước trụ phải cơ hoành.
7.3.2. Tuyến thượng thận trái
Hình bán nguyệt, chiều lõm úp vào bờ trong cực trên thận trái.
Mặt trước: có hai diện, diện trên được phủ bởi phúc mạc của túi mạc nối, ngăn cách nó với đầu tâm vị dạ dày; diện dưới không có phúc mạc phủ dính trực tiếp với tuỵ và ĐM lách. Rốn tuyến quay về phía trước dưới, nằm gần phần dưới của mặt trước; từ đó thoát ra TM thượng thận trái đổ vào TM thận trái.
Mặt sau: giáp với trụ trái cơ hoành.
Mặt thận: úp vào thận trái. Bờ trong lồi, liên quan với hạch bụng trái nằm ở dưới và trong nó. Bờ trên là một đường cong liên tiếp với bờ trong, liên quan ở trên với các ĐM hoành dưới trái và vị trái đi lên ở trước trụ trái cơ hoành.
7.4. Hình thể trong
7.4.1. Vùng vỏ: ở bên ngoài, màu vàng, tạo nên phần lớn của tuyến. Được cấu tạo bởi 3 lớp: lớp cầu tiết ra aldosterone, lớp bó tiết ra các steroid, lớp lưới trong cùng tiết ra androgen.
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 288
7.4.2. Vùng tuỷ: ở bên trong, mỏng (khoảng 1/10 tuyến), có màu đỏ xám hoặc xám ngọc tuỳ theo lượng máu chứa bên trong. Mang bản chất TK, được cấu tạo bởi các tế bào xếp thành lưới, tiết ra épinéphrine và norépinéphrine, có tác dụng như những chất hóa học tiết ra từ đầu tận cùng của các TK giao cảm. Tuỷ được bọc kín trong vỏ trừ ở rốn tuyến, từ đó có TM thượng thận thoát ra.
Hình 9.4. Hình thể trong tuyến thượng thận 7.5. Mạch máu và thần kinh
7.5.1. Động mạch
Là tuyến nội tiết nên được cấp mạch rất phong phú. So với kích thước tuyến, lượng máu tương đối nhiều hơn các cơ quan khác trong cơ thể (trừ tuyến giáp). Có 3 nhóm ĐM thượng thận cấp máu cho tuyến.
- ĐM thượng thận trên: gồm 6-8 nhánh, tách từ ĐM hoành dưới, chủ yếu từ các ngành sau của nó đi thẳng xuống bờ trên tuyến như hình răng lược, có một số nhánh phân chia trước khi chui vào tuyến. Một hoặc vài nhánh ở ngoài cùng tận hết ở mỡ cạnh thận.
- ĐM thượng thận giữa: tách từ ĐM chủ bụng, chạy ngang tới phía trong tuyến chia thành nhiều nhánh tới mặt trước trong tuyến và nối tiếp với các ĐM thượng thận trên và dưới.
- ĐM thượng thận dưới: tách ra từ ĐM thận, đi lên trên ngoài dọc bờ thận của tuyến và cho nhiều nhánh chui vào mặt dưới tuyến.
TLTK: Bài Giảng Giải Phẫu I, II – ĐH Y Dược TP. HCM (2021)
Chủ biên: Gs. Nguyễn Quang Quyền 289
Ba ĐM trên cho nhiều nhánh vào tuyến. ĐM thượng thận trên tương đương với sự đóng góp phối hợp của cả hai ĐM thượng thận giữa và dưới. Có nhiều nhánh nhỏ cho bao mỡ quanh thận, đám rối TK và các hạch lân cận.
Thường có một vòng mạch quanh thận-thượng thận, tạo nên bởi sự tiếp nối giữa các nhánh bên của các ĐM thượng thận ở trên với các ĐM thận, gian sườn, thắt lưng và các ĐM khác ở dưới.
7.5.2. Tĩnh mạch
Các TM thượng thận nhỏ tương ứng với các ĐM đi theo các nhánh ĐM tuyến. Trong đó, TM trung tâm lớn nhất thoát ra từ rốn tuyến, có đường kính khoảng 5mm nên phần lớn máu TM đổ về TM trung tâm tuyến thượng thận.
Ở bên trái, TM trung tâm thường hợp với TM hoành dưới để đổ vào TM thận. Còn ở bên phải nó thường đổ trực tiếp vào TM chủ dưới (hoặc đôi khi vào một tĩnh gan phải phụ giữa, trước khi TM này đỏ vào TM chủ dưới).
7.5.3. Bạch huyết
Các bạch huyết của tuyến xuất phát từ đám rối dưới bao xơ và trong tuỷ thượng thận, chúng đi theo các mạch của tuyến, chủ yếu theo TM thượng thận và tận hết ở các hạch trên của chuỗi thắt lưng (hạch bên ĐM chủ).
7.5.4. Thần kinh
Là các nhánh TK nhỏ đi từ đám rối bụng và từ dây TK tạng lớn. Chủ yếu đó là các sợi giao cảm tiền hạch từ dây tạng lớn và tận hết ở các tế bào chế tiết của tuỷ thượng thận. Chỉ có một TK vận mạch cung cấp cho vỏ thượng thận.