II. KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC
1. ĐỊNH NGHĨA ĐẠO ĐỨC
1.1. Đạo đức theo một số từ điển trong nước và nước ngoài
Theo tiếng Latinh, từ nguyên của thuật ngữ "Đạo đức” là "moralis" (nghĩa là đạo đức), bất nguồn từ chi’ “mos”, “moris” (chữ latinh nghĩa là phong tục tập quán).
Từ nguyên của thuật ngữ “Đạo đức ” đường như đồng nhất ở hầu hết các ngôn ngữ. Tính đồng nhất này về từ nguyên chứng tỏ rằng khái niệm đạo đức có nguồn gốc phát sinh thống nhất, nó gắn chặt với khái niệm tập quán, phong tục.
#34 <
Trong tiếng Việt, có từ Đạo đức và Đức. Chúng có nội dung dường như trùng hợp hoàn toàn nên đôi khi người ta dùng thay cho nhau.
* Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988:
“Dao difc” :
- Là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, được dư luận xã hội thừa nhận, quy định
hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
- Là những phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn, đạo đức của một giai cấp nhất định mà có (người có đạo đức ).
“Đức " là:
- Cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý trong tính nết, tư cách, hành động của con
người, theo quan niệm của một giai cấp, một xã hội nhất định (vừa có tài vừa có đức ).
- Tính tốt hợp với đạo lý (đức khiêm tốn, giản đị).
- Điều tốt lành do ăn ở có đạo đức, để lại cho con cháu đời sau, theo một quan niệm duy tâm trong xã hội cũ (nhờ đức ông bà để lại).
- Ấn huệ của người trên đối với người dưới | 17,3].
* Theo từ điển Triết học, Nhà Xuất Bản Tiến Bộ Matxcơva hợp tác với Nhà
Xuất Bản Sự thật, Hà nội, 1986:
" Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội, thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xi hội không trừ lĩnh vực nao.”
12. Đạo đức theo quan niệm của các nhà Đạo đức học phương Đông và phương Tây
12.1. Đạo đức theo quan niệm của các nhà Đạo đức học phương Đông:
Trong lịch sử, tại Việt Nam và vùng Á Đông, theo tư tưởng Nho giáo, phạm tù đạo đức được luận giải tập trung ở cương thường và mở rộng đến luân thường.
Fao chính là năm mối quan hệ cơ bản của con người: vua tôi, cha con, chồng vợ,
ah em, bạn bè, gọi chung là ngũ luân. Trong đó ba mối quan hệ quan trọng nhất là
ee
vua tôi, cha con, chẳng vợ, được gọi là tam cương. Đức, theo Khổng tử là trí, nhân,
dũng. Mạnh tử và Đổng Trọng Thư mở rộng thành ngũ thường : nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Đạo đức chính là sự kết hợp của tam cương ngũ thường thành cương thường (nghĩa hẹp) hoặc kết hợp ngũ luân với ngũ thường thành luân thường (nghĩa rộng).
Cương thường và luân thường là nguyên tắc chỉ phốt mọi suy nghĩ và hành động của con người. Đó là cốt lõi của tư tưởng, đạo đức và luân lý của Nho giáo [58,35].
1.2.2. Đạo đức theo quan niệm của các nhà Đạo đức học phương Tây
Thuật ngữ Đạo đức xuất phát từ phạm trù luân lý. Thoạt đầu, phạm trù luân lý bao quát toàn bộ các nguyên tắc hoạt động và ứng xử của con người trong cộng đồng. Một số nhà triết học hiện sinh như G. Macxen, J. Xactơrơ cho rằng đạo đức là
toàn bộ những cá tính tự đo tuyệt đổi hoặc coi đạo đức là sự tính toán khoái lạc. Nhà
triết học hiện sinh Macun Hâyđécgơ coi đạo đức là lĩnh vực của con người mà bản chất của nó là các hành vi, các mối quan tâm, những tình cảm được chia sẻ giữa người này và người khác theo những mục tiêu và tiêu chí nhất định liên quan đến tự do và trật tự phức tạp của cộng đồng.
Giáo sư G. Banzeladze đã viết trong cuốn Dao Đức Học, Nhà Xuất Bản Giáo Dục,
1985:
“Đạo đức của con người biểu hiện ở năng lực hành động tự nguyện, tự giác vì lợi ích của những người khác và của xã hội”. Nói đến đạo đức của xã hội nói chung tức là nói đến hệ thống những chuẩn mực đạo đức .
Xét từ quan điểm này thì đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự
quan tâm, tự nguyện, tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung.
Trong hệ tư tưởng Đức, Các Mác là người đầu tiên để cập đến phạm trù đạo
đức một cách duy vật và hiện thực, không duy tâm và trừu tượng. Theo Các Mac:
“Con người là kẻ sáng tạo ra chính bản thân, trong và bằng các hoạt động cộng đồng và hợp tác. Chính trong quá trình cộng đồng và hợp tác, các mối quan hệ qua lại với
-36 -
nhau giữa con người với con người, giữa con người với xã hội được hình thành. Để cho các mối quan hệ này được vận hành, những yêu cầu đối với bản thân, đối với xã hội cũng được hình thành dưới dạng những chuẩn mực, nguyên tắc buộc con người phải tuân theo ”.
Tóm lại, từ những định nghĩa hay những quan điểm về đạo đức kể trên, ta có
thể hiểu đạo đức theo hai nghĩa rộng và hẹp như sau:
Theo nghĩa rộng: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã
hoi” [1,4].
Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là toàn bộ những phẩm chất tốt đẹp của con người trong mối quan hệ với người khác và với xã hội.