NOI DUNG VÀ KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
I. NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
6. Các giá trị đạo đức trong mối quan hệ với tổ quốc
Bảng 6. Kết quả xếp hạng các giá trị đạo đức trong mối quan hệ với tổ quốc dựa trên điểm trung bình, tần số và tỉ lệ lựa chọn mức độ “rất quan
trong”
a Thứ Mức độ “rất quan
Giá trị Mean SD heme trong”
Tần số %
Lưòng yêu nước 1.672 0.522 1 378 69.74
Đoàn kết dân tộc 1.601 0.557 2 345 63.65
Tự hào dân tộc 1.585 0.563 3 337 62.18
Trung thanh 1.568 0.549 4 323 59.59
Trach nhiém 1.448 0.544 5 256 47.23
Lòng biết ơn 1.292 0.593 6 197 36.35
Hy sinh 1.290 0.640 7 212 39.11
Tin tưởng 1.268 0.548 8 173 31.92
Bang quan 0.227 0.481 9 15 2.77
Qua bảng 6, lòng yêu nước, đoàn kết dân tộc, tự hào dân tộc và trung thành là những giá trị xếp thứ hạng ưu tiên với điểm trung bình cao (1.672, 1.601, 1.585, 1.568). Đây là những giá trị truyền thống xuất phát từ lịch sử ngàn xưa của dân tộc Việt Nam. Các giá trị ấy đến ngày hôm nay vẫn được thế hệ trẻ lựa chọn và giữ gìn.
Tuy nhiên hai giá trị đáng quan tâm hơn cả đó là hy sỉnh và tin tưởng. Điểm trung bình (1.290, 1.268) và tỉ lệ người lựa chọn mức rất quan trọng không cao (39.11%, 31.92%). Như vậy, lòng yêu nước khi được biểu hiện cụ thể hơn là sự hy sinh cho tổ quốc thì chưa được số đông sinh viên chấp nhận. Sinh viên ngày nay sống trong thời bình, được hưởng sự tự do êm ấm, tiện nghỉ, không trải nghiệm những mất mát, đau thương của thời chiến, vì vậy họ ít có dịp thể hiện sâu sắc sự hy sinh quên mình cho đất nước. Tuy nhiên, cũng cần phải giáo dục tỉnh thần hy sinh bất đầu từ những việc thật nhỏ để rồi hướng nó đến những việc làm lớn hơn.
. 58 -
Đặc biệt, sự tin tudng vao t6 quốc là một vấn để đáng để tâm khi sự tin tưởng quyết định nhiều thứ, trong đó có lòng trung thành, sự hy sinh. Vấn để đặt ra, vì sao lớp trẻ không nhận thức được sự quan trọng của giá trị tn tưởng. Phải chăng nhà trường chưa có biện pháp khắc sâu giá trị này trong tư tưởng của sinh viên hay một số mặt tiêu cực trong quản lý nhà nước và một số cán bộ công quyền đã tác động tới lòng tin tưởng của một bộ phận sinh viên.
7. Các giá trị đạo đức trong hoạt động học tập
Bảng 7. Kết quả xếp hạng các giá trị đạo đức trong hoạt động học tập dựa trên điểm trung bình, tân số và tỉ lệ lựa chọn mức độ “rất quan trọng ”
Thứ Mức độ “rất quan
Giá trị Mean SD bạng trong”
Tần số %
Kiên nhẫn 1.603 0.536 l 340 62.73
Lòng say mê 1.583 0.530 2 326 60.15
Sang tao 1.577 0.534 3 324 59.78
Cầu tiến 1.533 0.591 4 316 58.30
Chuyén can 1.472 0.562 5 274 50.55
Tính mục đích 1.434 0.601 6 266 49.08
Tinh hiéu qua 1.463 0.545 7 264 48.71
Nghiờm tỳc 1.415 0.563 ẹ 245 45.20
Tính có kế hoạch 1.404 0.558 Ụ 238 43.91
Cẩn thận 1,330 0.544 10 199 36.72
Lac quan 1.262 0.578 l1 180 33.21
Trung thực 1.258 0.530 12 164 30.26
Thích ứng 1.208 0.563 13 154 28.41
Khiêm tốn 1.188 0.565 14 147 27.12
Độc lập 1.138 0.606 15 142 26.20
Hoai nghi 0.557 0.623 16 38 7.01
Ngai khé 0.251 0.523 17 23 4.24
Cẩu thả 0.162 0.442 18 16 2.95
Thu động 0.127 0.390 19 II 2.03
-50.
Với 19 giá trị tiêu biểu trong hoạt động học tập, các giá trị xếp ở thứ hạng đầu
tiên là kiên nhẫn, lòng say mê, sáng tạo và cầu tiến với điểm trung bình tương đối cao là 1.603, 1.583, 1.577, 1.533. Ngoài kiên nhẫn được xem là giá trị đặc trưng, truyền thống của người Việt Nam, có sự xuất hiện của 3 giá trị đặc trưng của thời đại
mới, đó là lòng say mê học tập, sáng tạo và cầu tiến. Như vậy sinh viên đã ý thức
được những giá trị nào là cần thiết trong học tập để thích ứng với yêu cầu của thời đại,
với nền kinh tế tri thức hiện nay. Mặc dù con số tỉ lệ của những giá trị này là không cao lắm, chỉ từ S8% đến 63 % nhưng cũng là một dấu hiệu khá khả quan thể hiện một phong cách học tập chủ động, tích cực của sinh viên trong tương lai.
Tuy nhiên, cẩn quan tâm đến những giá trị chưa được đa số sinh viên lựa chọn. Đó là các giá trị trung thực, thích ứng, và độc lập. Trung thực là một vấn để gây khá nhiều bàn cãi không chỉ trong giới sinh viên mà cả trong các cấp lãnh đạo. Trong học tập, thi cử là một trong những hoạt động kiểm tra rõ nhất sự trung thực của người học. Việc đa số sinh viên chưa lựa chọn giá trị này cho thấy họ còn thiếu trung thực trong học tập cũng như cuộc sống.
Giá trị thích ứng và độc lập cũng xếp ở những thứ hạng cuối cho thấy sinh viên vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào tri thức của người thấy. Kết quả này khá phù hợp với giá trị độc lập trong mối quan hệ với giáo viên đã được phân tích ở trên.
Qua việc phân tích sự lựa chọn các giá trị đạo đức trên, có thể thấy, trong toàn bộ I0I giá trị đạo đức được nêu ra, thể hiện trong nhiều mối quan hệ và hoạt động, 10 giá trị đầu tiên xếp theo điểm trung bình từ cao đến thấp là hiếu thảo (cha mẹ), kính trọng (cha me), chung thuỷ (người yêu), yêu thương (người yêu), kính trọng( với thầy cô), biết ơn (cha mẹ), lòng yêu nước, yêu thương (cha mẹ), thành thật (người yêu), chân thành (người yêu). Trong 10 giá trị này có 4 giá trị đối với cha mẹ, 4 giá trị đối với người yêu, l giá trị đối với thầy cô và l1 giá trị đối với tổ quốc, Kết quả xem ra có phần hợp lý bởi vì cha mẹ, đại diện cho mốt quan hệ với
- 6() -
gia đình, gắn bó rất thiết thân với sinh viên, nên các giá trị đạo đức thuộc mối quan hệ này được họ nhận thức tích cực và sâu sắc. Bên cạnh đó, theo đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi thanh niên - sinh viên, tình yêu cũng chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống tỉnh thần của họ, nên họ cũng dành nhiều quan tâm đến
những giá trị thuộc lĩnh vực này.
Một điều đáng tiếc là trong 10 giá trị nêu trên, không có giá trị nào thuộc về
hoạt động học tập trong khi học tập là hoạt động chủ đạo, quyết định sự thành đạt trong tương lai của sinh viên. Đây là một điều cần thiết phải quan tâm và giáo dục.
8. So sánh nhận thức của sinh viên về từng nhóm giá trị đạo đức theo phái tính, trường, năm học đựa trên điểm trung bình
Với mức xác suất œ = 0.05. Nếu T>T,„ hay P< 0.05 có sự khác biệt ý nghĩa.
Với mức xác suất œ =0.05. Nếu E >E,„ hay P< 0.05 có sự khác biệt ý nghĩa.
§.1 Xét theo phái tính
Dựa vào bảng 8 ta thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa giữa nam và nữ ở
nhóm giá trị đạo đức với bản thân, bạn bè và tổ quốc. Tuy nhiên có sự khác biệt ý
nghĩa trong các nhóm giá trị còn lại. Cụ thể, các nhóm giá trị với cha mẹ, thầy cô, người yêu, học tập, trị số T khá lớn và P < 0.05.
Ở cả bốn nhóm này, phái nữ có điểm trung bình cao hơn nam. Như vậy phái nữ có nhận thức sâu sắc và tích cực hơn phái nam. Đặc biệt, ở nhóm giá trị với người yêu có sự chênh lệnh điểm trung bình khá cao giữa hai phái (nữ:19.001, nam:
17.914) . Diéu này cho thấy nữ coi trọng những giá trị đạo đức trong tình yêu hơn nam. Lý giải bằng truyền thống đạo đức của người Việt Nam, trong đó phái nữ luôn luôn được giáo huấn kỹ càng các phẩm chất đạo đức của người con gái khi còn ở với
cha mẹ cho đến khi lập gia đình, đó là lấy công dung ngôn hạnh làm đầu. Chính vì vậy, nên nữ thường có nhận thức tích cực hơn nam, đặc biệt trong lĩnh vực tình yêu,
S682
. -_x."
1gns 29X :q !;j ÁP L uiàiq8u wary :ỡS2, :I5 TỊỉ
8Ê0'0=d ° 6I8'Ê=d Lz1'0=d : 606'I=ọ4 6S0 0=d : t68'I=,L 189], SZEBIT | GOO LIT | O8S9IT] SOz’SIT | 0ZZÊ11 | 09Z911[ t99'/11 [ 16€'SI1 [ SPOLIT | PLEETI u89_| | 8ung2 ty0'0 =d : LIL =A >d: /Sẽ J92IL| diy 619ZZ| BLTIT| tEtZz| 00€1Z | 000l1f| IếZEZZ| Z69ZZ| 68/1Ê | Iểrzểc | GOS IZ u82JI | 26H 6€0'0 =d ° 0I8'Ê =d Ê96 0=d * $60°0 =4 8Z6 0 =d : 0600 =.L, )2L| donb 8/611| 8ẩ/Z11| #ÊZZI| €0EZlI | €Z0ZI| SI0ZI| ZẩĐII| ếÊ61lI | geet [ €961I 8914 9L 8/0 =d ' Ê691 =4 IEL0=d : Ê88'I =4 ( [: 8I€€ =L 1S9L| nạỏ 8I68I| /88/1| /8€81| Z9P8I | 0/6/1| Đ/(E8I| €€061| 908L | I0O06I | 16¿I E94 | tọn3M t60'0 =d ` 9b1'Ê =d ¿S00 =d : I6€'Ê =a €91'0 =d ` 86€'I =L 1S2L aq 9080Z| LIS6l| 9//0Z| 8€00Z | 9Z86I1| II€0Z| 91I1Z| 6€96LI1 | 06€0Z | C666! uBa | = ueg €tÊ 0 =d : 96Ê'[ =d 0'0 =d = SOL, 99 OLPEL| 67LTI| BOO'EL| EESTI | I/ÊZIl| 99€€ÊI| 6PE€I| €ÊZ0€LI | IfE€L | Sẽ/ZI u#9j4 (| ẨpqL 0810 =d ` €Ê9'I =a )€0'0 =d ` 0/8*Ê =! 0 T=L 189], oul 667S1] 67 b1| BIS Fl | tl9lI | 8PEPl| Z6ZSI| t/LPI| 86061 | 89I€I | asst u893J4 | BY c9Z'0 =d : 9€Ê'I =d S70'0 =d ° Êt['€ 9†1'0 =d :€€t'[ =.L S91 | tugq 6/I[I| II€€EI| 069Êl| TSOEL | GOEL] HEMEL] 9I1IL| /16ÊI | 0€6€1 | t9€EI u893Jj| UP“ t € z I AN TA dS NLL ON wen GG.L5 “oun ễt tieu 02t, đuon+11 o2d,1 quyieydoayy =| Ag woyn tutq
duns wip
U2.) BAP 260y tieu “ẩu004) “{01) tp,d ử2đ) 3p op j1) g3 tiọqu Supy QA UDA YUIS ứn2 2n) uỷqu qups ửs ené 32x 'ÿ đ0Pg
8.2 Xét theo trường
Ta thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa ở các nhóm giá trị với bạn bè, người
yêu và tổ quốc. Có sự khác biệt ý nghĩa trong các nhóm còn lại, cụ thể là nhóm giá
trị với bản thân, cha mẹ, thầy cô và học tập với P<0.05.
Nhìn một cách tổng quát, điểm trung bình cả 4 trường theo 7 nhóm, ta thấy, trường ĐH Sư Phạm thường có điểm trung bình cao hơn các trường còn lại. Điểu này là hoàn toàn hợp lý vì trong môi trường mô phạm, các thấy cô giáo tương lai thấm nhuẩn rất rõ những giá trị đạo đức cần thiết cho cuộc sống. Trong khi đó, trường ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn lại có điểm trung bình thấp nhất trong 4 trường. Đây là điều đáng quan tâm vì
ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn là trường đại diện cho nhóm ngành xã hội nhưng lại
có điểm trung bình chưa mấy tích cực so với các trường khác.
Xét trong phạm vi từng nhóm, có thể thấy, ở nhóm giá trị đạo đức với bản thân và hoạt động học tập, sự khác biệt chủ yếu ở hai trường ĐH Sư Phạm và ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn.
Ở nhóm giá trị với cha mẹ và thấy cô, sự khác biệt chủ yếu ở hai trường
ĐHDL Văn Lang và ĐH Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn. Trong hai nhóm này, ĐHDL Văn Lang có điểm trung bình cao nhất, điểu này cho thấy công tác giáo dục đạo đức ở trường ĐH dân lập được quan tâm và có đầu tư đáng kể.
8.3 Xét theo năm học
Ta thấy không có sự khác biệt ý nghĩa của các nhóm giá trị với bản thân, cha mẹ, thấy cô, bạn bè, người yêu. Tuy nhiên có sự khác biệt ý nghĩa trong hai nhóm
còn lại là nhóm giá trị đối với tổ quốc và nhóm giá trị trong học tập.
Ở nhóm giá trị đối với tổ quốc, sự khác biệt chủ yếu diễn ra ở năm thứ nhất
so với năm thứ ba và năm thứ tư. Nhìn vào điểm trung bình ta thấy, năm thứ nhất có
điểm trung bình nhận thức tích cực nhất, và càng đi vào các năm học cuối, chiểu
hướng tích cực có giảm dan. Cu thé điểm trung bình bốn năm theo thứ tự là 12.303, 12.224, 11.278, 11.978. Đây là điều ngạc nhiên bởi lẽ càng học ở những lớp lớn hơn,
<<
sinh viên phải càng có nhận thức sâu sắc hơn về các giá trị đạo đức cần thiết đối với tổ quốc. Đáng tiếc là kết quả lại có chiều hướng ngược lại. Phải chăng, càng học lên cao, thời gian tiếp cận thực tế càng nhiều sinh viên lại càng quan tâm đến những giá trị bản thân hơn những giá trị thuộc về cộng đồng, xã hội.
Ở nhóm giá trị đối với học tập, có sự khác biệt khá rõ giữa sinh viên năm thứ
tứ với sinh viên năm nhất và năm thứ ba. Năm nhất và năm ba có điểm trung bình
xấp xỉ bằng nhau, trong khi đó năm thứ tư vượt lên ở vị trí nhận thức tích cực nhất.
Điều này khá dễ hiểu khi ở năm cuối, sinh viên phải nỗ lực học tập nhiều hơn, chương trình học cũng khó hơn và yêu cầu của giáo viên cũng cao hơn vì thế mà
nhận thức về các giá trị học tập cũng theo đó mà tăng lên. Còn ở sinh viên năm thứ
nhất, do mới bước vào môi trường đại học còn nhiều bỡ ngỡ, chưa thích nghỉ được với phương pháp học tập mới cũng như chưa có điều kiện trải nghiệm nên chưa ý thức được ý nghĩa quan trọng của các giá trị đạo đức trong học tập. Đáng buồn là sinh viên năm thứ ba, mặc dù là năm gần cuối, nhưng ý thức đạo đức về các giá trị học tập không khác gì năm thứ nhất. Phải chăng năm thứ ba chưa phải là giai đoạn
“nước rút” trong học tập nên nhận thức có hời hợt hơn.
Nhìn một cách tổng quát nhận thức chung của các nhóm sinh viên với các nhóm giá trị, ta thấy không có sự ý nghĩa theo phái tính và theo trường nhưng có sự khác biệt ý nghĩa theo năm học. Sự khác biệt chủ yếu ở năm thứ 4 và năm thứ ba.
So với cả 4 năm thì sinh viên năm thứ tư có nhận thức về các giá trị đạo đức tích cực hơn cả.