ĐỊNH NGHĨA GIÁ TRỊ

Một phần của tài liệu Tìm hiểu định hướng giá trị đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức của sinh viên thành phố hồ chí minh (Trang 22 - 27)

I. LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ

1. ĐỊNH NGHĨA GIÁ TRỊ

1.1. Định nghĩa giá trị theo một số từ điển ở nước ngoài và trong nước:

- Từ điển Bách Khoa Toàn Thư Xô Viết định nghĩa: “Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con

người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không

phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích”,

- Từ điển Triết học do M. M. Rozental (Liên Xô) chủ biên (NXB Tiến Bộ Maxcơva, 1975) định nghĩa: "Giá trị là những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung quanh nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực

của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, thiện và ác, cái đẹp và cái

xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên). Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc của hiện tượng, tuy nhiên chúng không phải là cái vốn do thiên nhiên ban cho sự vật hiện tượng, không phải đơn thuần do

kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào phạm vi tổn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định.

Đối với chủ thể (con người), các giá trị là những đối tượng lợi ích của nó, còn đối

với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò những vật định hướng hàng ngày trong thực trang vat thé va xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với các sự vật và hiện tượng chung quanh `.

Điểm chung có thể thấy ở hai định nghĩa trên là cả hai đều quan tâm đến tính

xã hội và tính có ích của giá trị.

- Từ điển Hán - Việt của Giáo sư Nguyễn Lân nêu ba nghĩa:

I) Là phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hóa, biểu hiện số lao động trừu tượng của xã hội đã hao phí vào việc sản xuất ra hàng hóa.

2) Phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hoặc con người.

3) Phẩm chất tốt đẹp, tác dụng lớn lao [56,49].

- Trong từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa Học Xã Hội), giá trị được định nghĩa

như sau:

I) Cái mà người ta dùng làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích đến mức nào đối với con người ,

2) Cái mà người ta dựa vào để xét xem một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng.

3) Những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội.

4) Tính chất quy ra được thành tiền của một vật trong quan hệ mua bán, đổi

chác.

5) Độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên.

Việc nêu lên các nghĩa cơ bản về giá trị cho thấy giá trị có rất nhiều nghĩa và tuỳ vào từng tình huống, trường hợp cụ thể mà người ta có những cách hiểu khác nhau về nó,

1.2. Giá trị theo quan điểm của các ngành khoa học :

Trong tiếng Anh, khái niệm giá trị thường được nhắc tới qua hai thuật ngữ có ý nghĩa tương đương, đó là: "*value”; là giá trị, ý nghĩa, giá cả và "worth”: vừa có

nghĩa là giá trị, giá cả, ý nghĩa, vừa có nghĩa là phẩm giá. Từ điển Oxford (1952) đã

dùng thuật ngữ này để định nghĩa cho thuật ngữ kia. Ngày nay, thuật ngữ “value”

được dùng phổ biến với nội hàm của cả hai thuật ngữ trên.

-122.-

Khái niệm giá trị là khái niệm trung tâm của giá trị học. Giá trị được rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như triết học, xã hội học, đạo đức học,

mỹ học, tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học ... Ở mỗi ngành khoa học, khái niệm giá trị được hiểu theo những khía cạnh, góc độ khác nhau, cụ thể như sau:

- Ở góc độ kinh tế học, phạm trù giá trị gắn liền với hàng hoá, giá cả và sản xuất hàng hoá, và phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của người làm ra hàng hoá. K. Marx đã từng viết: “Lao động có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động được nhân lên cấp số nhân, hay là trong một khoảng thời gian như

nhau, nó tạo ra một giá trị cao hơn so với một giá trị trung bình cùng loại” [52,50].

Giá trị sức mạnh của vật chất này khống chế những vật chất khác khi trao đổi. Để bộc lộ giá trị, vật phẩm phải có ích lợi, tức là có khả năng thoả mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do đó trong phân tích, thì “giá trị” là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó ngày càng cao thì giá trị của nó ngày càng lớn.

- Ở góc độ triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị:

Chủ nghĩa duy tâm khách quan (thuyết Kant mới, M.Sheler, N.Gartman,..)

coi giá trị là tổn tại của những chuẩn mực lý tưởng tổn tại bên ngoài sự thật, không phụ thuộc vào nhu cầu và ham muốn của con người.

Trái lại, chủ nghĩa duy tâm chủ quan (chủ nghĩa thực chứng mới, cảm xúc luận...) coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà con người đang đánh giá.

Triết học Mác - Lênin coi giá trị là một hiện tượng xã hội, mọi giá trị đều có

nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan.

Ở góc độ xã hội học, giá trị được chú trọng ở nội dung, nguyên nhân, điều

kiện kinh tế — xã hội cụ thể trong việc hình thành hệ thống giá trị nhất định của một

xã hội [28,74].

= 93

- Gan liền với xã hội học, Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị và định

hướng giá trị trong cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình

thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị

hiếu, tập quán, lối sống của các nhóm xã hội.

- Ở góc độ tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm

hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển nhân cách.

- Ở góc độ đạo đức học, phạm trù giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và các quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội. Giá trị trong đạo đức học là các giá trị đạo đức, chúng gắn liền với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái, nhân ái... [40,19].

Như vậy, giá trị được để cập đến trong bài nghiên cứu này đặt giá trị trong phạm vi tâm lý học và đạo đức học là chủ yếu.

1.3. Giá trị theo quan điểm của các nhà khoa học nước ngoài và trong nước:

- Theo J.H.Fichter, nhà xã hội học Hoa Kỳ: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có một giá trị. "

- Theo tài liệu “Giáo dục giá trị” (Bộ văn hoá thể thao Philippin), khái niệm

giá trị có thể hiểu như sau: “Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và

cần có; tiền bạc và nhà cửa có giá trị vì chúng được công nhận là có ích, và việc

mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người. Không chỉ có hàng hóa vật chất và cả lý tưởng và những khái niệm đều có

giá trị như “sự thật”, "lương thiện ” và “công lý” [56,54].

- V.P. Tugarinov (Liên Xô) quan niệm giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích lợi, hứng thú...) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ, với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu và những lợi ích của họ, đồng

thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục dich hay lý tưởng ”.

- L. Dramaliev (Bungary) coi "Giá trị là một thành tố khách quan xã hội. Nó là một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, đối tượng, một liên hệ, một ý niệm khách quan hoá), thoả mãn được những nhu cầu nhất định của con người. Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thoả mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ. Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị

không thể tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, những thái độ, những quan điểm và những hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xa hoi”.

Nhà giáo dục học Nhật Bản J. Makiguchi, lại định nghĩa: “Giá trị là sự thể

hiện có tính định lượng mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của việc đánh giá ” [34, 104].

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về giá trị, điển hình là các công trình

của Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Phạm Minh Hạc, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên...

đều quan niệm “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể” [42,49].

Công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Trọng Thuỷ về "Giá trị, định hướng

giá trị và nhân cách” cũng có những điểm tương đồng với quan điểm trên khi xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc

tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra, nhưng đều phục vụ cho sự

tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người [42,6].

Kế thừa, cụ thể hóa, làm phong phú thêm khái niệm về giá trị của các tác giả

trên, có thể định nghĩa giá trị như sau: Giá trị là những cái cần, có ích, có ý nghĩa

đối với xã hội, tập thể và cá nhân, phẩn ánh mối quan hệ giữa chủ thể va

-13-<

khách thể, giữa chủ thể với chính mình, được đánh giá và có thể bị thay đổi

theo những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể, tuỳ thuộc vào bản chất, trình độ

phát triển của nhân cách.

Một phần của tài liệu Tìm hiểu định hướng giá trị đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức của sinh viên thành phố hồ chí minh (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(129 trang)