6. Kết cấu của luận án
1.2.1. Đặc điểm của sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình
Với đối tượng và phương pháp nghiên cứu, sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam có đặc điểm sau:
* Về đối tượng nghiên cứu so sánh
Đối tượng nghiên cứu so sánh của luận án này trực tiếp nhằm đúng vào vấn đề về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam.
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh có phạm vi khá rộng, bao gồm như pháp luật nước ngoài (hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm: tư duy pháp lý, nguồn luật... nghĩa là cả pháp luật trên giấy tờ lẫn pháp luật trong thực tế), pháp luật quốc gia, cơ chế áp dụng pháp luật, hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, nghề luật; v.v... Việc lựa chọn vấn đề nào để so sánh phụ thuộc vào mục đích so sánh và mối quan tâm của Luật so sánh. Mặc dù chúng ta có thể so sánh hai hệ thống pháp luật hoặc nhiều hệ thống pháp luật với nhau, có thể so sánh luật hình thức hoặc luật nội dung, có thể so sánh các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật với nhau hoặc so sánh tổng thể các hệ thống pháp luật; v.v... Đương nhiên, việc so sánh đòi hỏi các quy phạm pháp luật (đối tượng so sánh) phải điều chỉnh cùng một vấn đề. Chẳng hạn, không nên đặt vấn đề so sánh giữa các quy định pháp luật về chứng khoán của Việt Nam với các quy định pháp luật về hôn nhân của Trung Quốc. Không nên so sánh các khái niệm, thuật ngữ trừu tượng, mà nên so sánh cách thức các hệ thống pháp luật điều chỉnh cùng một vấn đề thực tế trong cuộc sống. Để có thể so sánh được hai quy phạm pháp luật, chúng chỉ cần có cùng chức năng (là điều chỉnh lĩnh vực quan hệ, một nhóm loại, một quan hệ xã hội nào đó), chứ không nhất thiết phải cùng đạt được một mục đích.
Theo mục đích nghiên cứu của đề tài này và lý luận về đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh, luận án này xác định đối tượng của nó là chế định điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam, gồm có những vấn đề chính như sau: hệ thống tổ chức và cơ chế lãnh đạo của tổ chức Cơ quan điều tra, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự, thủ tục điều tra, các biện pháp điều tra, các biện pháp ngăn chặn, vai trò của Viện kiểm sát đối với điều tra; v.v... các quy định khác nhau điều chỉnh như thế nào đối với một vấn đề nhất định nảy sinh ở cả hai nước. Bởi vì, điều tra là một giai đoạn tố tụng có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn, sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam sẽ là một vấn đề nghiên cứu khoa học rất có giá trị không chỉ trên
phương diện lý luận - thực tiễn, mà cả ý nghĩa chính trị - xã hội. Theo phân loại cách thức so sánh dựa trên quy mô so sánh thì nội dung luận án này thuộc cách thức so sánh vi mô, nó là cách thức so sánh một cách cụ thể, trực tiếp một quy phạm pháp luật, một chế định pháp luật của một hệ thống pháp luật với một quy phạm pháp luật, một chế định pháp luật tương ứng của một hệ thống pháp luật khác.
* Về phương pháp so sánh
Trong khoa học Luật so sánh, quan trọng hơn cả là phương pháp so sánh, đặc biệt là so sánh lập pháp.
Về phương pháp so sánh, luận án này cũng vận dụng những phương pháp thường dùng của Luật so sánh, nhưng trong qua trình nghiên cứu lại có đặc điểm riêng, biểu hiện như:
Một là, vì chất lượng của việc mô tả phụ thuộc vào khả năng và hiểu biết của người mô tả, khi thực hiện phương pháp so sánh trên cơ sở quan sát, mô tả khách quan, hiệu quả lại khác nhau, mà tác giả của luận án này có sống ở cả hai nước, biết được nhiều tình hình cụ thể về văn bản pháp luật và thực tiễn của việc điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam, nên không chỉ có thể nghiên cứu các văn bản cụ thể, mà còn có khả năng nghiên cứu cả những khía cạnh khác nữa chẳng như thực tiễn áp dụng của hai nước, có thể phân tích, đánh giá một cách toàn diện.
Dưới góc độ của một người nghiên cứu so sánh thì chúng ta có thể hình dung mỗi hệ thống pháp luật như là các bức tranh, bức ảnh về phong cảnh Hà Nội hay Bắc Kinh, để chúng ta có cái mà nói rằng đây là cảnh của Việt Nam, còn kia là cảnh của Trung Quốc. Tuy nhiên, phải đặt câu hỏi: liệu bức ảnh về Hà Nội hay Bắc Kinh đó thể hiện được bao nhiêu phần trăm thực tế của Trung Quốc và Việt Nam ? Vào thế kỷ XIX, khi chúng ta coi việc so sánh pháp luật nghĩa là so sánh các văn bản pháp luật cụ thể của các nước, thì điều đó cũng giống như chúng ta xem tranh ảnh. Tuy nhiên, đến thời kỳ hiện
nay, nếu chúng ta chỉ nghiên cứu một bức ảnh thì chưa đủ. Chúng ta không chỉ phải nghiên cứu các văn bản cụ thể, mà còn phải nghiên cứu cả những khía cạnh khác nữa của pháp luật.
Ví dụ: Ở Việt Nam có Luật giao thông đường bộ, nhưng nếu ai chưa từng đến Việt Nam thì sẽ không thể hiểu được Luật giao thông đường bộ được thực hiện như thế nào ở Việt Nam, họ sẽ tưởng tượng việc đi lại ở Việt Nam cũng tương tự như ở Châu Âu hoặc bất cứ một nơi nào khác trên thế giới. Luật so sánh cũng như vậy. Chất lượng của việc mô tả phụ thuộc vào khả năng của người mô tả. Một bức ảnh, trong một chừng mực nào đó, không thể hiện được hết tất cả thực tiễn của đời sống. Văn bản pháp luật cũng vậy.
Do đó, khi chúng ta mô tả pháp luật, phải cố gắng mô tả sao cho thấy được phần lớn thực tiễn pháp luật hiện hành. "Hiểu biết thực tiễn pháp luật nước ngoài thiếu chính xác thường dẫn đến việc so sánh pháp luật kém chất lượng, sai về thực tiễn và đôi khi còn tồi tệ hơn là không so sánh gì cả" [24, tr. 31].
Hai là, về phân loại phương pháp so sánh dựa trên cách thức tiến hành so sánh thì luận án này chủ yếu ứng dụng phương pháp so sánh tương phản và đồng nhất, bởi vì việc so sánh phải đi đến kết quả là tìm ra những nét tương đồng và khác biệt điển hình giữa các đối tượng so sánh, đồng thời đánh giá tính hợp lý của các giải pháp pháp lý của hai nước, mà phương pháp này được sử dụng có thể phát hiện ra các điểm giống nhau và khác nhau của chế định điều tra của hai nước, từ đó có thể đánh giá, phân tích, lấy kinh nghiệm và tìm giải pháp với nhau.
Lý luận chung về phương pháp so sánh tương phản và đồng nhất của luật so sánh cho rằng, trong những trường hợp so sánh cụ thể, chúng ta có thể so sánh chỉ có mục đích lý giải điểm giống nhau (hoặc khác nhau) của đối tượng so sánh. Việc chọn cách tiếp cận nào hoàn toàn phụ thuộc quan điểm của người so sánh. Nếu chúng ta bắt đầu với giả định rằng các hệ thống pháp luật về cơ bản là giống nhau, thì nên tập trung vào khai thác các điểm khác biệt. Ngược lại, nếu về nguyên tắc các hệ thống pháp luật là khác nhau, thì
nên giải thích những điểm tương đồng. Chẳng hạn, khi so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật Trung Quốc, nên tìm ra những điểm khác biệt. Tuy nhiên, khi so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, thì việc lý giải những điểm khác biệt và tương đồng đều thú vị như nhau. Thông thường, các luật gia so sánh nên cố gắng lý giải cả hai mặt tương đồng và khác biệt, cho dù chúng ta có thể tiếp cận vấn đề theo cách nào. Sau khi đã so sánh và lý giải sự tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng so sánh, thì câu hỏi đặt ra là: giải pháp pháp lý của nước nào là tốt? Sự đánh giá này có thể là không mang tính bắt buộc, nhưng rất cần thiết đối với các người có ý tưởng hoàn thiện pháp luật. Việc đánh giá tính hợp lý của các giải pháp pháp lý của các hệ thống pháp luật phải dựa trên những giá trị nhất định, những tiêu chí nhất định.
Với mục đích hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc, luận án này khi sử dụng phương pháp so sánh tương phản và đồng nhất, không những tìm ra các điểm giống nhau và khác nhau của chế định điều tra của hai nước, mà còn đánh giá các sự khác biệt, đồng thời cố gắng láy kinh nghiệm của Việt Nam và góp phần tìm giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.