6. Kết cấu của luận án
2.4.2. Vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra
Người bảo chữa là người tham gia tố tụng đẻ đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo quy định của Điều 96 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc, Cơ quan điều tra phải bảo đảm hoạt động hành nghề của luật sư (người bào chữa) theo quy định của pháp luật, bảo đảm trong giai đoạn điều tra, luật sư (người bào chữa) có thể tiến hành những nghiệp vụ theo luật như sau:
- Thông qua Cơ quan điều tra tìm hiểu tội danh nghi can của bị can;
- Gặp bị can, tìm hiểu tình hình vụ án thông qua bị can;
- Tư vấn pháp luật, đại diện kháng cáo và khiếu nại tố cáo;
- Xin bảo lĩnh hậu thẩm cho bị can bị tạm giam.
Sau khi tiến hành thẩm vấn bị can lần thứ nhất theo luật hoặc kể từ ngày áp dụng biện pháp ngăn chặn, Cơ quan điều tra phải giải thích cho bị can về quyền được mời người bào chữa làm trợ giúp pháp luật, đại diện kháng cáo và khiếu nại tố cáo, đồng thời ghi hồ sơ án.
Đối với những án liên quan đến bí mật nhà nước, Cơ quan điều tra phải giải thích cho bị can biết muốn mời người bào chữa phải được Cơ quan điều tra phê chuẩn.
Vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, là chỉ những vụ án có tình tiết hoặc toàn bộ vụ án mang tính chất liên quan đến bí mật nhà nước, không thể
coi sự cần thiết giữ bí mật cho tài liệu và ý kiến xử lý liên quan trong quá trình điều tra vụ án hình sự là án liên quan đến bí mật nhà nước.
Bị can có thể tự đứng ra mời người bào chữa, nhân thân của bị can cũng có thể đại diện đứng ra mời người bào chữa.
Bị can có thể đề xuất yêu cầu mời người bào chữa bằng văn bản hoặc bằng miệng. Trường hợp đề xuất bằng miệng, Cơ quan điều tra phải ghi lại thành biên bản và do bị can ký tên (đóng dấu), điểm chỉ.
Trường hợp bị can đang bị giam giữ đề xuất yêu cầu mời người bào chữa, trại tạm giam phải kịp thời chuyển yêu cầu này cho Cơ quan điều tra xử lý vụ án, Cơ quan điều tra phải kịp thời chuyển đến nhân viên được ủy thác của trại hoặc Văn phòng luật sư của trại. Bị can đề xuất yêu cầu mời người bào chữa, nhưng không chỉ rõ đối tượng cụ thể, Cơ quan điều tra phải kịp thời thông báo đến hội luật gia (đoàn luật sư) sở tại hoặc cơ quan hành chính tư pháp để giới thiệu người bào chữa cho bị can.
Bị can của cùng một vụ án không được phép mời cùng một người bào chữa. Đối với những vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, trường hợp bị can hoặc nhân thân của bị can đề xuất yêu cầu mời người bào chữa, trong vòng 3 ngày sau khi nhận được yêu cầu, Cơ quan điều tra cấp huyện trở lên phải quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn, đồng thời gửi thông báo đến bị can hoặc nhân thân bị can.
Cơ quan điều tra phát hiện vụ án có liên quan đến bí mật nhà nước, trường hợp bị can đã mời được người bào chữa, phải kịp thời thông báo cho bị can biết người bào chữa đã được mời không được phép tham gia vào hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra. Trường hợp nghi phạm vẫn kiên quyết mời người bào chữa đó, phải được Cơ quan điều tra phê chuẩn.
Đối với án không liên quan đến bí mật nhà nước, người bào chữa gặp mặt bị can không cần sự phê chuẩn của Cơ quan điều tra, Cơ quan điều tra
không nên coi việc cần thiết giữ bí mật của quá trình điều tra như án liên quan đến bí mật nhà nước mà không phê chuẩn.
Đối với những án liên quan đến bí mật nhà nước, người bào chữa muốn gặp mặt bị can phải điền vào "Đơn xin gặp mặt bị can" và được Cơ quan điều tra cấp huyện trở lên phê chuẩn. Trường hợp Cơ quan điều tra không phê chuẩn đơn xin gặp mặt, phải nêu rõ lý do cho người bào chữa biết.
Trường hợp người bào chữa đề xuất được gặp mặt bị can, trong vòng 48 tiếng, Cơ quan điều tra phải bố trí cuộc gặp; đối với những án đồng phạm phức tạp nghiêm trọng như: tổ chức, lãnh đạo, thành viên băng đảng tội phạm xã hội đen, tổ chức, lãnh đạo, thành viên các tổ chức tội phạm hoạt động khủng bố hoặc tội phạm buôn lậu, buôn bán độc phẩm, tội phạm tham ô tham nhũng; v.v..., trường hợp người bào chữa đề xuất được gặp mặt bị can, trong vòng 5 ngày phải bố trí cuộc gặp.
Trường hợp người bào chữa gặp mặt bị can đang bị tạm giam có nhân viên phiên dịch đi cùng, phải được Cơ quan điều tra phê chuẩn. Khi người bào chữa gặp mặt bị can đang bị tạm giam, căn cứ vào tình hình và yêu cầu của vụ án, Cơ quan điều tra có thể cử người giám sát tại hiện trường gặp mặt.
Người bào chữa gặp mặt bị can đang bị tạm giam, Cơ quan điều tra phải kiểm tra thẻ luật sư, thư giới thiệu của sở vụ luật sư, thư mời, giấy thông báo gặp mặt của Cơ quan điều tra và giấy chứng nhận cho phép nhân viên phiên dịch tham gia gặp mặt. Đối với vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, còn phải kiểm tra "Quyết định phê chuẩn gặp mặt bị can" do Cơ quan điều tra cấp.
Khi người bào chữa gặp mặt bị can đang bị tạm giam, Cơ quan điều tra phải nhắc nhở những người tham gia gặp mặt tuân thủ nội quy nơi gặp mặt.
Khi người bào chữa gặp mặt bị can đang bị tạm giam vi phạm quy định pháp luật hoặc nội quy nơi gặp mặt, cảnh vệ có mặt tại đó phải tiến hành ngăn chặn, khi cần có thể quyết định đình chỉ cuộc gặp.
Trường hợp người bào chữa có hành vi vi phạm những quy định liên quan trong tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra phải kịp thời ngăn chặn và gửi thông báo đến Ban quản lý luật sư.
2.4.2.2. Ở Việt Nam
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân.
Những người sau đây không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.
Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình: Một là, bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự; Hai là, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Trong các trường hợp này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.
Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
Người bào chữa có quyền như sau:
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
- Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;
- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc
từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
Bên cạnh đó, người bào chữa có cũng có các nghĩa vụ trong giai đoạn điều tra như sau:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;
- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Người bào chữa làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2.4.2.3. So sánh về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam
Trung Quốc và Việt Nam về việc phân loại các hình thức bào chữa về cơ bản là giống nhau, được chia thành hình thức tự bào chữa, mời người bào chữa và cử người bào chữa. Nói chung, nội dung và giai đoạn áp dụng các thủ tục tố tụng rằng có một số sự khác biệt. Tự bào chữa, mời người bào chữa trong Luật tố tụng hình sự giữa hai nước cũng tương tự, có thể được áp dụng trong mọi giai đoạn của thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên, sự cử người bào chữa của Trung Quốc là chỉ áp dụng trong giai đoạn xét xử, được cử làm người bào chữa chỉ có thể là các luật sư có nghĩa vụ hỗ trợ pháp lý. Trong khi đó, ở Việt Nam, người bào chữa được cử trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, và không cần chắc chắn phải là luật sư, miễn là tình hình thuộc vào bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự; hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, mà không mời người bảo chữa.
Số lượng của người bào chữa ở Trung Quốc bị hạn chế một cách nghiêm khắc, một nghi phạm, bị cáo chỉ có thể được ủy thác 1-2 người bảo chữa, trong trường hợp có đồng phạm, không cho phép một luật sư bào chữa cho nhiều nghi phạm. Ở Việt Nam thì không hạn chế về số lượng các người bào chữa, miễn là trong một vụ án hình sự, quyền của người bị tạm giam, các nghi can, bị cáo không mâu thuẫn nhau.
Ngoài ra, về quyền của người bào chữa thì hai nước có nhiều điểm khác biệt rõ ràng như sau:
Một là, Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định người bào chữa có quyền có mặt trong khi điều tra viên hỏi cung bị can, bị cáo, tiến hành các hoạt động điều tra quan trọng khác. Đây vẫn còn tranh chấp bất tận trong lý thuyết của Trung Quốc, trong Luật tố tụng hình sự thì chưa bao giờ trao quyền này cho người bào chữa.
Hai là, Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc quy định rằng chỉ có các luật sư làm người bào chữa có thể điều tra và thu thập bằng chứng, nhưng chỉ áp dụng cho giai đoạn truy tố, xét xử, các giai đoạn điều tra là không được phép điều tra thu thập chứng cứ. Còn ở Việt Nam, mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng có thể điều tra và thu thập chứng cứ, bằng chứng, cũng không hạn chế là chỉ có luật sư làm người bảo chữa mới có thể điều tra và thu thập bằng chứng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Qua nghiên cứu Chương 2 "Tổ chức và hoạt động điều tra, cơ chế kiểm sát điều tra và các chế định liên quan đến điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam", có thể đi đến các kết luận như sau:
Một là, Trung Quốc và Việt Nam đều có nhiều tiểu hệ thống Cơ quan điều tra tồn tại và hoạt động độc lập với nhau. Về cơ bản, cơ chế lãnh đạo đều có đặc trưng như Cơ quan điều tra cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo của Cơ quan điều tra cấp trên để các Cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, góp phần phòng, chống tội phạm một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt, Trung Quốc không thành lập Cơ quan điều tra riêng trong lực lượng cảnh sát nhân dân như Việt Nam, mà do các Cục Công an mang chức năng điều tra các vụ án hình sự phổ thông. Trung Quốc đã tổ chức một hệ thống Cơ quan an ninh quốc gia riêng, độc lập và ngang quyền với hệ thống Công an nhân dân. Tất cả các Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc đều gồm có hai bộ phận có quyền điều tra, trong khi đó ở Việt Nam lại không kết cấu như vậy.
Hai là, những quy định về quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự của hai nước thì rõ rằng khác nhau. Việt Nam phân định