Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

Một phần của tài liệu Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam (Trang 70 - 77)

6. Kết cấu của luận án

2.2.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

2.2.1.1. Ở Trung Quốc

* Nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

Theo quy định của Điều 2 Luật Cảnh sát nhân dân, Điều 2 Luật tố tụng hình sự, và văn bản quy định về trình tự giải quyết vụ án hình sự của Cơ quan Công an Trung Quốc, nhiệm vụ của Cơ quan điều tra là bảo đảm điều tra xác minh sự thật tội phạm một cách chính xác và kịp thời, áp luật một cách đúng đắn, trừng phạt các phần tử phạm tội, bảo đảm người vô tội không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự, giáo dục công dân tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực đấu tranh với các hành vi phạm tội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền dân chủ và những quyền lợi khác của công dân, bảo đảm thuận lợi xây dựng sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình tố tụng hình sự, nhiệm vụ chủ yếu của Cơ quan điều tra là theo thủ tục pháp lý để xác định và thu thập tất cả các bằng chứng cho vụ án, xác định sự thật của tội phạm, phát hiện và xác định các nghi phạm hình sự, và thực thi các biện pháp cần thiết để ngăn chặn các trường hợp tội phạm thực hiện và nghi phạm hình sự tiếp tục thực hiện các

hoạt động tội phạm hoặc trốn tránh điều tra, truy tố và xét xử, để đảm bảo việc tố tụng tiến hành một cách có hiệu quả. Để thực hiện những nhiệm vụ trên, pháp luật cho Cơ quan điều tra những quyền hạn nhất định.

* Quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

Quyền cơ bản của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự là khởi tố, điều tra, dự thẩm án hình sự theo quy định của pháp luật; quyết định và thi hành các biện pháp ngăn chặn; không được phép khởi tố đối với những vụ án theo luật không truy cứu trách nhiệm hình sự, những án đã đình chỉ truy cứu;

đối với án đã kết thúc điều tra, thấy cần phải truy tố thì chuyển lên viện kiểm sát nhân dân để thẩm tra quyết định. Trường hợp bị can chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cần xử phạt hành chính, theo luật cho phép xử phạt; đối với tội phạm bị tuyên án tù có thời hạn dưới 1 năm hoặc còn thời hạn chấp hành hình phạt tù dưới 1 năm, được giao cho Cơ quan điều tra thi hành; còn thi hành những hình phạt như quản chế, tạm giữ, tước quyền lợi chính trị, trục xuất, cải tạo không giam giữ; đối với tội phạm được tha và hoãn thi hành tạm giữ, hoãn thi hành án tù có thời hạn phải tiến hành giám sát và giáo dục.

Theo tính chất của những quyền của Cơ quan điều tra, chúng ta có thể chia nhóm như sau:

- Quyền khởi tố vụ án và điều tra. Đối với những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình, Cơ quan điều tra có quyền quyết định khởi tố hay không. Sau khi khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra được quyền tiến hành một loạt các hoạt động điều tra, như là hỏi cung bị can, lấy lời khai của nhân chứng, nạn nhân, kiểm tra, tìm kiếm, thu giữ chứng cứ, giám định; v.v...

- Quyền cưỡng chế. Để bảo đảm việc điều tra hình sự tiến hành một cách thuận lợi, ngăn chặn nghi phạm hình sự, bị cáo tự sát, chạy trốn, che giấu hoặc phá hủy các chứng cứ và tiếp tục xảy ra các sự kiện như gây hại cho xã hội, các Cơ quan điều tra theo yêu cầu và thủ tục luật định, có thể thi hành các

biện pháp ngăn chặn như ban hành lệnh bắt buộc nghi can hình sự phải có mặt, hoặc lệnh cho người này phải tìm người bảo lĩnh hoặc đặt tiền để đảm bảo sự có mặt của bị can trong giai đoạn điều tra, giám sát khu dân cư, tạm giam, bắt giữ, để tạm thời hạn chế quyền tự do của nó.

- Quyền dự thẩm. Sau khi một vụ án hình sự được điều tra phá án, các Cơ quan điều tra có quyền tiến hành dự thẩm, kết thúc điều tra theo thời hạn luật định, ghi "truy tố trình" hoặc "không truy tố các trình"; nếu trong trường hợp Cơ quan điều tra thấy rằng những người bị can không nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì phải hủy bỏ vụ án và phóng thích người ấy kịp thời.

- Quyền chế ước. Cơ quan điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát truy tố. Đối với những vụ án do Cơ quan điều tra chuyển giao Viện kiểm sát nhân dân truy tố mà Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định không truy tố, nếu Cơ quan điều tra nghĩ rằng quyết định này không chính xác thì có quyền yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân này cho xem xét lại, nếu ý kiến không thể được chấp nhận, có thể đưa lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để rút ra xem xét.

- Quyền thi hành. Sau khi Tòa án nhân dân kết tội cho bị cáo, Cơ quan điều tra có quyền thi hành một số hình phạt. Đối với những tội phạm bị giam ngắn hạn, bị quản chế, hoặc bị tước quyền lợi chính trị, do Cơ quan điều tra thi hành.

2.2.1.2. Ở Việt Nam

* Nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

Trên cơ sở chức năng của mình, Cơ quan điều tra Việt Nam được quy định những nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ của Cơ quan điều tra nói chung nằm trong nhiệm vụ của Luật tố tụng hình sự được quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự:

Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,

không làm oan người vô tội" nhằm góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống [4].

Nhiệm vụ đó được cụ thể hóa tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009), đó là:

Cơ quan điều tra: tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Đối với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân và trong Quân đội nhân dân, khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kịp thời phát hiện tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Các Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa.

* Quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự

Về quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam chủ yếu qua những quy định về quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của những người tiến hành tố tụng nhằm phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng người tiến hành tố tụng và tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nội dung của những quy định gồm có:

- Quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người đứng đầu Cơ quan điều tra, chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.

Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra; quyết định phân công Phó thủ tướng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong việc điều tra vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; quyết định thay đổi điều tra viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.

Khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những quyền hạn sau:

+ Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định không khởi tố vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án;

+ Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn;

+ Quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ,tạm giữ, kê biên tài sản, xử lí vật chứng;

+ Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi;

+ Kết luận điều tra vụ án;

+ Quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra;

+ Trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.

Khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra vắng mặt, một Phó thủ trưởng được Thủ trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao.

Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những quyền hạn, nghĩa vụ giống như nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.

- Quyền hạn của Điều tra viên. Điều tra viên tiến hành điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Điều tra viên có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

+ Lập hồ sơ vụ án hình sự;

+ Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

+ Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng;

+ Thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản;

+ Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm kiểm tra;

+ Tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra;

Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình.

Đối với những hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của mình, Điều tra viên phải chịu trách nhiệm về những hoạt động mà mình đã tiến hành. Đối với những hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Điều tra viên không được tự ý tiến hành mà chỉ có quyền kiến nghị với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra để Thủ trưởng quyết định. Trong trường hợp không nhất trí với quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Điều tra viên vẫn phải chấp hành quyết định đó, nhưng có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên có quyền đề ra các yêu cầu với cơ quan, tổ chức và công dân tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động điều tra. Các cơ quan, tổ chức và công dân được yêu cầu có trách nhiệm chấp hành.

2.2.1.3. So sánh về nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự giữa Trung Quốc và Việt Nam

Đối chiếu, tra cứu những quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta có thấy rằng nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự của hai nước tương đồng với nhau, mà những quy định về quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự thì rõ ràng khác nhau.

* Về nhiệm vụ của Cơ quan điều tra, hai nước đều có điểm tương đồng như sau:

Một là, Cơ quan điều tra của hai nước đều có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền được giao, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố.

Hai là, khi tiến hành điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra hình sự của hai nước đều có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, các tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp ngăn ngừa và khắc phục.

Ba là, Cơ quan điều tra của hai nước đều có nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động của các giai đoạn tố tụng tiếp theo: kê biên tài sản để đảm bảo việc thi hành án; tham gia vào những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; góp phần cho những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về an ninh trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội.

Những quy định về quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự của hai nước thì rõ ràng khác nhau. Bộ luật tố tụng hình sự Việt

Nam quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của những người tiến hành tố tụng. Trong khi đó, Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc chỉ quy định quyền hạn của Cơ quan điều tra chung, không quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của những người tiến hành tố tụng, khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đại diện Cơ quan điều tra thực hiện những quyên. Bởi vì, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng chưa được quy định một cách rõ ràng, trong thực tiễn toàn do Cơ quan điều tra làm nội quy phân định quyền hạn và trách nhiệm của từng người tiến hành tố tụng dưa trên cơ sở quyền hạn của Cơ quan điều tra, nhưng những nội quy của các Cơ quan điều tra lại khác nhau, không tốt cho pháp chế thống nhất. So với quy định của hai nước, Việt Namphân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng người tiến hành tố tụng, điều này có thể tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi được giao hoặc khi được phân công hay ủy quyền, ở một chừng mực nhất định có điểm hợp lý hơn những quy định của Trung quốc.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam (Trang 70 - 77)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(220 trang)