Những cải cách tƣ pháp ở Trung Quốc

Một phần của tài liệu Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam (Trang 173 - 179)

6. Kết cấu của luận án

3.2.1. Những cải cách tƣ pháp ở Trung Quốc

Gần 60 năm xây dựng đất nước, đặc biệt là 30 năm cải cách mở cửa trở lại đây, cải cách tư pháp ở Trung Quốc đến nay đã trải qua một hành trình lịch sử đầy khó khăn và gian khổ. Trong tiến trình phát triển tư pháp thời kỳ đầu xây dựng đất nước, có đến ba sự kiện pháp chế lớn, quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng, đặt nền móng lịch sử cho cải cách tư pháp Trung Quốc đương đại:

Một là, thủ tiêu "Lục pháp toàn thư" của Chính phủ quốc dân Nam Kinh, tức là trước thời khắc Đại cách mạng nhân dân giành thắng lợi, tháng 2/1949, Trung ương Đảng Cộng sản nhân dân Trung Hoa đã ra Chỉ thị "Thủ tiêu "Lục pháp toàn thư" của Quốc dân đảng và xác lập nguyên tắc tư pháp vùng giải phóng", xác lập nguyên tắc hoạt động tư pháp chính quyền dân chủ nhân dân mới sau khi "Lục pháp toàn thư" bị thủ tiêu;

Hai là, hoạt động cải cách tư pháp thời kỳ đầu dựng nước, thêm một bước xóa sạch tàn dư của quan niệm tư pháp cũ của "Lục pháp toàn thư" trong hệ thống tư pháp, vạch rõ ranh giới giữa các nguyên tắc luật pháp mới và cũ;

Ba là, "Hiến pháp Ngũ tứ" xác lập thể chế tư pháp của nước Trung Quốc mới và khung chế độ tư pháp cơ bản.

Tuy nhiên, trong những ngày tháng lịch sử sau đó, như chúng ta đều biết, do đường lối cải cách luật pháp và tư pháp này mắc phải sai lầm nghiêm trọng. Nên bắt đầu từ năm 1957, trào lưu tư tưởng hư vô luật pháp và tư pháp phát triển rộng rãi, đến mức thành bi kịch lịch sử là "Đại cách mạng văn hóa", khiến cho pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ tư pháp của Trung Quốc rơi vào tình trạng què quặt trên mọi phương diện.

Từ sau đại hội Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa XI vào năm 1978 cho đến giữa những năm 80 của thế kỷ 20, nền pháp chế và tư pháp của Trung Quốc mới được khôi phục và hoàn thiện một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Hiến pháp năm 1982, "Chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản về kiên trì bảo đảm thực hiện hình pháp và thi hành thiết thực Luật tố tụng hình sự" năm 1979, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; v.v..., đều là những nền tảng quan trọng cho việc xác lập mới và hoàn thiện chế độ tư pháp ở Trung Quốc. Từ đó, cải cách tư pháp Trung Quốc đương đại bắt đầu tiến hành cải cách toàn diện, phân thành ba thời kỳ quan trọng dưới đây.

* Thời kỳ đầu: Lấy cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp

Từ các mốc thời gian nêu trên có thể thấy, thời kỳ này kéo dài khoảng 10 năm từ giữa thập kỷ 80 cho đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ này. Nội dung cải cách hoạt động xét xử chủ yếu trong thời kỳ này gồm: từng bước thay đổi mô hình xét xử của chủ nghĩa quyền lực, coi trọng bằng chứng của đương sự, tăng cường đối chất chéo và mở tòa tranh luận đối với chứng cứ, phát huy tích cực chức năng mở tòa thẩm lý; tăng cường áp dụng trình tự rút gọn theo luật, kịp thời xử lý những tranh chấp kinh tế thông thường; rút gọn trình tự tố tụng, giảm thiểu kinh phí trong tố tụng, nhằm đạt hiệu quả xét xử cao nhất; mở rộng quyền hạn của tòa hợp nghị, nâng cao trình độ xét xử độc lập theo luật; v.v...

Thúc đẩy toàn diện cải cách hoạt động xét xử, tạo điều kiện cho việc đẩy nhanh chuyển biến sâu sắc trong mô hình xử án và nâng cao chất lượng xử án.

Trong thời kỳ này, cải cách chế độ quản lý nhân sự của tòa án cũng bước đầu được triển khai. Tháng 11/1988, Trung ương và Tòa án nhân dân tối cao quyết định tiến hành cải cách thí điểm thể chế cán bộ Tòa án đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng lấy sự quản lý của Tòa án cấp trên làm chủ đạo tại 4 điểm là tỉnh là Hắc Long Giang, Triết Giang, Phúc Kiến và khu tự trị Nội Mông Cổ. Ngày 28/2/1995, Hội nghị lần thứ 12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 8 đã thông qua "Luật pháp quan của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa". Đây là

việc làm có ý nghĩa đánh dấu trong tiến trình cải cách chế độ nhân sự Tòa án Trung Quốc đương đại. Xuất phát từ mục đích bảo đảm quyền thi hành xét xử độc lập theo luật của pháp quan, bảo đảm trách nhiệm phải thực thi theo luật của pháp quan, luật này quy định tương đối cụ thể các vấn đề như chức trách, nghĩa vụ và quyền lợi, điều kiện miễn nhiệm của pháp quan; v.v... Từ đó mở ra cánh cửa xây dựng chuyên môn hóa đội ngũ pháp quan Trung Quốc.

Nhìn một cách tổng quát có thể thấy, cải cách tư pháp - Tòa án trong thời kỳ này tuy còn ở giai đoạn khởi điểm, nền tảng lý luận chính trị chưa có sự chuẩn bị đầy đủ, nhưng đã giành được những thắng lợi đáng kể trong cải cách hoạt động xét xử và cải cách chế độ pháp quan, nó không chỉ có ý nghĩa mở đường mà còn là nền tảng cũng như kho kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công cuộc đẩy mạnh tiến trình cải cách tương quan sau này.

Thời kỳ thứ hai: Sách lược quản lý nhà nước bằng pháp luật dẫn đến cải cách tư pháp toàn diện

Tháng 10/1997, Đại hội Đảng lần thứ 15 nhóm họp, đề ra nhiệm vụ lịch sử quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa, đồng thời nhấn mạnh phải thúc đẩy tiến trình cải cách tư pháp, về mặt chế độ, đảm bảo quyền thi hành xét xử độc lập và quyền kiểm sát theo luật của cơ quan tư pháp. Do đó, từ sau cải cách đến nay, cải cách tư pháp ở Trung quốc đã bước vào thời kỳ thứ 2.

Về phía Tòa án, trong thời kỳ này, cải cách tư pháp chủ yếu được triển khai trong nội bộ trên mọi phương diện. "Cương lĩnh cải cách 5 năm lần thứ nhất" lần đầu tiên đã nêu một cách hệ thống các mục tiêu và nguyên tắc của cải cách tư pháp Tòa án, đề ra 39 nhiệm vụ cải cách cụ thể, liên quan đến 7 lĩnh vực lớn là cải cách phương thức hoạt động xét xử, cải cách tổ chức hoạt động xét xử, cải cách tổ chức cơ cấu nội bộ Tòa án, cải cách chế độ quản lý nhân sự Tòa án, xây dựng hiện đại hóa văn phòng Tòa án, cải cách quản lý xét xử và cơ chế giám sát xã hội, cải cách Tòa án theo chiều sâu, trở thành văn kiện quan trọng chỉ đạo công cuộc cải cách tư pháp Tòa án nhân dân Trung

Hoa. Quãng thời gian 5 năm ban hành "Cương lĩnh cải cách 5 năm lần thứ nhất", lấy "công bằng và hiệu quả" làm hướng mở rộng, kiện toàn cơ bản, triển khai mạnh mẽ hoạt động cải cách tư pháp tòa án, được xem là 5 năm cải cách gặt hái được nhiều thành quả to lớn nhất.

Tóm lại, xây dựng và thực hiện "Cương lĩnh cải cách 5 năm lần thứ nhất" đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo cơ bản của ngành tòa án, hỗ trợ thúc đẩy tiến trình lịch sử hiện đại hóa chế độ Tòa án Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện "Cương lĩnh" vẫn còn tồn tại một số hạn chế và bất cập cần được tiếp tục giải quyết, chủ yếu là: tiến trình cải cách diễn ra chưa đồng đều, chưa đủ nhất quán và quy phạm, sự xung đột giữa cải cách tư pháp và chế độ luật pháp hiện hành chưa hoàn thiện ngày càng bộc lộ rõ rệt.

Thời kỳ thứ ba: Thời kỳ cải cách thể chế tư pháp

Thời kỳ này được đánh dấu bằng đại hội Đảng lần thứ XVI vào năm 2002. Tiến trình cải cách tư pháp trong thời kỳ này lộ rõ khác biệt so với cải cách trong hai thời kỳ trước là nó bắt đầu đụng chạm nhiều hơn đến các các vấn đề thuộc tầng thể chế. Vì vậy, Đại hội Đảng lần thứ XVI đã sử dụng thuật ngữ "cải cách thể chế tư pháp" (chứ không phải là cải cách tư pháp) để "chụp" lại toàn bộ viễn cảnh phát triển của lĩnh vực tư pháp Trung Quốc thời kỳ này. Nó coi việc bảo đảm thực hiện công bằng và chính nghĩa trong phạm vi toàn xã hội là đặc trưng mang tính bản chất của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh hơn nữa phải kiện toàn thể chế tư pháp, dựa trên đòi hỏi của nền tư pháp công bằng, hoàn thiện sắp xếp cơ cấu tổ chức, vạch rõ giới hạn quyền lực và chế độ quản lý của cơ quan tư pháp, tiến thêm bước nữa trong việc kiện toàn một thể chế tư pháp phân quyền rõ ràng, phối hợp tương hỗ, chế định lẫn nhau, vận hành hiệu quả;

Nhấn mạnh phải cải tiến chế độ quản lý tư pháp, cơ chế công tác và thể chế quản lý nhân sự, tài sản của Ủy ban cải cách tư pháp, từng bước thực hiện tách biệt giữa xét xử tư pháp và sự vụ hành chính tư pháp đồng kiểm sát.

Nhằm quán triệt thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XVI, Trung ương Đảng cho thành lập Ban chỉ đạo cải cách thể chế tư pháp Trung

ương, phụ trách chỉ đạo và triển khai các công tác cải cách thể chế tư pháp.

Đây là tiền lệ đầu tiên trong lịch sử lãnh đạo của Đảng. Cuối năm 2004, Trung ương Đảng triển khai bước đầu đề án cải cách thể chế tư pháp và cơ chế công tác đến Ban chỉ đạo cải cách thể chế tư pháp Trung ương, xây dựng nguyên tắc cơ bản của cải cách thể chế tư pháp, xác định 35 biện pháp cải cách, triển khai nhiệm vụ chính của cải cách thể chế tư pháp và cơ chế công tác toàn quốc trong thời kỳ sau khi ban hành lệnh. Căn cứ vào triển khai thống nhất của Trung ương, năm 2005, Tòa án nhân dân tối cao cho công bố

"Cương lĩnh cải cách Tòa án nhân dân 5 năm lần thứ 2"; năm 2005, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng ban hành "Đề án thực hiện 3 năm tiến đến cải cách kiểm sát theo chiều sâu". Điều này cho thấy cải cách tư pháp ở Trung Quốc bắt đầu bước vào giai đoạn mới - giai đoạn cải cách thể chế.

"Cương lĩnh cải cách 5 năm" đề ra 50 nhiệm vụ cơ bản của công cuộc cải cách tư pháp tòa án nhân dân từ năm 2004 đến 2008, chủ yếu là:

- Cải cách và hoàn thiện chế độ trình tự tố tụng, thực hiện tư pháp công bằng, nâng cao hiệu suất tư pháp, bảo hộ quyền lực tư pháp;

- Cải cách và hoàn thiện thể chế thực thi và cơ chế công tác, kiện toàn cơ cấu thực thi, hoàn thiện trình tự thực thi, ưu việt hóa điều kiện thực thi, tiến thêm 1 bước giải quyết "Chấp hành nan" (khó thực thi);

- Cải cách và hoàn thiện tổ chức và cơ cấu xét xử, thực hiện mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa xét và xử;

- Cải cách và hoàn thiện chế độ quản lý xét xử tư pháp và quản lý hành chính tư pháp, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho tòa án nhân dân trong việc thực thi nhiệm vụ xét xử;

- Cải cách và hoàn thiện chế độ quản lý nhân sự tư pháp, tăng cường đảm bảo chuyên môn của pháp quan, đẩy nhanh tiến trình xây dựng chuyên môn hóa pháp quan;

- Cải cách và tăng cường chế độ giám sát nội bộ Tòa án và tiếp nhận giám sát của các bộ ngành bên ngoài khác, hoàn thiện cơ chế giám sát đối với

quyền xét xử, quyền thực thi và vận hành quản lý, duy trì sự liêm khiết của tư pháp; không ngừng thúc đẩy cải cách thể chế cơ chế công tác của Tòa, xác lập chế độ tư pháp hiện đại phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa. Dưới sự triển khai thống nhất của Trung ương và sự chỉ đạo cụ thể của tòa án nhân dân, cải cách tư pháp Tòa án đã giành được những bước tiến rõ rệt. Trong thời gian này, cải cách chế độ hợp chuẩn án tử hình, cải cách chế độ tái thẩm dân sự, cải cách chế độ thực thi, cải cách chế độ hội thẩm; v.v...

đều giành được những bước đột phá quan trọng.

Tóm lại, thi hành "Cương lĩnh cải cách 5 năm lần thứ 2", trong một chừng mực nào đó đã đụng chạm tới những vấn đề thuộc tầng thể chế của lĩnh vực tư pháp, đây chính là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm quý báu cũng như đặt nền tảng quan trọng cho công cuộc cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu và chiều rộng.

Tháng 10/2007, đại hội Đảng lần thứ XVII nhóm họp, đã tiếp sức cho tiến trình cải cách thể chế tư pháp bước thêm mộ bước tiến xa hơn. Đại hội Đảng lần thứ 17 đặt ra "Thực hiện toàn diện các sách lược trị quốc cơ bản theo luật, đẩy nhanh sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa", muốn thế phải Cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu, ưu việt hóa bộ máy quyền lực của hệ thống tư pháp, hành vi tư pháp quy phạm, xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, hiệu quả và quyền uy, bảo đảm cơ quan xét xử, viện kiểm sát thực thi quyền xét xử và quyền kiểm sát của mình một cách công bằng và tuân theo pháp luật. Quả nhiên, từ Đại hội Đảng XV đề ra

"Thúc đẩy cải cách tư pháp", đến Đại hội XVI nêu rõ thêm "Thúc đẩy cải cách thể chế tư pháp", đã thực hiện bước chuyển biến quan trọng từ cải cách tư pháp sang cải cách thể chế tư pháp. Trên cơ sở này, Đại hội Đảng XVII đã đề xuất triển khai chiến lược quan trọng "Cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu", đồng thời lấy "Xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, hiệu quả, quyền uy" là mục tiêu tổng thể của cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu. So với trước đây, mục tiêu thúc đẩy cải cách thể chế tư pháp của Trung ương Đảng thể hiện rõ tầm nhìn xa hơn, đường lối rõ rệt hơn, độ quyết tâm cao hơn.

Dưới sự triển khai thống nhất của Trung ương, một vòng quay mới của cải cách tư pháp Tòa án đang sắp lăn bánh trên mọi mặt của đời sống pháp luật.

Từ đó có thể thấy, thời kỳ thứ 3 của tiến trình cải cách tư pháp Trung Quốc đương đại, tức thời kỳ cải cách thể chế tư pháp, đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển theo chiều sâu. Thông qua cải cách thể chế tư pháp theo chiều sâu, sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu tư pháp ngày càng tăng cao của quần chúng nhân dân, xây dựng một nền tư pháp xã hội chủ nghĩa công chính, hiệu quả và quyền uy, phát huy cao độ tính ưu việt của chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc.

Nhiệm vụ cải cách tư pháp Trung Quốc đương đại hiện nay là nhiệm vụ vừa nặng nề vừa lâu dài. Tuy nhiên, tin tưởng rằng, chỉ cần nắm vững đường lối đúng đắn, trước sau như một, kiên trì tiến lên cùng thời gian, tích cực thúc đẩy trong sự bình ổn, có con đường cải cách tư pháp xã hội chủ nghĩa của phong cách Trung Quốc mới, nhất định càng đi càng mở rộng, chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc công chính, hiệu quả, quyền uy nhất định sẽ mở ra nhiều vận hội mới và tiếp cho dân tộc Trung Hoa một sức sống mạnh mẽ.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam (Trang 173 - 179)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(220 trang)