Chương 1 Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ VĂN HOÁ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC CÔNG DÂN
1.1.2. Khái niệm ý thức công dân
Mặc dù quan hệ giữa con người ở một quốc gia với nhà nước là trục xuyên suốt của khái niệm công dân, nhưng trong quan hệ với nhà nước, con người với tư cách là những công dân cần bổ sung những tiêu chí cụ thể, trong đó quan trọng nhất là sự thừa nhận bằng hiến pháp và pháp luật những quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với nhà nước và với đời sống công cộng. Vì thế, nếu con người sinh ra tự nó đã trở thành cá nhân thì để trở thành công dân, người đó phải đáp ứng những yêu cầu nhất định do pháp luật của Nhà nước quy định. Những yêu cầu đó phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước.
Vậy là, nếu như do nguồn gốc tự nhiên, ý thức xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, thì phải đến giai đoạn con người có được tư cách công dân của một chính thể, khi ấy ý thức của họ với tư cách là ý thức công dân mới xuất hiện. Và bởi vì, ý thức của con người luôn là sự phản ánh hiện thực khách quan, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan, cho nên có thể khẳng định, ý thức công dân ra đời trong quá trình phản ánh, khái quát hiện thực khách quan của mối quan hệ giữa công dân với nhà nước và với cộng đồng xã hội. Bởi vì khái niệm công dân luôn được đặt trong mối quan hệ với Nhà nước, quan hệ giữa Nhà nước và công dân thể hiện qua các quyền, nghĩa
vụ công dân do Nhà nước quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, cho nên có thể hiểu: ý thức công dân là sự hiểu biết và thái độ trách nhiệm của công dân với các quyền, nghĩa vụ của mình và với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân của mình và của người khác.
Về mặt kết cấu, chúng ta biết rằng, ý thức bao gồm các yếu tố cơ bản cấu thành như tri thức, thái độ, tình cảm, niềm tin, ý chí…, trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi. Tuy nhiên, sự tác động của thế giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con người đối với thế giới. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người, giữa người với thế giới khách quan. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và trở thành một trong những động lực quan trọng của hoạt động con người.
Tri thức kết hợp với xúc cảm, tình cảm hình thành nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực, biến thành hành động thực tế, qua đó tri thức mới phát huy được sức mạnh của mình.
Như trên đã khẳng định, ý thức công dân ra đời trong quá trình phản ánh, khái quát hiện thực khách quan của mối quan hệ giữa công dân với nhà nước và với cộng đồng xã hội. Quá trình phản ánh mối quan hệ giữa công dân với nhà nước và với cộng đồng xã hội này làm hình thành nên ở mỗi công dân một hình ảnh tinh thần toàn vẹn về hiện thực mối quan hệ giữa cá nhân công dân với nhà nước. Cụ thể, cấu trúc của ý thức công dân có thể được xem xét bao gồm hai khía cạnh: những tri thức của họ về mối quan hệ giữa bản thân mình với nhà nước và với cộng đồng xã hội và thái độ của công dân đối với mối quan hệ này, cụ thể hơn là đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó, tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
Tri thức, hay sự hiểu biết của người dân là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự hình thành và phát triển ý thức công dân và là tiền đề của tính tích cực của hành vi của con người. Đó là điều kiện cần thiết để công dân tham gia vào
đời sống chính trị - xã hội, là chất kích thích cho các hành vi hợp pháp, là phương tiện thực thi dân chủ. Sự hiểu biết này bao gồm tri thức về quyền và nghĩa vụ của bản thân công dân, hiểu biết về cách thức, quy trình thực hiện quyền và nghĩa vụ ấy…
Thái độ trước hết thể hiện những lựa chọn, xu hướng và ý chí thực hiện hành vi của con người. Nó là hợp thể phức tạp của nhiều yếu tố như tình cảm, tri thức, hệ giá trị…Đó có thể là những cảm xúc, rung động, sự nhiệt tình, tính tích cực, tự giác hoặc thờ ơ, lãnh đạm với quyền và trách nhiệm của công dân.
Thái độ tham gia vào mọi hoạt động của con người và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của con người. Đó là điều kiện để tri thức trở thành nhận thức sâu sắc, và phải thông qua thái độ đúng đắn thì tri thức, nhận thức của công dân mới biến thành hành động thực tế, mới được cụ thể hoá trên thực tiễn và mới phát huy được sức mạnh của mình.
Chúng ta đều biết, khái niệm công dân luôn được đặt trong mối quan hệ với Nhà nước. Quan hệ giữa Nhà nước và công dân thể hiện qua các quyền, nghĩa vụ công dân do Nhà nước quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật. Do vậy, những tri thức của công dân về quyền và nghĩa vụ của bản thân mình trước hết là những tri thức về Hiến pháp, pháp luật của nhà nước, về thể chế chính trị và vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân công dân trong việc tham gia vào thể chế chính trị và các mối quan hệ trong xã hội đó.
Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý xã hội một cách dân chủ và hiệu quả. Bởi vì pháp luật là các khuôn mẫu có tính phổ biến và bắt buộc chung nên đảm bảo dân chủ, công bằng, phù hợp với ý chí và lợi ích chung của đại đa số nhân dân lao động, tạo được sự đồng thuận, tự giác cao trong xã hội đối với việc thực hiện pháp luật. Pháp luật được làm ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách thống nhất trong toàn quốc và được bảo đảm bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước nên hiệu lực thi hành cao. Đồng thời, pháp
luật là phương tiện để công dân thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với mỗi công dân, pháp luật vừa là giới hạn của sự tự do, vừa là sự bảo đảm và phát huy quyền tự do; pháp luật là thước đo và bảo đảm quyền bình đẳng giữa các công dân. Và yêu cầu có tính nguyên tắc ở đây là mọi công dân, tổ chức, kể cả cơ quan, công chức nhà nước đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền và việc thực hiện quyền của công dân. Chính vì thế, công dân am hiểu pháp luật, nắm vững được các quyền và nghĩa vụ của bản thân mình được quy định trong Hiến pháp và pháp luật thì sẽ có ý thức bảo vệ và thực hiện một cách tích cực, chủ động các quyền của mình, đồng thời tự giác thực hiện các nghĩa vụ của bản thân. Lượng tri thức pháp luật mà công dân phải tích lũy để có thể có ý thức công dân bao gồm những tri thức về tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến xã hội.
Nhận thức và sự hiểu biết của công dân về pháp luật dẫn đến thái độ của họ đối với pháp luật, và phải thông qua thái độ, tình cảm thì tri thức, nhận thức mới thể hiện ra thành các hoạt động thực tiễn của công dân. Tình cảm trước hết là lòng tin đối với pháp luật, tin vào sự cần thiết, vào tính công bằng, vào lợi ích của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật. Đây là yếu tố rất quan trọng để chuẩn bị cho con người có hành động theo pháp luật. Trong thực tế, không ít người có tri thức pháp luật nhưng họ không có tình cảm đúng đắn với pháp luật nên họ không xử sự theo quy định của pháp luật. Thái độ không đúng đắn với pháp luật trên thực tế có thể tồn tại cả ở cả hai trạng thái đối lập: sự sợ hãi đối với pháp luật và sự coi thường pháp luật.
Cả hai thái độ tiêu cực này không thể dẫn con người đến những hành vi xử sự tích cực trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Thái độ đúng đắn thể hiện ở tính tích cực và tự giác thực hiện các nghĩa vụ pháp luật của công dân đối với cộng đồng xã hội. Pháp luật đi vào đời sống để phục vụ quảng đại nhân dân như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong số đó là tính tích cực, sự tự giác của người dân. Có hiểu biết pháp
luật về các quyền và nghĩa vụ của mình, có niềm tin vào tính công bằng vào hiệu lực của pháp luật là cơ sở quan trọng hình thành sự tự giác của công dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Chỉ khi ấy thì ý thức công dân mới được thể hiện trong thực tiễn.
Trong lĩnh vực chính trị, nhận thức chính trị - xã hội đúng đắn là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy các công dân tham gia tích cực, chủ động, tự giác vào các quá trình chính trị. Nhờ có nhận thức về các vấn đề chính trị - xã hội mà các công dân dần đạt tới khả năng sáng tạo và nhạy bén trong chính trị. Cá nhân công dân, căn cứ trên những tri thức và kinh nghiệm chính trị đã được tích luỹ, kết hợp với sự giác ngộ lý tưởng mang tính khoa học sẽ hình thành nên thái độ chính trị của mình, hướng tới những giá trị tốt đẹp hơn.
Có tri thức chính trị, có sự hiểu biết sâu sắc về các quan điểm, tư tưởng, lý thuyết chính trị thôi chưa đủ để hình thành nên ở công dân ý thức tham gia vào đời sống chính trị của cộng đồng. Những tri thức ấy phải trở thành thái độ chính trị đúng đắn mới trở thành bộ phận cấu thành ý thức công dân. Thái độ chính trị đúng đắn thể hiện qua niềm tin và sự thuyết phục chính trị cũng như tính tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị thực tiễn. Thái độ chính trị đúng đắn còn là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa quan điểm chính trị với hoạt động chính trị thực tiễn.
Thái độ chính trị đúng đắn sẽ giúp công dân nắm vững bản chất các quá trình chính trị diễn ra trong đời sống xã hội, có khả năng đánh giá và định hướng đúng trước những biến động của tình hình chính trị, từ đó hình thành nên năng lực hoạt động chính trị. Khi đó, ý thức chính trị của mỗi công dân được hình thành.
Ngoài những mối liên hệ trong lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực chính trị, đời sống xã hội còn là một hệ thống bao gồm các quan hệ rất đa dạng và phức tạp, được hình thành bởi quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Trong cuộc sống, các cá nhân phải tự giác điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Một công dân biết tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội, của người khác được coi là một người có đạo đức. Ngược lại, những người chỉ biết đến lợi ích của mình mà bất chấp lợi ích của người khác, của xã hội sẽ bị coi là người thiếu đạo đức. Việc nhận thức được những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội sẽ giúp công dân tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức đã được cả xã hội thừa nhận. Tri thức đạo đức, do vậy, là một phần rất quan trọng để hình thành nên ở cá nhân mỗi công dân ý thức về trách nhiệm, bổn phận của mình đối với các công dân khác và với toàn xã hội.
Cùng với pháp luật và phong tục tập quán, đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người, nhưng sự điều chỉnh hành vi của đạo đức có sự khác biệt với sự điều chỉnh hành vi của pháp luật. Nếu như sự điều chỉnh hành vi của pháp luật là sự điều chỉnh mang tính bắt buộc, cưỡng chế thì sự điều chỉnh hành vi của đạo đức lại mang tính tự nguyện và thường là những yêu cầu cao của xã hội đối với con người. Trên thực tế, có những trường hợp hành vi của cá nhân công dân tuy không vi phạm pháp luật nhưng có thể vẫn bị phê phán về mặt đạo đức. Chính vì vậy, công dân chỉ dừng lại ở nhận thức về những chuẩn mực đạo đức của xã hội thì chưa đủ để trở thành một công dân tích cực theo đúng nghĩa. Họ phải có thái độ tích cực trong việc thực hành đạo đức, biểu hiện ở việc tu dưỡng đạo đức của bản thân cũng như tự điều chỉnh các hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức cao cả. Cùng với nhận thức, thái độ đạo đức đúng đắn tạo nên ý thức đạo đức ở mỗi công dân.
Khi công dân có ý thức đạo đức, việc thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của họ sẽ trở nên tự nguyện, tự giác và điều đó góp phần vào việc hình thành ý thức công dân.
Như vậy, có thể khẳng định, dù là trong lĩnh vực nào đi nữa, thái độ cần thiết để hình thành nên ý thức công dân phải là thái độ tích cực, tự giác trong
việc thực hiện vai trò công dân của mình trong xã hội. Thái độ tích cực, tự giác làm cho guồng máy công quyền vận hành trôi chảy, nếp sống văn minh trong ứng xử ngày càng tăng. Chỉ khi nào ý thức công dân được hiện thực hoá thành các hành động thực tiễn, cụ thể là khi mỗi công dân thực hiện nghĩa vụ của mình một cách tính tự nguyện, với sự thôi thúc từ nội tâm, không tính đến, không chờ đến việc có bị kiểm tra, kiểm soát hay không, thì khi đó, ý thức công dân mới thực sự hình thành. Điều đó chỉ có thể được hình thành khi mỗi cá nhân công dân có được nhận thức về quan hệ cộng đồng. Xã hội ở thang bậc nào của nền văn minh cũng là một cộng đồng với những con người có đời sống, trình độ, hoàn cảnh khác nhau nhưng có yêu cầu về trách nhiệm công dân giống nhau. Nếu mỗi người có nhận thức về một cộng đồng văn minh thì động cơ tự giác thực hiện trách nhiệm công dân sẽ phát triển.
Tóm lại, có thể xác định cấu trúc của ý thức công dân bao gồm: ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức đạo đức, trong đó ý thức pháp luật là đặc biệt quan trọng. Tuy vậy, ý thức pháp luật cũng luôn gắn liền với ý thức chính trị và ý thức đạo đức, chúng hoà quyện, tác động lẫn nhau trong một chỉnh thể chung để đạt đến sự hoàn thiện về nhận thức con người. Ý thức pháp luật chỉ được hình thành và được đề cao khi người ta có đầy đủ ý thức chính trị và ý thức đạo đức. Ý thức pháp luật sẽ được duy trì thường xuyên và được thể hiện một cách linh hoạt, mang đậm tính đạo đức trong phép xử thế của đời sống xã hội khi nó được làm giàu bởi ý thức chính trị. Ngược lại, ý thức chính trị và đạo đức của mỗi công dân được biểu hiện thông qua sự tôn trọng và chấp hành pháp luật, thông qua ý thức pháp luật. Chỉ có trong sự hài hoà đó mới có được sự hoàn chỉnh về ý thức công dân.