Chương 2 NHÂN TỐ VĂN HOÁ TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC
2.1. Xây dựng ý thức công dân: vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Ngày nay, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước được khơi nguồn từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã hiển hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước. Sự đổi thay diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra một bước phát triển mới của đất nước. Với việc người dân được thừa nhận và phát triển tối đa khả năng của mình trong việc làm ra của cải vật chất, làm giàu cho cá nhân mình đồng thời cho đất nước, nền kinh tế - xã hội của đất nước đã có những biến đổi theo chiều hướng tiến bộ. Đồng thời, quyền làm chủ đất nước của nhân dân lao động cũng ngày càng được mở rộng và phát huy. Bởi có thể nói, dân chủ là nhu cầu của con người trong cuộc sống cộng đồng, là một giá trị xã hội, là trình độ phát triển cao của xã hội loài người. Tuy nhiên, một xã hội dân chủ không phải chỉ được hình thành qua việc được ghi nhận trong các văn bản Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, không phải cứ có một hệ thống chính trị bao gồm một hiến pháp và các định chế chính trị - lập pháp, hành pháp, và tư pháp trong đó khẳng định và thừa nhận quyền làm chủ của nhân dân là xã hội đã có dân chủ thực sự. Tiến trình dân chủ hóa là một tiến trình phức tạp, bao gồm sự hội tụ của nhiều yếu tố xã hội, chính trị, kinh tế, giáo dục…, nhưng xét cho cùng, yếu tố quan trọng nhất, và căn bản nhất của tiến trình dân chủ hóa tại bất kỳ một quốc gia nào cũng vẫn là yếu tố con người. Nếu mẫu người sĩ phu là nền tảng của xã hội phong kiến, thì xã hội dân chủ phải có mẫu người dân chủ, mẫu người công dân. Các nhà nghiên cứu trong chương trình khoa học cấp nhà nước “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”(KX07) đã nêu lên mô
hình nhân cách, những giá trị cần có ở con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, trong đó một trong những giá trị được khẳng định là: “Con người có tinh thần công dân, sống và làm việc theo pháp luật, kỷ cương của tập thể và cộng đồng, thực hiện các nghĩa vụ và biết bảo vệ quyền lợi của mỗi người và toàn xã hội, của gia đình và đất nước, sẵn sàng xả thân vì nền độc lập dân tộc”. [17, 260 - 261]
Có thể nói, một xã hội dân chủ phải được xây dựng và chỉ có thể được xây dựng bởi những hành động cụ thể của không chỉ nhà nước mà quan trọng hơn là mỗi người dân - những tế bào cấu thành xã hội. Được thừa nhận vai trò làm chủ, người dân chỉ có thể thực sự thực hiện vai trò ấy khi họ có đủ năng lực để làm chủ vận mệnh của mình và của đất nước. Muốn vậy, trước hết mỗi người dân cần có ý thức công dân - ý thức về quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của mình.
Tuy nhiên, không phải bất cứ thời kỳ nào, bất cứ xã hội nào cũng có thể hình thành ở người dân ý thức công dân. Chỉ khi thực hiện vai trò lực lượng cách mạng, thực hiện cuộc cách mạng dân chủ và sau đó thiết lập nên một nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền thì khi đó mới có thể nói đến tư cách công dân của mỗi người dân, mới có thể nói đến vai trò chủ thể của quyền lực nhà nước, và đó là tiền đề cho sự ra đời ý thức công dân. Điều đó có nghĩa là, dù việc khẳng định và thừa nhận quyền dân chủ của người dân từ thể chế chính trị chưa làm nên một xã hội dân chủ thực sự, nhưng nó là tiền đề xuất phát, là yêu cầu cần có đối với việc xây dựng xã hội dân chủ, và do đó, cũng là tiền đề cho sự hình thành ý thức công dân. Không có tiền đề ấy, không có sự thừa nhận tư cách công dân trên thực tế, không thể nói đến việc người dân có ý thức công dân được.
Ở Việt Nam, tư cách công dân thật sự của người Việt Nam mới chỉ xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945).
Cho đến nay, thời gian còn quá ngắn để người dân Việt Nam vốn có truyền
thống của con người thuộc về xã hội thần dân, với ý thức về sự phụ thuộc và thuần phục các vị vua phong kiến, hình thành được ý thức về tư cách công dân của mình trong xã hội. Những biểu hiện của việc thiếu ý thức công dân vẫn diễn ra trong hành vi của mọi người dân, thậm chí cả đối với những công dân là cán bộ nhà nước. Có thể thấy rõ nhất biểu hiện của việc thiếu ý thức công dân ở người dân thể hiện qua những chỉ báo về trình độ hiểu biết pháp luật, hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm công dân của bản thân cũng như năng lực của người dân trong việc thực hiện những quy định của pháp luật; về tri thức và thái độ tích cực chính trị của người dân.
Công dân trong quan hệ với xã hội có cấu trúc rất đa dạng. Đó không chỉ là người dân bình thường mà còn bao hàm nhiều người dân có vị thế, chức sắc, chức vụ. Mỗi người cán bộ hay công chức chỉ là cán bộ hay công chức trong công vụ. Ngoài công vụ, họ là người dân với cả vinh dự và trách nhiệm.
Chính vì vậy, nói đến trách nhiệm công dân, ý thức công dân không có nghĩa là chỉ xem xét ý thức của người dân bình thường mà tất cả mọi người dân đều bình đẳng về tư cách và trách nhiệm công dân.
Theo các số liệu điều tra, trong các chương trình phổ biến pháp luật trên quy mô toàn quốc chỉ có 50% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp huyện, 2 - 3% cán bộ cấp xã được nghiên cứu học tập. Còn đối với đa số các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người, biên giới hải đảo thì tỷ lệ được phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật còn thấp hơn nhiều. [Xem: 49, 466]
Môn học Giáo dục công dân đã được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông từ lâu, song trước đây, nội dung chủ yếu của chương trình là giáo dục ý thức đạo đức cho công dân, chưa chú ý đến việc giáo dục ý thức chính trị, ý thức pháp luật. Công tác giáo dục pháp luật trong các trường học phổ thông ở nước ta mới chỉ được tiến hành từ năm học 1987 - 1988. Các kiến thức pháp luật phổ thông nhất cũng chỉ được đưa vào môn học Giáo dục công dân và
được tổ chức dạy và học ở các lớp 8, 9 và 12. Số giáo viên giảng dạy môn học này trước đây chủ yếu là kiêm nhiệm, hiện nay thì đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm giảng dạy môn này đã dần được thay thế bởi đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên ngành giáo dục chính trị. Mặc dù vậy, nếu đề cập đến trình độ chuyên môn về lĩnh vực pháp luật thì 100% số giáo viên đó cũng vẫn là những giáo viên kiêm nhiệm, chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng về kiến thức pháp luật chuyên môn cũng như phương pháp sư phạm bộ môn.
Qua dữ liệu trên có thể thấy, ở nước ta, nhìn chung mặt bằng dân trí, đặc biệt là dân trí về pháp luật là thấp. Và chính việc hiểu biết pháp luật không đầy đủ và thiếu chính xác ở người dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến thái độ coi thường pháp luật, và đó là một trong những nguồn gốc của tình trạng kỷ cương, phép nước không nghiêm, các loại tội phạm gia tăng, nhiều cán bộ nhà nước vi phạm pháp luật…Tình trạng “vượt đèn đỏ ở ngã tư không có cảnh sát giao thông”, “bán chui gia cầm chạy dịch”, “trốn thuế hoặc chây ỳ trong việc nộp thuế”…vẫn diễn ra thường xuyên ở nước ta đều là biểu hiện của thái độ coi thường pháp luật này. Mặt khác, sự thiếu hiểu biết về pháp luật còn hạn chế đáng kể quá trình phát triển kinh tế, xã hội và việc thực hiện vai trò làm chủ, vai trò kiểm tra, giám sát của người dân đối với cơ quan và cán bộ viên chức nhà nước.
Ngoài ra, về ý thức chính trị, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, ở một bộ phận người dân còn thể hiện thái độ bàng quan, thờ ơ với các vấn đề chính trị, với vận mệnh của đất nước, chỉ quan tâm đến việc làm, thu nhập hay các vấn đề kinh tế khác... Đặc biệt, trong đội ngũ những người trẻ tuổi hiện nay đang có xu hướng nặng về chăm lo cho lợi ích cá nhân, ít quan tâm đến phong trào chung của cơ quan, nhà trường, xã hội chứ chưa nói đến là việc thực hiện những quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình...
Nếu việc thực hiện các nghĩa vụ công dân liên quan đến lợi ích cục bộ của mỗi công dân, ví dụ như nộp thuế...thì ở nhiều người dân có sự cân nhắc
trong việc thực hiện những nghĩa vụ đó, ví dụ như tìm cách chây ỳ, không thực hiện hoặc tìm mọi cách để việc thực hiện trở thành hình thức. Thậm chí, ở một số người dân còn có tình trạng nhận xét, phê phán các vấn đề chính trị - xã hội một cách phiến diện, thiếu khách quan và quan điểm lịch sử cụ thể. Bên cạnh đó, chính sự hiểu biết hời hợt về truyền thống lịch sử của dân tộc cũng đang là trở lực đối với quá trình đổi mới đất nước.
Muốn xây dựng được một xã hội “dân chủ, văn minh”, muốn mở rộng và phát huy tốt hơn quyền làm chủ đất nước của nhân dân thì mỗi công dân trước hết phải có ý thức tự giác trong việc thực hiện quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình và hiểu biết về cách thức thực hiện quyền làm chủ của bản thân theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tính tự giác bao hàm cả tự nhận thức trách nhiệm do hiểu và nắm được các quy định của nhà nước liên quan đến trách nhiệm của mỗi người. Sự tự giác của mỗi công dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự vận hành của guồng máy công quyền, của xã hội văn minh. Chẳng hạn, nếu trước tín hiệu đèn đỏ, mọi người đều dừng thì trật tự xuất hiện và tiết kiệm cho xã hội do giảm được biên chế của cảnh sát giao thông; nếu mọi người tự giác nộp thuế theo quy định thì trật tự xuất hiện và rất tiết kiệm…Như vậy, ý thức công dân là một sức mạnh ghê gớm cả trên phương diện kinh tế, thể chế và văn minh. Trong thời kỳ phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm, xây dựng và phát huy ý thức công dân mang lại trật tự và phát triển to lớn.
Ngoài ra, để xây dựng thành công xã hội lành mạnh thì mỗi công dân cũng cần có được nhận thức về quan hệ cộng đồng. Xã hội ở thang bậc nào của nền văn minh cũng là một cộng đồng với những con người có đời sống, trình độ, hoàn cảnh khác nhau nhưng có yêu cầu về trách nhiệm công dân giống nhau. Nếu mỗi công dân có nhận thức về một cộng đồng văn minh thì động cơ tự giác thực hiện trách nhiệm công dân sẽ phát triển, ý thức công dân sẽ hình thành. Có thể nói, ý thức công dân càng cao thì càng có tác động
mạnh mẽ tới chất lượng các mặt của quản lý xã hội từ phía tổ chức, và do vậy càng xây dựng được một nền dân chủ phát triển cao. Khi đó, tư cách công dân đã đạt tới vị thế chính trị, văn hoá và văn minh cao nhất.
Như vậy, việc xây dựng một xã hội phát triển cao về dân chủ, một xã hội trong đó vai trò làm chủ của người dân được mở rộng và phát huy cao độ phụ thuộc trước hết vào sự tự giác của mỗi công dân trong việc thực hiện quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình. Lẽ dĩ nhiên, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng điều đó không có nghĩa là cần phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế phát triển thật cao mới có thể xây dựng được chế độ xã hội dân chủ, mà điều quan trọng nhất phải là sự hình thành ý thức làm chủ của mỗi công dân bởi vì mọi thiết chế chính trị là sản phẩm của con người, có nguồn gốc và toàn thể sự tồn tại do sự tác động của ý chí của con người. Việc xây dựng ý thức công dân có thể được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, qua việc phát triển kinh tế, xây dựng một chế độ chính trị với cơ chế dân chủ…, trong đó, một yếu tố tạo nên sự thuận lợi cho công việc khó khăn này là sử dụng công cụ văn hoá - những giá trị đã trở thành tiềm thức, đã trở thành tập quán của mỗi người dân. Việc thông qua công cụ văn hoá để chuyển tải những nội dung mới của việc xây dựng ý thức công dân không những khiến cho mỗi người dân có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu được vai trò, trách nhiệm công dân của mình mà còn có thể góp phần nhanh chóng hình thành thái độ đúng đắn của các công dân trong việc thực hiện vai trò và trách nhiệm ấy đối với xã hội.