Chương 1 Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ VĂN HOÁ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC CÔNG DÂN
1.2. Nhân tố văn hoá với việc hình thành ý thức công dân
1.2.1. Khái lược về những nhân tố tác động đến sự hình thành ý thức công dân
Lý luận của triết học Mác – Lênin về ý thức đã đưa ra chỉ dẫn phương pháp luận quan trọng giúp cho chúng ta có thể hình dung và lựa chọn cách thức tác động đến quá trình hình thành ý thức của con người. Đó là ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới, nó là kết quả của quá trình phản ánh tích cực của con người về thế giới, nội dung của ý thức bị quy định (giới hạn) bởi chính đối tượng phản ánh. Ngoài ra với tư cách là hiện tượng xã hội thì sự hình thành ý thức bị quy định bởi đặc điểm của điều kiện xã hội. Từ những chỉ dẫn trên, việc xem xét quá trình hình thành ý thức công dân yêu cầu chúng ta phải đặt nó trong sự tương tác với những bối cảnh xã hội hiện thực. Nhưng xã hội loài người rất đa dạng, vì vậy sự lựa chọn nhân tố nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và mô hình lý thuyết. Từ học thuyết duy vật lịch sử của triết học Mác thì đó là những nhân tố: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Dù rằng mục tiêu chính của luận văn là xem xét sự tác động của nhân tố văn hóa đến sự hình thành ý thức công dân, nhưng việc hình dung sự tác động của nhân tố này trong tổng thể các nhân tố như đã nêu trên là cần thiết.
Nhân tố kinh tế
Kinh tế là lĩnh vực hoạt động cơ bản giúp đảm bảo cuộc sống của con người, tạo nên sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người dần phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Mỗi thời đại, thông qua phương thức hoạt động sản xuất vật chất tác động đến con người và tạo nên con người với những đặc điểm trí tuệ, tâm lý nhất định. Chúng ta biết rằng, ý thức công dân chỉ có thể ra đời khi trước hết con người được tự do, khi con người biết ý thức và hành động theo quyền tự do ấy, nghĩa là khi họ nhận thức được vai trò và vị trí của cá nhân mình trong toàn xã hội. Chỉ khi ấy, họ mới trở thành những công dân đích thực trong ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân của mình.
Muốn có được điều đó, trước hết cần phải xây dựng một nền tảng kinh tế nhất định cho xã hội, bởi không thể có một xã hội dân chủ, tự do, càng không thể có những công dân có ý thức và năng lực làm chủ xã hội khi đời sống vật chất của họ chưa được đảm bảo. Đúng như C. Mác đã nhận xét:
Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Cụ thể hơn, con người cần phải được đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của bản thân đến mức nào đó, trước hết là lợi ích vật chất thì mới có thể tham gia vào các công việc xã hội một cách tích cực, chủ động. Khẳng định này không loại trừ vai trò của lợi ích tinh thần đối với con người. Khi những nhu cầu vật chất được thoả mãn đến một mức độ nhất định, cuộc sống vật chất của con người trở nên đầy đủ hơn thì khi đó, lợi ích chính trị - tinh thần sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn.
Hơn nữa, việc tạo ra các quan hệ kinh tế hiện thực, trong đó các cá nhân được tham gia vào những mối quan hệ kinh tế với tư cách của những cá nhân tự do là điều kiện đầu tiên cần có để giải phóng con người. Các quan hệ kinh tế ấy không thể có được trong một nền kinh tế nông nghiệp, tự cấp tự túc, bình quân, khép kín mà chỉ có thể có được trong một nền kinh tế thị trường năng động. Nền kinh tế thị trường tuân theo qui luật giá trị, qui luật thị trường đã tạo ra môi trường kinh tế để kích thích sự phát triển các năng lực cá nhân, đảm bảo cho con người quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính mình. Trong nền kinh tế đó, mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào đều bình đẳng trước pháp luật, hoạt động trên nguyên tắc tự chủ kinh doanh, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh tế của mình. Trong nền kinh tế thị trường, cá nhân con người được đặt vào vị trí trung tâm, được giải phóng mọi tiềm năng, sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi con người. Mỗi tập thể và cả cộng đồng dân tộc động viên và tạo mọi điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo, làm giàu cho mình và cho xã hội. Đồng thời, kinh tế thị trường với
tính chất độc lập và tự do, dân chủ của nó đã thực hiện sự chế ước thể chế chính trị bằng cách xác định giới hạn phạm vi can thiệp của quyền lực chính trị, đòi hỏi các cơ cấu của hệ thống chính trị phải có những thay đổi thích ứng…Kinh tế thị trường cũng làm thay đổi các quan niệm chính trị trong xã hội. Các quan niệm về tự do, bình đẳng, cạnh tranh, công khai…trong chính trị là các quan niệm ban đầu được nhận thức sớm hơn, rõ hơn trong lĩnh vực kinh tế, sau đó mới chuyển dần sang lĩnh vực chính trị. Do vậy, kinh tế thị trường sẽ là môi trường tốt để nâng cao khả năng của công dân trong việc tham gia vào đời sống chính trị, suy luận chính trị…thay vì trước đây tiếp nhận sự bao cấp về tư tưởng chính trị một cách thụ động.
Như vậy, kinh tế thị trường là bảo đảm đặc biệt quan trọng có tính quyết định tác động vào quá trình thực hiện mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân. Tham gia vào các quan hệ kinh tế tự do và bình đẳng ấy, mỗi cá nhân công dân sẽ dần nhận thức được rằng, đó là những hoạt động không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống của bản thân mà còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển và ổn định xã hội. Nhận thức được việc tham gia hoạt động kinh tế vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mình sẽ tạo nên tính tích cực tham gia phát triển kinh tế ở mỗi công dân. Đồng thời, khi tham gia các quan hệ kinh tế ấy với tư cách là công dân tự do thì mỗi công dân cũng đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền tự do của mình không làm phương hại đến việc thực hiện quyền tự do của người khác. Khi đó, ý thức công dân được hình thành.
Nhân tố chính trị
Nhân tố kinh tế, như đã trình bày, với tư cách là nền tảng cho sự hình thành ý thức công dân được thể hiện ở chỗ nó là cơ sở xác lập vị thế tự chủ của con người, song chỉ điều đó thì chưa đủ cho sự chuyển biến từ con người thần dân sang con người công dân. Điều này có thể chứng minh bằng những dữ kiện của giai đoạn hậu kỳ phong kiến ở tây Âu. Vì thế cuộc cách mạng tư
sản, nghĩa là sự chuyển biến trên phương diện chính trị mới thiết lập những tiền đề đủ cho sự ra đời của con người công dân. Từ đó có thể thấy sự hình thành ý thức công dân không chỉ chịu sự chi phối của cơ sở kinh tế mà còn chịu sự quy định và tác động qua lại với nhân tố chính trị. Chúng ta biết rằng, không phải ngay từ khi loài người và xã hội loài người xuất hiện, tư cách công dân của con người đã hình thành. Phải đến khi xuất hiện một nhà nước mà nhà nước đó thừa nhận trên hiến pháp và pháp luật địa vị pháp lý của người dân, thì khi ấy, tư cách công dân của con người mới xuất hiện. Như vậy, điều kiện chính trị là cơ sở cho sự ra đời tư cách công dân của con người, và do đó tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức công dân.
Lẽ dĩ nhiên, không phải ngay khi tư cách công dân hình thành, cá nhân công dân đã có ý thức công dân. Ý thức ấy ra đời trong quá trình con người tham gia vào đời sống kinh tế, đời sống chính trị. Gắn liền với quá trình ấy là quá trình phát triển của dân chủ. Dân chủ chính là sự mở rộng các quyền của con người: quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, tự do tôn giáo, tự do lập hiệp hội, quyền tự do tham gia rộng rãi vào đời sống chính trị, xã hội…Tất cả những điều này làm cho hoạt động của con người ngày càng được tự do và đảm bảo hơn. Đồng thời, khi tham gia vào đời sống chính trị với tư cách người làm chủ xã hội, trách nhiệm của con người đối với cộng đồng, xã hội và nhân loại cũng ngày càng được mở rộng và nâng cao. Một nền dân chủ chân chính, tiến bộ và hiện đại bao giờ cũng gắn liền với quyền và nghĩa vụ, lợi ích với trách nhiệm. Đó là quan hệ mật thiết không thể tách rời, nó thấm nhuần trong các quan hệ giữa công dân với nhà nước, cá nhân với xã hội, thành viên với cộng đồng. Tương ứng với quyền của xã hội, tức là những đòi hỏi của xã hội đối với công dân, nhà nước có trách nhiệm tạo ra các điều kiện về luật pháp và thể chế để đảm bảo quyền tự do, quyền kiểm soát và thực thi các quyền, nghĩa vụ của công dân từ đó tác động đến sự hình thành những phẩm chất, năng lực của nhân cách công dân. Thực tế lịch sử nhân loại cho
thấy mối quan hệ giữa công dân và nhà nước là rất phức tạp cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn.
Kinh nghiệm lịch sử nhân loại cho đến nay dường như chưa tìm thấy mô hình nào tốt hơn để giải quyết quan hệ giữa nhà nước với sự phát triển của con người công dân tốt hơn mô hình nhà nước pháp quyền. Lý thuyết về nhà nước pháp quyền là lý thuyết được các nhà tư tưởng tư sản đề xướng trong cuộc đấu tranh chống lại các chế độ nhà nước chuyên quyền, độc đoán, nơi mà quyền lực nhà nước đối với con người là không giới hạn, và do vậy, đó cũng là nơi mà quyền tự do và nền dân chủ bị thu hẹp. Trong quan niệm về nhà nước pháp quyền, pháp luật được đề cao như là công cụ để giới hạn quyền lực nhà nước, đảm bảo tự do, dân chủ cho công dân và nhà nước cũng là đối tượng kiềm chế bởi luật pháp. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”
Montesquieu đã khẳng định nguyên tắc sau: Công dân có quyền được làm những gì mà luật pháp không cấm, còn nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp quy định. Rõ ràng nhà nước pháp quyền là thành phần không thể thiếu của sự hình thành xã hội dân chủ, chỉ có mô hình đó (ít nhất cho đến lúc này) có thể mang lại những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền con người, quyền công dân. Cùng với kinh tế thị trường là yếu tố bên trong thúc đẩy sự hình thành xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền là nhân tố chính trị tương thích với kinh tế, đồng thời là nhân tố trực tiếp, là điều kiện cơ bản cho việc xây dựng, mở rộng nền dân chủ thực sự, và do vậy, là nhân tố quan trọng tác động đến việc hình thành ý thức công dân.
Nhân tố văn hoá
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã cho thấy rằng văn hóa luôn luôn gắn liền với toàn bộ cuộc sống của con người và với sự phát triển của xã hội. Con người trong quá trình hoạt động của mình, bằng phương thức hoạt động riêng biệt đã tạo nên một hệ thống giá trị của mình, được truyền lưu từ đời này sang đời khác. Văn hoá do con người sáng tạo ra, nhưng chính nó sau
khi ra đời lại tham gia vào cuộc sống của con người không chỉ với tư cách là thành quả của hoạt động người mà quan trọng hơn là với tư cách yếu tố nội sinh, yếu tố làm cho chất lượng con người ngày một hoàn thiện, khả năng hoạt động sáng tạo của con người ngày một nâng cao, và phương thức ứng xử cao đẹp giữa con người với con người ngày càng được củng cố. Văn hóa với chức năng hướng con người tới giá trị Chân, Thiện, Mỹ chính là cội nguồn khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo vô tận của nguồn lực con người, do đó, văn hóa cũng chính là nhân tố có khả năng hướng mọi thành viên của cộng đồng xã hội có ý thức về vai trò của bản thân mình trong xã hội. Hơn nữa, đó là những yếu tố đã thấm sâu và hình thành nên những giá trị bền vững ở mỗi con người, do đó, nếu những giá trị ấy hướng con người đến ý thức về trách nhiệm công dân của mình thì nó sẽ là động lực lớn thúc đẩy cá nhân công dân hiện thực hoá ý thức trách nhiệm ấy. Chính vì vậy, văn hoá là một nhân tố quan trọng giúp hình thành và phát triển ý thức công dân ở mỗi người dân.
Như vậy, ý thức công dân chỉ có thể được hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động xã hội tích cực của cá nhân công dân. Việc tạo ra những điều kiện cho sự phát triển của xã hội trong kinh tế, trong đời sống chính trị và văn hoá chính là tạo ra những điều kiện để công dân hình thành tri thức và thái độ tích cực, chủ động trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong các nhân tố ấy, nhân tố văn hoá dường như có vai trò khiêm tốn, nhưng trên thực tế nó sẽ có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành ý thức công dân nếu như chúng ta biết tận dụng.