Tác động của văn hoá truyền thống đến sự hình thành ý thức công dân ở Việt Nam hiện nay

Một phần của tài liệu Vai trò của nhân tố văn hóa trong xây dựng ý thức công dân ở nước ta hiện nay (Trang 49 - 68)

Chương 2 NHÂN TỐ VĂN HOÁ TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC

2.2. Một số phương diện tác động của nhân tố văn hoá đến sự hình thành ý thức công dân ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Tác động của văn hoá truyền thống đến sự hình thành ý thức công dân ở Việt Nam hiện nay

Văn hoá là kết quả sáng tạo của con người, do vậy, mỗi nền văn hoá phụ thuộc trước hết vào đặc điểm của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà con người sinh sống. Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được tạo

nên bởi những con người cư trú, tạo lập cuộc sống trên mảnh đất nhiệt đới gió mùa thuộc khu vực Đông Nam châu Á.

Đông Nam Á được coi là nơi có độ ẩm vào loại cao nhất thế giới. Là một khu vực nằm trên bờ biển và rất dài, khu vực này có lượng mưa nhiều và lượng hơi nước luôn dư thừa trên đất liền. Chính điều kiện tự nhiên nóng ẩm, mưa nhiều là cơ sở khiến cho hệ sinh thái Đông Nam Á tiền sử là nơi nhiều cây cối hơn động vật, số loài nhiều hơn số lượng cây con trong mỗi loài. Do vậy, con người trên miền đất này sống chủ yếu bằng hái lượm chứ không phải săn bắn, và sau này trồng trọt chứ không phải chăn nuôi. Đa canh chứ không phải độc canh là xu thế chủ yếu của nghề nông.

Một đặc điểm nổi bật của tự nhiên Việt Nam là tính chất bán đảo. Nước Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, lại chiếm trọn phần đông của bán đảo ấy nên tính chất bán đảo lại càng nổi trội. Trên đất liền Việt Nam, miền chân núi của những dãy núi lớn Á châu là một mạng dày đặc sông suối, đầm hồ. Người ta đã tính rằng, trung bình cứ 1km2 đất đai có hơn 1km đường sông nước. [Xem: 53, 33]

Bối cảnh tự nhiên này rất thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của cây lúa nước. Do vậy, xã hội Việt Nam cổ truyền là một xã hội tiền công nghiệp với nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cấp tự túc. Trong việc làm nông nghiệp lúa nước, thuỷ lợi là biện pháp kỹ thuật hàng đầu. Đồng thời, việc ứng phó với thiên tai, chống lũ lụt để bảo vệ xóm làng, bảo vệ thành quả của lao động nông nghiệp cũng là công việc thường xuyên của cư dân Việt.

Những việc đó không thể được thực hiện với sự nỗ lực của một cá nhân hay một gia đình mà đòi hỏi phải có sức mạnh của cộng đồng, đòi hỏi sự liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng.

Bên cạnh đó, nước ta ở vào vị trí địa lý mang tính chất tiếp xúc của bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á, nằm trên đầu mối của những luồng giao thông tự nhiên, vừa nối liền với đại lục, vừa có bờ biển dài nhìn ra Thái Bình

Dương. Đó là một vị trí địa lý thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, văn hoá, nhưng cũng lắm đụng độ và dễ bị tấn công từ nhiều phía. Vì thế, yêu cầu tự vệ, chống các mối đe doạ từ bên ngoài đến cũng sớm được đặt ra và càng ngày càng trở nên bức thiết. Ngay từ khi lập quốc, người Việt đã phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Trải hàng ngàn năm Bắc thuộc, người Việt không những liên tục đứng lên tiến hành các cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc, mà còn phải đấu tranh chống lại sự đồng hoá từ phương Bắc. Ngay cả khi chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, đất nước bước vào thời kỳ độc lập hoàn toàn thì trong quá trình đó, nhân dân Việt Nam vẫn phải đối diện với các cuộc xâm lược từ các quốc gia rất hùng mạnh từ bên ngoài.

Tất cả những công việc đó đòi hỏi người Việt Nam phải cố kết lại với phương thức chủ yếu là duy trì các yếu tố cộng đồng. Chính vì thế, sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã, xã hội Việt Nam không phát triển theo hướng xác lập chế độ tư hữu ruộng đất mà thay vào đó, các công xã thị tộc được chuyển thành các công xã nông thôn.

Các công xã nông thôn, trong tiếng Việt cổ được gọi là chạ, chiềng, kẻ…ra đời vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, tức là vào khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Từ thế kỷ X trở đi, các công xã nông thôn dần dần bị phong kiến hoá và trở thành các đơn vị hành chính cơ bản của chính quyền phong kiến với tên gọi chung là xã, cũng có khi gọi là thôn hay làng. Làng xã cổ truyền là đơn vị tụ cư, là cộng đồng dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống, là môi trường sinh hoạt văn hoá xã hội từ bao đời nay của người Việt. [Xem 52, 84 - 85]

Có thể nói, làng xã là một trong những đặc điểm lớn nhất của kết cấu kinh tế - xã hội cổ truyền của nước ta. Làng xã giữ vai trò trung gian nối các cá thể với nhà nước. Tất cả các chỉ thị từ chính quyền trung ương đến với người dân đều phải thông qua “bộ lọc” làng xã và do đó mà bị khúc xạ đi nhiều. Về mặt sở hữu, mặc dù có chế độ tư hữu, nhưng chế độ sở hữu chi phối

trong các làng xã là chế độ công hữu. Trong phạm vi đồng bằng và địa bàn cư trú của người Việt (Kinh), giáo sư Phan Huy Lê đã chia làm ba loại hình làng xã. Đó là:

Loại thứ nhất: không có ruộng đất tư hữu, toàn bộ ruộng đất thuộc sở hữu công xã và công xã đem chia cho các thành viên sử dụng. Loại này chiếm ưu thế tuyệt đối cho đến trước thế kỷ X và còn tồn tại cho đến thế kỷ XV.

Loại thứ hai: vừa tồn tại ruộng đất công và ruộng đất tư, có thể đã xuất hiện trong thời Bắc thuộc và tồn tại phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ cho đến thế kỷ XX.

Loại thứ ba: hầu như chỉ gồm ruộng đất tư, tồn tại phổ biến ở đồng bằng Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII. [Xem: 25, 926]

Làng xã là nơi người Việt duy trì cuộc sống của mình dựa vào nghề nông nghiệp trồng lúa nước, và cũng chính làng xã đã trở thành pháo đài chống giặc và phát triển nền văn hoá bản địa của mình. Do vậy, làng xã là một thể chế bền vững, tồn tại hầu như xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Do vị trí của làng trong đời sống cộng đồng mà không ít nhà nghiên cứu nhận xét rằng văn hoá cũng có đơn vị là làng, có quy mô là xã. Giáo sư Trần Quốc Vượng thì khẳng định: Văn hoá Việt Nam cổ truyền, về bản chất, là một nền văn hoá xóm làng. Do đứng ở vị trí địa lý thuận lợi cho sự giao tiếp với bên ngoài, ngay từ rất sớm, văn hoá Việt Nam đã có sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá lớn khác, đặc biệt là văn hoá Trung Hoa. Tuy nhiên, mọi yếu tố văn hoá ngoại lai khi vào đất nước ta đều phải đi qua “bộ lọc” làng xã, và sự khúc xạ diễn ra chính là ở đây. Hầu hết người Việt thời trung đại là những thành viên của làng xã, sống gắn bó trong đời sống cộng đồng của làng xã.

Chính tính chất nước đôi của làng xã (ruộng vừa công vừa tư, làng vừa tự trị vừa phụ thuộc, người dân vừa nộp tô vừa nộp thuế…) đã để lại dấu ấn sâu đậm lên tâm thức, kiểu tư duy, thế ứng xử, và nhất là sự hình thành nhân cách, ý thức cá nhân, cái tôi. [24, 100]

Trong môi trường tự nhiên và xã hội ấy, nền văn hoá Việt Nam ra đời và phát triển, gắn bó và ăn sâu vào tiềm thức của người dân tạo nên một hệ giá trị của người Việt. Trong đó, những giá trị, những phẩm chất tiêu biểu đã được định hình với tính cách là những giá trị bền vững, được vun đắp trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc làm thành bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam, đặc trưng cho nhân cách và văn hoá Việt Nam.

Nói đến bản sắc văn hoá là nói đến cái mặt thường hằng, mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử. Nhưng, bản sắc riêng của mỗi nền văn hoá không chỉ được thể hiện trong các hiện tượng hoặc các sản phẩm đặc thù của văn hoá, mà phần quan trọng nhất của nó lại được thể hiện trong hoạt động sống bình thường, hàng ngày của các cộng đồng người. Khi đó, bản sắc là tập hợp của những cái khác biệt không thể xoá nhoà về phương thức sống của các chủ thể văn hoá, là cái được tạo ra trong những tình huống khác nhau của lịch sử, từ thế giới quan, từ nhân sinh quan mà đặc biệt là từ kinh nghiệm sống của các thế hệ khác nhau trong cộng đồng, làm thành những khuôn mẫu về văn hoá. Đến lượt nó, các khuôn mẫu văn hoá có khả năng điều chỉnh hành vi của con người ở các thế hệ tiếp sau một cách tự nhiên, trực tiếp và tinh vi. Về vấn đề này, tác giả Hồ Sĩ Quý viết: “Với mỗi con người, khi mà các giá trị và những chuẩn mực xã hội đã trở thành máu thịt, cũng như khi mà các phương thức và phong cách hoạt động sống của tổ tiên đã trở thành tài sản thừa kế, thì việc xác định thái độ và sự lựa chọn phương án hành động của họ ở một mức độ đáng kể là do văn hoá quyết định”. [37, 50 - 54]

Theo nghĩa đó, khi xét đến sự tác động của nhân tố văn hoá đến sự hình thành ý thức công dân Việt Nam, chúng ta cần phải xét đến những tác động của những yếu tố thuộc về bản sắc văn hoá Việt Nam. Chính bản sắc văn hoá Việt Nam là những yếu tố tạo thành tính bất biến trong các quan hệ của người Việt Nam, tạo thành tập hợp những giải pháp, những chuẩn mực, những

phong cách, những giá trị…, tức là khuôn mẫu văn hoá cho các thế hệ người Việt Nam, cho nên, nó thực sự đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc định hướng hoạt động sống của mỗi xã hội cũng như mỗi thành viên xã hội.

Chính thông qua những khuôn mẫu này mà văn hoá thực hiện tính quy định của mình, thể hiện sức mạnh của mình trong đời sống xã hội. Đối với mỗi con người cụ thể, các khuôn mẫu văn hoá ăn sâu vào tâm lý, ý thức và hoạt động của mỗi người thông qua sự tiếp thu của mỗi người trong quá trình sống và hoạt động của mình; và bằng cách đó chúng chi phối và quy định hoạt động sống của họ.

Bàn về hệ giá trị tiêu biểu của người Việt Nam, hiện nay giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn. Chẳng hạn, khi bàn về giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, giáo sư Trần Văn Giàu đã khái quát thành bảy giá trị tiêu biểu:

1. Yêu nước - giá trị cốt lõi của bảng giá trị truyền thống Việt Nam.

2. Cần cù 3. Anh hùng 4. Sáng tạo 5. Lạc quan 6. Thương người 7. Vì nghĩa [Xem 16]

Còn giáo sư Nguyễn Hồng Phong thì đưa ra bảng giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống gồm:

1. Lòng yêu nước, yêu quê hương - phẩm chất hàng đầu của giá trị Việt Nam 2. Gắn bó với cộng đồng (gia tộc, làng xóm, quốc gia)

3. Lòng nhân ái

4. Trọng đạo đức, trọng học thức, yêu cái đẹp 5. Khát vọng lấy dân làm gốc

6. Bình đẳng và công bằng xã hội

7. Vai trò cá nhân và sự thành đạt [Xem 35]

Tháng 7/1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã họp và ra nghị quyết với tiêu đề “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Về bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam, Đảng ta cho rằng, đó là “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. [8, 56]

Như vậy, với nhận định này, có thể thấy bản sắc văn hoá Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh ở những nội dung sau:

1. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

2. Ý thức cộng đồng (cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc) 3. Sự tôn trọng tình nghĩa (đạo lý, nhân ái, khoan dung) 4. Cần cù trong lao động

5. Sự tinh tế trong ứng xử và giản dị trong lối sống.

Mỗi nhà nghiên cứu có lý lẽ riêng khi đưa ra quan điểm của mình về hệ giá trị của người Việt. Tuy trong đó có những ý kiến khác nhau, nhưng vẫn có thể dễ dàng nhận thấy có những giá trị được tất cả các nhà nghiên cứu thừa nhận. Có thể nói, đó là những giá trị tiêu biểu trong hệ giá trị của người Việt truyền thống, có ảnh hưởng đậm nét lên tâm thức, kiểu tư duy, cách ứng xử của người Việt.

Tác động của những giá trị tiêu biểu trong văn hoá Việt Nam đối với sự hình thành ý thức công dân ở Việt Nam có thể chia theo hai chiều: tác động thuận và tác động nghịch.

- Những thuận lợi của việc xây dựng ý thức công dân trong bối cảnh văn hoá truyền thống Việt Nam:

+ Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần yêu nước

Mỗi dân tộc đều có lòng yêu nước của mình. Việc khẳng định chủ nghĩa yêu nước, truyền thống yêu nước của người Việt Nam không hàm ý rằng chỉ có người Việt Nam mới yêu nước. Nhưng đó không phải là một tình cảm tự nhiên, bẩm sinh mà là sản phẩm của lịch sử, gắn liền với đất nước, quốc gia. Ý niệm về đất nước, về lãnh thổ của người Việt đã ra đời từ rất sớm và thường xuyên được hun đúc trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm.

Chính quá trình thường xuyên và liên tục phải đối mặt với các thế lực xâm chiếm từ bên ngoài với sức mạnh gấp nhiều lần, chính thời gian hàng nghìn năm sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc đã hình thành ở người Việt tinh thần yêu nước đặc biệt, không phân biệt giai cấp, và cũng vì thế, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành đạo lý sống, là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị của người Việt.

Người Việt Nam sống ở vùng đất trẻ, nhiều đầm lầy, kênh rạch sông ngòi và trải dài theo bờ biển, nên để định cư được, họ phải tiến hành khai hoang mở đất, trị thuỷ. Bởi vậy, đất đai, lãnh thổ không phải là cái có sẵn một cách tự nhiên mà là cái phải đấu tranh, thậm chí phải “tạo ra” mới có được.

Do đó, thái độ của người Việt Nam đối với đất nước hoàn toàn khác so với người Trung Quốc hay châu Âu. Nếu như người Trung Quốc gắn đất nước với dòng họ cai trị, thì ở Việt Nam, đất nước không phải của vua hay của bất cứ một dòng họ nào mà là của chính người dân. Mỗi khi vận mệnh đất nước đứng trước sự đe doạ, người Việt ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, giữ gìn nền độc lập của đất nước. Giáo sư Phan Ngọc nhận xét rằng: Có hai việc một ông vua Việt Nam có quyền tận dụng sức dân mà dân vẫn theo vì nó gắn liền với quyền sống của người dân: chống ngoại xâm và đắp đê chống lũ lụt.

Trong bối cảnh như vậy, người Việt đã sớm hình thành nên ý thức về chủ quyền quốc gia. Điều này đã được minh chứng qua hàng loạt các tài liệu và văn kiện lịch sử của dân tộc như: bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và đặc biệt là “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi năm 1427. Người Việt Nam ý thức được rằng, thân phận của mình chỉ được đảm bảo trong một đất nước độc lập, do vậy, họ quyết tâm kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ nước là để khẳng định quyền độc lập dân tộc, quyền được sống độc lập của dân tộc và cá nhân mình.

Tâm thức người dân Việt thấm đậm một nguyên lý: không có tự do, bình đẳng và hạnh phúc của cá nhân trong một dân tộc nô lệ. Muốn có hạnh phúc của cá nhân, dân tộc phải được độc lập. Và sự độc lập dân tộc phải đem lại hạnh phúc cho con người.

Như đã khẳng định, công dân và ý thức công dân là khái niệm luôn nằm trong mối quan hệ với một nhà nước. Nói cách khác, chỉ trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia độc lập với một nhà nước dân chủ, thì tư cách công dân mới xuất hiện, và do đó, ý thức công dân mới được xác định. Như vậy, bản thân mỗi công dân với ý thức về quyền và trách nhiệm công dân của mình cũng luôn phải xác định ý thức ấy trong mối quan hệ cụ thể với nhà nước, với quốc gia mà họ đang sống. Quyền công dân cũng không thể tách rời với quyền độc lập, tự chủ của dân tộc. Ý thức công dân không thể tách rời với ý thức về chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Do đã trải nghiệm cuộc sống trong một dân tộc trải qua nhiều cuộc kháng chiến, người Việt Nam hơn ai hết biết đến giá trị của quyền độc lập dân tộc, sự gắn kết của độc lập dân tộc với hạnh phúc con người. Đối với người Việt Nam, việc đã sẵn có ý thức về chủ quyền quốc gia, sẵn sàng tham gia chứ không đứng ngoài chính trị, đứng trên chính trị là một điều vô cùng thuận lợi cho việc xây dựng ý thức công dân ở mỗi người dân. Ngày nay, khi phát huy được tinh thần yêu nước, khi phát huy được ý thức về chủ quyền quốc gia ở mỗi công dân Việt Nam thì điều đó cũng

Một phần của tài liệu Vai trò của nhân tố văn hóa trong xây dựng ý thức công dân ở nước ta hiện nay (Trang 49 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(92 trang)