BÁO CÁO THAM LUẬN
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Thực hiện Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008, công tác lập và việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật trong giai đoạn 2011 - 2015 đã có những chuyển biến tích cực, bảo đảm chất lượng hơn, nhất là đối với công tác lập và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp luật. Chính phủ đã thực hiện hiệu quả giải pháp lựa chọn lĩnh vực trọng điểm cần đầu tư, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, trong đó xác định thứ tự ưu tiên đối với lĩnh vực then chốt, tạo sức bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã kịp thời đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua cho phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu triển khai Hiến pháp năm 2013. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ đã được các bộ, cơ quan ngang bộ chuẩn bị kỹ hơn, bảo đảm xác định rõ thứ tự ưu tiên, bám sát nội dung định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Công tác triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng linh hoạt, kịp thời hơn, giảm tối đa tình trạng xin lùi, rút ra khỏi chương trình, bảo
77 đảm tiến độ, chất lượng. Nhìn chung, các luật, pháp lệnh do Chính phủ chủ trì soạn thảo được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành cơ bản đáp ứng được yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch; từng bước giảm luật khung, luật ống; hạn chế việc ủy quyền lập pháp, thể hiện tư duy lập pháp mới, đảm bảo được sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Hàng năm, căn cứ các quy định của luật, pháp lệnh và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nước, các chương trình công tác, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã tập trung ưu tiên cho công tác xây dựng ban hành nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Từ năm 2011 - 2015, Chính phủ đã xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban thường vu ̣ Quốc hô ̣i thông qua 99 luật, pháp lệnh, nghị quyết.
- Công tác xây dựng và thực thi pháp luật ở nước ta đã thực sự có những chuyển biến tích cực, thể hiện tư duy lập pháp mới trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã được định hình một cách rõ nét trên tất cả các lĩnh vực, làm nền tảng cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Các văn bản pháp luật được ban hành trong giai đoạn này đang dần đáp ứng các tiêu chí của hệ thống pháp luật về tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch, bảo đảm vận hành, quản lý xã hội, phù hợp hơn với bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN.
Về mặt nội dung, pháp luật đã thể hiện tư duy lập pháp mới, thể hiện tính cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, mở đường, tạo khuôn khổ pháp lý cho những bước phát triển mới về kinh tế - xã hội.
Điểm khác biệt nổi bật so với giai đoạn trước là hoạt động xây dựng pháp luật của Chính phủ, Quốc hội không chỉ chú trọng đến ban hành các văn bản pháp luật về phát triển kinh tế thị trường, mà đã tập trung nhiều hơn cho các lĩnh vực khác, đặc biệt là các lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ... Nhiều chủ trương lớn đã được triển khai trên thực tế và có tác động tích cực, hạn chế được tình trạng “dễ làm khó bỏ” (đã tồn tại nhiều năm) trong hoạt động lập pháp, một số đạo luật khó như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật đầu tư công, Luật sử dụng vốn của Nhà nước vào đầu tư kinh doanh đã được ban hành và đã bước đầu mang lại diện mạo mới của bộ máy nhà nước theo hướng năng động, hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm trước Nhân dân.
Hai mu ̣c tiêu chính của cải cách thể chế giai đoa ̣n 2011 - 2015 đều đã được Chính phủ, các bộ, ngành tâ ̣p trung nguồn lực thực hiê ̣n và đa ̣t kết quả quan trọng, cu ̣ thể là:
1. Đối với mục tiêu: “Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới cơ bản”
Trong giai đoa ̣n 2011 - 2015, quy trình lập pháp đã từng bước được đổi mới, cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, minh bạch, chặt chẽ, dân chủ hơn; bước
78
đầu phát huy hiệu quả làm cho tính khả thi, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật được cải thiện, đáp ứng kịp thời hơn, tốt hơn yêu cầu của thực tiễn. Bên cạnh đó, việc quy định vấn đề lồng ghép giới trong quy trình lập pháp là một bước tiến bộ, phù hợp với xu hướng của thế giới.
Việc thẩm định các dự án, dự thảo văn bản QPPL theo cơ chế tổ chức Hội đồng thẩm định, tư vấn thẩm định đã thu hút sự tham gia đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học vào quá trình thẩm định; khắc phục tính pháp lý thuần tuý, coi trọng việc bảo đảm tính khả thi của văn bản, nhờ đó chất lượng văn bản được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt, để bảo đảm chất lượng xây dựng các dự án luật, pháp lệnh theo Kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, các dự án luật, pháp lệnh trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp đều được đưa ra lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn thẩm định(23) do Thủ tướng Chính phủ thành lập nhằm bảo đảm cụ thể hóa thống nhất nội dung, tinh thần và lời văn của Hiến pháp. Năm 2015, lần đầu tiên trong vòng một năm đã tổ chức thành công 02 đợt lấy ý kiến Nhân dân, hoàn thiện trình Quốc hội thông qua dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi), Bộ luật hình sự (sửa đổi).
Tiếp tục thực hiện việc đổi mới quy trình xây dựng văn bản QPPL, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Luật ban hành văn bản QPPL (trên cơ sở hợp nhất Luật ban hành văn bản QPPL 2008 và Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND năm 2004), theo đó có nhiều điểm mới cơ bản, gồm: hoàn thiện hơn khái niệm văn bản QPPL; bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL; bổ sung quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL; đổi mới chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; đổi mới một cách cơ bản, toàn diện về quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL, theo đó phân tách quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản QPPL; làm rõ hơn thẩm quyền, hình thức văn bản QPPL; tăng cường tính công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL. Luật mới bổ sung nhiều quy định hợp lý, cụ thể hơn về việc lấy ý kiến để tạo điều kiện cho người dân tham gia xây dựng pháp luật một cách thực chất, hiệu quả hơn; bảo đảm việc thực hiện quyền sáng kiến lập pháp của đại biểu Quốc hội; bổ sung thêm những trường hợp được xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự thủ tục rút gọn; quy định chặt chẽ hơn việc ban hành văn bản quy định chi tiết.
2. Đối với mục tiêu: “Thể chế về sở hữu, đất đai, doanh nghiệp nhà nước được xây dựng và ban hành ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Trong giai đoa ̣n 2011- 2015, hệ thống pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã không ngừng được bổ sung về số lượng, nâng cao chất lượng, bảo đảm tốt hơn tính đồng bộ, thống nhất và khả thi, kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Việc Quốc hội thông
23 Thành phần bao gồm: Lãnh đạo của 13 Bộ, cơ quan ngang Bộ; đại diện Lãnh đạo của Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Trung ương Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; một số chuyên gia, nhà khoa học đã tham gia quá trình nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp.
79 qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015 là bước đột phá trong tư duy pháp lý về đổi mới, hoàn thiện cơ chế điều chỉnh quan hệ dân sự trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tốt hơn quyền của cá nhân, pháp nhân trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh Trong lĩnh vực này, pháp luật đã dần xác định rõ và không phân biệt đối xử giữa các chế độ và hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường; xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp; quyền tự do kinh doanh; tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, cơ chế khuyến khích và đảm bảo đầu tư; xóa dần ranh giới giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài; giảm dần sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế; dần tháo gỡ các vướng mắc, rào cản trong sản xuất, kinh doanh, phát triển lành mạnh thị trường. Pháp luật về đầu tư đã góp phần thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch môi trường đầu tư của Việt Nam, làm rõ giới hạn các ngành cấm đầu tư, thu hẹp phạm vi áp dụng giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với doanh nghiệp FDI, rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư. Pháp luật về thương mại đã điều chỉnh hầu hết các hoạt động thương mại theo thông lệ quốc tế(24), bãi bỏ hàng loạt hạn ngạch (quota) xuất nhập khẩu, giấy phép, đồng thời thực hiện phân cấp mạnh mẽ cho UBND nhân dân cấp tỉnh, Ban quản lý các khu kinh tế trong các lĩnh vực giám định, nhượng quyền, phân phối hàng hóa xúc tiến thương mại, triển lãm. Pháp luật về hải quan đã có những sửa đổi, bổ sung mới quan trọng như cải cách thủ tục hải quan, nội luật hóa các cam kết quốc tế về hải quan; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hải quan, tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và gian lận thương mại. Luật doanh nghiệp 2014, bên cạnh việc quy định mới về đăng ký kinh doanh; mô hình quản trị công ty cổ phần, thì mô hình các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam về cơ bản có hình dáng của các doanh nghiệp ở các nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Xây dựng pháp luật cho việc tạo lập đồng bộ các thị trường
Cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất, đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện với việc ban hành Luật đất đai năm 2013, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật nhà ở năm 2014. Cải cách thủ tục hành chính trong công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất đã được đẩy mạnh, đưa quản lý, sử dụng đất đai vào nề nếp. Tổ chức, cá nhân được kinh doanh nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai. Thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư ở Việt Nam từng bước được mở rộng. Luật nhà ở năm 2014 quy định đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân nước ngoài với một số điều kiện cụ thể, minh bạch.
24 Luật ghi nhận những nguyên tắc quan trọng: bình đẳng trước pháp luật; tự do, tự nguyện thỏa thuận; áp dụng thói quen và tập quán thương mại; bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; ghi nhận dịch vụ qua internet;
quy định rõ trách nhiệm các bên trong hoạt động hội chợ, triển lãm…
80
Pháp luật về giá quy định rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong lĩnh vực giá và hoạt động quản lý giá. Qua đó, bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước về giá thông qua các biện pháp kinh tế nhằm ổn định thị trường; tôn trọng quyền tự định giá của cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh; khuyến khích, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường.
- Hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động
So với sự phát triển của thị trường bất động sản thì thị trường lao động đã có bề dày và được đầu tư sớm hơn ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới và được điều chỉnh bằng Bộ luật lao động năm 1994. Môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động ngày càng được hoàn thiện theo hướng đa dạng hoá các hình thức tìm việc làm, khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao; quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động được bảo đảm tốt hơn; tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, đẩy mạnh giải quyết việc làm cho người lao động. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Bộ luật lao động năm 2012 và Luật việc làm 2013 có nhiều quy định mới nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, đồng thời nội luật hoá các quy định trong các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mà Việt Nam đã phê chuẩn, nhằm phù hợp với pháp luật lao động của các nước ASEAN và thông lệ quốc tế. Lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ về việc làm và thị trường lao động; chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
- Hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ…; hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng
Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cùng với pháp luật về khoa học và công nghệ từng bước được hoàn thiện, góp phần hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được mở rộng phù hợp với Hiệp định TRIPS của WTO về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ - tín dụng đang dần tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động ngân hàng, khuyến khích cạnh tranh trong hoạt động tín dụng; điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả, giúp ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát; khơi thông nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho các khu vực sản xuất kinh doanh, hỗ trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn...; bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, xử lý các ngân hàng yếu kém, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền; lập lại trật tự trong hoạt động kinh doanh vàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định