BÁO CÁO THAM LUẬN
I. VIỆC THỰC HIỆN CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Để đạt được kết quả trên, thành phố Hà Nội đã tập trung triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước để phục vụ người dân, tổ chức và doanh nghiệp, trong đó chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên các mặt cơ bản, đó là:
Thứ nhất, bám sát các văn bản của Trung ương về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ về Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015.
Thứ hai, kịp thời ban hành các văn bản, quy định, kế hoạch để tạo hành lang pháp lý cho triển khai ứng dụng CNTT như: Quy định trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước thành phố Hà Nội; Quy chế quản lý, khai thác, sử dụng hạ tầng mạng diện rộng (WAN); Quy định quản lý, khai thác sử dụng hạ tầng dùng chung Trung tâm dữ liệu nhà nước Thành phố;
Quy chế đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước Thành phố; Kế hoạch An toàn thông tin số trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch thúc đẩy phát triển và ứng dụng phần mềm mã nguồn mở của Thành phố giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch triển khai ứng dụng chữ ký số chuyên dùng trong các cơ quan nhà nước Thành phố đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Kế hoạch lộ trình dịch vụ công trực tuyến thành phố Hà Nội đến năm 2020; Kế hoạch triển khai đồng bộ hạ tầng kỹ thuật CNTT tại UBND cấp xã thành phố Hà Nội năm 2015; Hướng dẫn các thành phần của cơ quan điện tử tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố. Ban hành kế hoạch và tổ
155 chức thành công diễn tập đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước Thành phố.
Thứ ba, tập trung đào tạo về ứng dụng CNTT cho đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp Thành phố, cán bộ chủ chốt của các cơ quan, đơn vị và công chức, viên chức làm việc tại các Sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn.
Nội dung đào tạo, tập huấn tập trung về cơ quan điện tử, chính quyền điện tử, kỹ năng sử dụng thư điện tử, hệ thống quản lý văn bản, sử dụng và khai thác thông tin trên Internet, an toàn thông tin,...
Thứ tư, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, tổ chức qua đài, báo, cổng thông tin điện tử, các buổi nói chuyện chuyên đề, xuất bản các ấn phẩm truyền thông,...
Thứ năm, từng bước đầu tư, triển khai, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT của Thành phố, cho đến nay Trung tâm dữ liệu nhà nước thuộc Thành phố đi vào hoạt động ổn định, đã di trú trên 160 hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn của 60 đơn vị. Mạng WAN (mạng diện rộng) của Thành phố đã kết nối tới 100%
sở, ngành, quận, huyện, thị xã, 264 xã, phường, thị trấn, 05 đơn vị hiệp quản. Tỷ lệ máy tính/cán bộ cần sử dụng trong cơ quan nhà nước: Khối Sở, ngành đạt 100%;
khối quận đạt 100%, khối huyện đạt 90%. Tỷ lệ máy tính/cán bộ, công chức cấp xã đạt 80%. 100% các sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, thị xã đều đã có mạng LAN và Internet kết nối tới tất cả các phòng, ban trực thuộc; 100% UBND xã, phường, thị trấn có kết nối Internet và 80% số đơn vị có mạng LAN. Hệ thống an toàn thông tin bước đầu triển khai đáp ứng được yêu cầu cấp bách trong đảm bảo an toàn hệ thống tin trong cơ quan nhà nước. Các phần mềm nền tảng bản quyền cho máy chủ đã được Thành phố mua sắm tập trung và triển khai tại các cơ quan.
Thứ sáu, các ứng dụng dùng chung đã được triển khai phục vụ công tác điều hành trong nội bộ cơ quan, đơn vị, đảm bảo các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã hoạt động tốt như: Phần mềm Quản lý văn bản và hồ sơ công việc trên môi trường mạng, Hệ thống thư điện tử công vụ, sử dụng chứng thư số chuyên dùng để tham gia vào hệ thống báo cáo điện tử Chính phủ, họp giao ban trực tuyến,...
Thứ bảy, Thành phố tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành thiết yếu như: xây dựng trên 20 hệ thống thông tin và CSDL như: Quản lý văn bản và hồ sơ công việc, Giấy phép đăng ký kinh doanh cấp huyện, Quản lý Hộ tịch, Quản lý thanh toán vốn đầu tư, Giáo dục và Đào tạo, Mạng thông tin Thành uỷ-HĐND-UBND, Bảo hiểm xã hội, Quy hoạch xây dựng và các CSDL chuyên ngành khác: Công thương, Bưu chính viễn thông, Quản lý đầu tư ứng dụng CNTT, Quản lý cán bộ, công chức, viên chức, hệ thống cấp giấy phép đăng ký kinh doanh; quản lý các dự án đầu tư; hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu ngành tài chính; báo cáo thống kê tài chính; quản lý tài sản công; quản lý đăng ký, kê khai giá; Hệ thống liên ngành về quản lý dự án đầu tư, Hệ thống thông tin quy hoạch đô thị thành phố Hà Nội; Hệ thống quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu các khu đô thị mới, dự án phát triển nhà ở; Xây dựng CSDL đất đai, CSDL bản đồ nền, CSDL GIS quy hoạch (CSDL quy hoạch chi tiết, CSDL quy hoạch chung, CSDL các quy hoạch phân khu), CSDL số của đồ án quy hoạch, hồ sơ chỉ giới đường đỏ
156
và hạ tầng kỹ thuật; hệ thống giao thông gắn với ứng dụng hệ thống như: Trung tâm điều khiển đèn tín hiệu giao thông của thành phố; CNTT như ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý giấy phép lái xe bằng vật liệu PET; Triển khai hệ thống thẻ vé điện tử thông minh bằng công nghệ tiên tiến đảm bảo tính liên thông và áp dụng trong toàn hệ thống giao thông công cộng; Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống đèn tín hiệu giao thông trên tuyến BRT từ Kim Mã đến bến xe Yên Nghĩa thuộc hợp phần xe buýt nhanh (BRT); Ứng dụng GIS xây dựng các lớp bản đồ chuyên đề liên quan đến đường, giao thông; Các phần mềm quản lý Trường học, phần mềm Thi và tuyển sinh, Báo cáo thống kê, Quản lý thư viện điện tử, Quản lý học liệu điện tử, kênh kết nối Nhà trường - Gia đình được áp dụng có hiệu quả.
Thí điểm triển khai mô hình trường học điện tử tại Quận Long Biên; bước đầu triển khai hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý ngành, hỗ trợ khám, chữa bệnh: Phần mềm quản lý, đăng ký hành nghề y dược tư nhân qua mạng, Hệ thống ứng dụng CNTT tại các bệnh viện,... Một số quận, huyện đã hoàn thành xây dựng Đề án xây dựng cơ quan điện tử như: UBND quận Long Biên, UBND quận Cầu Giấy, UBND quận Thanh Xuân, UBND huyện Chương Mỹ, UBND huyện Thạch Thất, UBND Quận Ba Đình, trong đó có những đơn vị tích cực triển khai như UBND quận Long Biên, UBND quận Thanh Xuân,...
Thứ tám, trên nền tảng hạ tầng kỹ thuật CNTT, các ứng dụng dùng chung, các ứng dụng chuyên ngành và hệ thống các cơ sở dữ liệu, thành phố Hà Nội tập trung đẩy mạnh các ứng dụng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đó là nâng cấp Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố để cung cấp kịp thời thông tin chỉ đạo điều hành của UBND Thành phố và là nền tảng để tích hợp các ứng dụng dùng chung của Thành phố; các Sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã đã đưa Trang thông tin điện tử của đơn vị vào hoạt động và từng bước tích hợp dịch vụ công trực tuyến lên trang thông tin điện tử để khai thác, sử dụng. Thành phố đã triển khai được 10/10 nhóm dịch vụ công cơ bản mức 3, 4 theo Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ và một số dịch vụ công đặc thù, trong đó có những dịch vụ công đạt hiệu quả cao như: hải quan điện tử, nộp thuế điện tử, cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, đăng ký kinh doanh, đăng ký khai sinh, khai tử, cải chính hộ tịch, cụ thể là: Sở Giao thông vận tải Hà Nội thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với thủ tục Cấp Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô sau hiệu quả của việc triển khai thí điểm cung cấp dịch vụ công mức độ 3 đối với thủ tục Đổi Giấy phép lái xe do ngành giao thông vận tải cấp năm 2015; UBND quận Nam Từ Liêm triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với một số TTHC thuộc lĩnh vực tư pháp, đăng ký kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của quận và triển khai thí điểm cấp phường dịch vụ công mức độ 4 đối với 8 thủ tục lĩnh vực tư pháp.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại các đơn vị không đồng đều, một số dịch vụ công hoạt động không hiệu quả hoặc triển khai cho có, chứ thực sự người dân, tổ chức không mặn mà việc thực hiện đăng ký giải quyết mức độ 3 hoặc 4. Sở dĩ như vậy là do các đơn vị đã lựa chọn những thủ tục hành chính chưa phù hợp (lượng giao dịch ít, hồ sơ phức tạp, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện, hoặc kinh phí nhất là kinh phí duy trì chữ ký số để khai báo mức độ 4 cao nên người dân, tổ chức không sử dụng hoặc là việc lựa chọn nhà cung cấp phần
157 mềm không đồng nhất dẫn đến bị lỗi phần mềm, hoặc là chưa có văn bản quy định nền tảng dùng chung thống nhất về cơ sở dữ liệu hoặc các tiêu chí bắt buộc cần phải có trong việc cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4). Bên cạnh đó công tác tuyên truyền, vận động người dân sử dụng dịch vụ công mức độ 3, 4 còn chưa hiệu quả.
Trong giai đoạn 2016-2020, một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác CCHC của Thành phố là tiếp tục đẩy mạnh phát triển chính quyền điện tử, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Đoàn thể, cơ quan hành chính nhà nước thuộc Thành phố và trong cung ứng dịch vụ công nhằm phục vụ nhân dân tốt hơn. Thành phố tiếp tục triển khai đồng bộ cơ sở dữ liệu dùng chung; các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cốt lõi (dân cư, đất đai, tài nguyên, doanh nghiệp, dân số, tài chính, bảo hiểm…) và một số hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (giáo dục, y tế, giao thông; lao động, tư pháp…); nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng viễn thông, chất lượng đường truyền, an ninh mạng; tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về xây dựng chính quyền điện tử; tăng cường thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng các ứng dụng, dịch vụ công trực tuyến do các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố cung cấp.