Tổ chức đo lường

Một phần của tài liệu TÀI LIỆU HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2016-2020 (Trang 134 - 138)

BÁO CÁO THAM LUẬN

4. Tổ chức đo lường

134

Trong 02 năm 2014-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện đo lường tại 06 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Kon Tum, Tiền Giang, Phú Thọ, Nghệ An, Tây Ninh.

Việc khảo sát thực hiện đối với các cấp học và bậc đào tạo. Việc lựa chọn địa bàn và đối tượng khảo sát theo đúng quy trình đặt ra cũng như nằm trong danh sách các tỉnh, thành phố đã được chọn trong kế hoạch, đảm bảo tính đại diện của địa phương. Tổng số tỉnh, thành phố đã thực hiện khảo sát là 6/20 tỉnh, thành phố dự kiến được khảo sát ở quy mô toàn quốc.

Cụ thể tại mỗi tỉnh, thành phố số lượng địa bàn và đối tượng khảo sát như sau:

- Đối với bậc mầm non và phổ thông: Chọn ra 03 huyện, tại mỗi huyện, chọn ra 02 trường mầm mon, 02 trường tiểu học, 02 trường trung học cơ sở, 02 trường trung học phổ thông, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên. Tổng cộng đã có 36 trường mầm non, 36 trường tiểu học, 36 trường trung học cơ sở, 36 trường trung học phổ thông và 18 trung tâm giáo dục thường xuyên đã được khảo sát.

- Đối với bậc trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng/đại học: Tại mỗi tỉnh, thành phố, chọn 01 trường trung cấp chuyên nghiệp, 01 trường cao đẳng và 01 trường đại học. Riêng tỉnh Kon Tum và Tây Ninh không có trường đại học nên được thay thế bằng 01 trường tại Hà Nội và 01 trường tại Nghệ An. Tổng cộng đã có: 06 trường trung cấp chuyên nghiệp, 06 trường cao đẳng và 06 trường đại học đã được khảo sát.

Tổng số phiếu thu về sau đợt khảo sát tại 6 tỉnh, thành phố là: 10.474 phiếu.

Đánh giá chung:

a) Về kết quả đo lường:

Chỉ số hài lòng chung đối với dịch vụ giáo dục công là phản ánh phù hợp với thực trạng của hệ thống giáo dục, đáp ứng được mục tiêu đặt ra của Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ là bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong lĩnh vực giáo dục là đạt trên 60% vào năm 2015.

b) Về tổ chức đo lường:

- Bộ công cụ phù hợp cơ bản với trình độ của người dân và có độ tin cậy cao.

Học sinh, sinh viên rất hứng thú khi tham gia khảo sát và trả lời các câu hỏi dễ dàng. Cha mẹ học sinh là người Kinh không gặp khó khăn khi trả lời các câu hỏi, tuy nhiên, cha mẹ học sinh người dân tộc thiểu số cần có sự hỗ trợ về ngôn ngữ trong suốt quá trình trả lời phiếu.

- Năm lĩnh vực nội dung đo lường đã khảo sát cũng như các câu hỏi trong từng lĩnh vực là phản ánh được sự hài lòng đối với dịch vụ giáo dục công. Tuy nhiên, tùy vào tình hình thực tế cũng như nhu cầu đo lường, đánh giá, lĩnh vực này cũng như các câu hỏi trong từng lĩnh vực là sẽ có thể được điều chỉnh cho phù hợp.

c) Những kết quả đạt được:

135 Thứ nhất, quá trình triển khai thực hiện Đề án đã huy động sự tham gia tích cực của các chuyên gia trong nước và quốc tế trong hoạt động nghiên cứu, xây dựng phương pháp đo lường, bởi đây là lần đầu tiên tiến hành đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công ở Việt Nam. Việc xây dựng phương pháp đo lường dựa trên nghiên cứu cơ sở lý thuyết, phương pháp đo và kinh nghiệm tổ chức đo lường của quốc tế và các tổ chức trong nước. Đây là các cơ sở khoa học và thực tiễn để tiến hành đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục cộng.

Hai là, việc triển khai Đề án là cơ chế để người sử dụng dịch vụ giáo dục (gia đình và người học) phản hồi ý kiến về chất lượng giáo dục, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình và quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ trong lộ trình cải cách hành chính do Chính phủ đề ra trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thứ ba, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành việc xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công. Đề án là cơ sở khoa học để các đơn vị nghiên cứu, học tập vận dụng bổ sung những tiêu chí phù hợp với địa phương mình để tổ chức khảo sát, đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan quản lý giáo dục cũng như các đơn vị sự nghiệp giáo dục công trên địa bàn vận dụng vào thực tiễn của địa phương để xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công của địa phương mình. Việc làm này góp phần tích cực về nhận thức trong công tác cải cách hành chính (chuyển từ nền hành chính chỉ đạo mệnh lệnh sang nền hành chính phục vụ).

d) Khó khăn, hạn chế:

Do đây là lần đầu tiên thực hiện việc đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công nên quá trình triển khai, thực hiện Đề án gặp một số khó khăn như sau:

- Nhận thức của các cấp lãnh đạo và của người dân tham gia đánh giá chưa đầy đủ, dẫn đến tư tưởng lo lắng bị “đánh giá”. Người dân chưa quen với các hình thức hỏi ý kiến nên khi tham gia còn e ngại, đặc biệt ở các vùng sâu, dân tộc thiểu số, khả năng học hiểu và đánh giá của người dân còn hạn chế. Công tác đánh giá, công bố kết quả cũng gặp nhiều khó khăn do nhận thức, quan niệm giữa các tổ chức, đơn vị, người dân trong cộng đồng còn chưa thực sự thống nhất.

- Do đây là lần đầu tiên tổ chức xây dựng công cụ đo lường sự hài lòng của người dân về dịch vụ giáo dục công một cách chính thức nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình triển khai, vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau trong quá trình xây dựng công cụ.

- Do nguồn kinh phí để thực hiện Đề án hạn hẹp nên phạm vi đối tượng khảo sát lấy ý kiến còn hạn chế (6/63 tỉnh, thành phố) nên kết quả đo lường có thể chưa phản ánh hoàn toàn chính xác bức tranh về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công mà chỉ mang tính chất tương đối (mặc dù việc chọn 6 địa phương đã cân nhắc cơ cấu vùng, miền, điều kiện kinh tế - xã hội,...).

136

Trên đây là báo cáo tham luận của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá kết quả cải cách, nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục công và kết quả thực hiện Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công”./.

137 BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

Đánh giá kết quả xây dựng, vận hành

Mạng thông tin hành chính điện tử của Chính phủ

(Tài liệu phục vụ Hội nghi ̣ sơ kết cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2015 và triển khai Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020)

Hôm nay, tham dự Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016- 2020, Cổng TTĐT Chính phủ là đơn vị thuộc Văn phòng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ đầu mối kết nối Mạng thông tin hành chính điện tử của Chính phủ (MTTHCĐT) xin trình bày báo cáo tham luận về “Đánh giá kết quả xây dựng, vận hành MTTHCĐT”.

Một phần của tài liệu TÀI LIỆU HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2016-2020 (Trang 134 - 138)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(226 trang)