BỐI CẢNH BAN HÀNH ĐỀ ÁN

Một phần của tài liệu TÀI LIỆU HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2016-2020 (Trang 105 - 108)

BÁO CÁO THAM LUẬN

I. BỐI CẢNH BAN HÀNH ĐỀ ÁN

Trong bối cảnh bị tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trước nhiều khó khăn, thách thức, với những quyết sách đúng đắn, kịp thời và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng, duy trì mức tăng trưởng khá, từng bước kiềm chế lạm phát, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố. Chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao.

Tuy nhiên, do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình kinh tế - xã hội nước ta trong giai đoạn này vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, nổi lên là:

Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tuy lạm phát giảm mạnh nhưng lãi suất vay ngân hàng vẫn còn cao. Nợ xấu của hê ̣ thống ngân hàng gia tăng.

Việc thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt, chính sách tiền tệ chặt chẽ đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô nhưng cũng để lại hệ quả là làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Lãi suất vay còn cao, nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn; chi phí đầu vào lớn, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho cao, dẫn đến quy mô sản xuất phải thu hẹp, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể, lao động mất việc làm tăng, gây sức ép lớn đến ổn định xã hội và đời sống của nhân dân.

Chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh chưa được cải thiện, năng suất lao động xã hội thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp còn yếu kém; hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, chậm được khắc phục; hiệu quả đầu tư vẫn còn thấp; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. Ứng dụng khoa học, công nghệ ở nhiều ngành còn hạn chế. Sản phẩm có thương hiệu trên thị trường quốc tế còn ít; chưa khai thác, phát triển tốt thị trường trong nước, nhất là việc thu mua và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản giảm sút và gặp rất nhiều khó khăn.

105 2. Về thực trạng cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ

Quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô là quá trình soạn thảo, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách kinh tế vĩ mô là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể của nền kinh tế - xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu vĩ mô của đất nước trong một thời kỳ nhất định. Nếu phối hợp chính sách tốt, các chính sách sẽ hỗ trợ, bổ sung cho nhau theo chiều thuận, giảm thiểu tác động theo chiều nghịch; ngược lại, nếu phối hợp không tốt thì tác động nghịch chiều của các chính sách sẽ lớn hơn, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

2.1. Những thành tựu cơ bản

Trước khi Đề án được ban hành, công tác phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cơ bản như sau:

Thứ nhất, đã có hệ thống văn bản pháp lý quy định khá chặt chẽ về công tác phối hợp giữa các Bộ ngành, các địa phương trong việc quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Về cơ bản, hệ thống các văn bản này đã xác định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan liên quan cũng như quy định một quy trình thống nhất trong việc ban hành, xử lý các quyết định về vĩ mô.

Thứ hai, Chính phủ, các Bộ ngành và các địa phương đã thực hiện đúng các chức năng nhiệm vụ của mình trong việc chỉ đạo, điều hành, thể hiện tính chủ động, trách nhiệm cao trong công tác phối hợp. Những năm qua, nhiều Bộ ngành, đặc biệt là các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước.... đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình và đã có sự phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, một số Bộ, ngành, địa phương cũng đã chủ động ký kết các văn bản phối hợp với nhau trong quản lý và điều hành. Một trong những ví dụ cụ thể là quy chế phối hợp công tác và trao đổi thông tin giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký ngày 29/02/2012 . Với 5 nội dung phối hợp, quy chế này đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác, tạo sự đồng thuận trong các hoạt động chung, đảm bảo chính sách tài khoá và tiền tệ được phối hợp hài hoà hơn, chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, qua đó giúp Chính phủ ra các quyết sách chính xác.

Thứ ba, nhờ công tác phối hợp, các bất ổn vĩ mô về cơ bản được giải quyết.

Thực tiễn cho thấy, dưới sự chỉ đạo điều hành chung, thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các Bộ ngành, địa phương đã phối hợp nhịp nhàng trong việc thực thi các nhóm giải pháp đồng bộ nên nền kinh tế đã nhiều lần vượt qua những thời điểm khó khăn do các bất ổn vĩ mô mang lại và dần đi vào vị thế ổn định với lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì, an sinh xã hội được đảm bảo.

Thứ tư, các quyết định về chính sách vĩ mô đã ngày càng phản ánh được nỗ lực chung của các Bộ ngành trung ương và chính quyền địa phương; tính công

106

khai, minh bạch được cải thiện. Đặc biệt là nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quan trọng được đăng tải công khai, kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân nhằm tiếp thu, hoàn thiện trước khi ban hành.

Thứ năm, nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp đã được nâng lên trên một tầm cao mới. Nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế với trọng tâm là tái cấu trúc đầu tư, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đòi hỏi phải tăng cường phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô một cách chặt chẽ và hiệu quả.

2.2. Một số tồn tại, hạn chế

Tuy nhiên, bất ổn vĩ mô vẫn có xu hướng lặp đi lặp lại, thậm chí có lĩnh vực mức độ còn khá nghiêm trọng. Chẳng hạn, cơ cấu đầu tư dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp; lạm phát, lãi suất biến động lớn; đồng tiền chịu sức ép giảm giá; thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại lớn, nợ công cao, nợ xấu tăng, nguy cơ bong bóng bất động sản hiện hữu… Ở góc độ phối hợp quản lý và điều hành vĩ mô, có thể nhận thấy một số hạn chế cơ bản sau:

Thứ nhất, việc phối hợp mới chỉ thường hướng tới giải quyết từng mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm như lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu, tỷ giá... chứ chưa thực sự có sự phối hợp để giải quyết đồng bộ tất cả các mục tiêu vĩ mô (chỉ tập trung giải quyết một hoặc vài mục tiêu vĩ mô mà chưa chú ý toàn diện tới các mục tiêu vĩ mô khác).

Thứ hai, sự phối hợp để giữa quyết mối quan hệ giữa các mục tiêu chính sách dài hạn và ngắn hạn chưa có sự thống nhất, xuyên suốt. Các mục tiêu ngắn hạn của chính sách chưa gắn kết với các mục tiêu dài hạn dẫn đến có sự mâu thuẫn, khắc chế lẫn nhau; các mục tiêu dài hạn của quốc gia chưa thực sự được cụ thể hóa bằng các mục tiêu ngắn hạn.

Thứ ba, sự phối hợp trong nhiều trường hợp chưa thật nhịp nhàng về liều lượng, chưa thật kịp thời và đồng bộ về thời gian và không gian (đặc biệt là phối hợp giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ; giữa chính sách tài chính, tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, giữa tài chính – tiền tệ và sản xuất...).

Bên cạnh đó, sự phối hợp chỉ được diễn ra một cách quyết liệt khi có một tình huống vĩ mô bất ổn phát sinh chứ chưa trở thành một yêu cầu thường xuyên có tính khách quan và mang tính pháp lý do chưa có một kế hoạch phối hợp lâu dài và tổng thể.

Thứ tư, sự phối hợp chưa nhằm tới lợi ích chung mà nhiều trường hợp còn đặt lợi ích của ngành, địa phương lên trên lợi ích chung. Nhiều trường hợp Bộ ngành ban hành các quyết định mang lại lợi ích của ngành nhưng phương hại đến các lợi ích của các ngành khác. Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong phân bổ, điều tiết một số nguồn lực quan trọng; thiếu các cơ chế phối hợp vùng để đạt được hiệu quả lớn hơn trong đầu tư công.

Thứ năm, mặc dù đã có các quy định về sự phối hợp giữa các cơ quan trong nhiều văn bản pháp quy . Nhưng các quy định về phối hợp là chưa hoàn chỉnh, chưa có sự phối hợp ở tất cả các khâu của chu trình chính sách. Thực tế là, cơ

107 quan được giao nhiêm vụ xây dựng chính sách chủ động soạn thảo, sau đó xin ý kiến của các cơ quan khác, và tiến hành chỉnh sửa trình cấp có thẩm quyền phê duyệt mà chưa có sự phối hợp với cơ quan khác trong việc xác định các tư tưởng, quan điểm, mục tiêu của chính sách, giải pháp và công cụ thực hiện mục tiêu chính sách cũng như việc triển khai thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chính sách.

Một phần của tài liệu TÀI LIỆU HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2016-2020 (Trang 105 - 108)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(226 trang)