BÁO CÁO THAM LUẬN
II. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Tiến trình xây dựng và ban hành Đề án
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1788/VPCP - KSTT ngày 24/3/2011 của Văn phòng Chính phủ về việc giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đề án “Cải cách thể chế và tăng cường phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2011 -2020”
trình Thường trực Chính phủ cho ý kiến về Đề cương Đề án, ngày 15/7/2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hoàn thành Đề cương và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký tờ trình số 4649/TTr- BKHĐT trình Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 22/7/2011, Văn phòng Chính phủ có công văn số 5019/VPCP-KSTT xin ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương về bản Đề cương trên. Sau khi nhận được các ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành và các địa phương, ngày 20/9/2011 Văn phòng Chính phủ đã làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và thống nhất nội dung Đề cương Đề án trên cơ sở tổng hợp bổ sung thêm các ý kiến của các Bộ, ngành. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hoàn thiện Đề cương và đã trình Thủ tướng Chính phủ lần thứ hai tại công văn số 1127/TTr-BKHĐT ngày 1/3/2012.
Ngày 10/5/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận được công văn số 3234/VPCP -KSTT thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tập trung vào nghiên cứu cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt chú ý đến “…việc cải cách cơ chế phối hợp, kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan hữu quan và đề xuất chế tài, xử lý vi phạm trong phối hợp quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính, tiền tệ”. Theo tinh thần chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị đổi tên Đề án “Cải cách thể chế và tăng cường phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2011 -2020” thành Đề án “Cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012 -2020”.
Ngày 11/7/2012 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký Công văn số 4980/BKHĐT- CLPT gửi các Bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị cho ý kiến về nội dung của bản dự thảo “Cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012 -2020” . Ngày 1 tháng 8 năm 2012, sau khi tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có công văn số 5665/TTr-BKHĐT trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo Đề án.
Ngày 29 tháng 8 năm 2012, Văn phòng Chính phủ có công văn số 6736/VPCP-KTTH đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ cho ý kiến bằng văn bản đối với các nội dung của Đề án và gửi về Bộ Kế
108
hoạch và Đầu tư để tổng hợp. Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp ý kiến góp ý lần 2 của các Bộ, ngành, ngày 27/11/2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hoàn thiện dự thảo Đề án, trình Thủ tướng Chính phủ và đã báo cáo tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 29/11/2012.
Ngày 06 tháng 08 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1317/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô” với các nội dung phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô sau:
(1) Phối hợp trong xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện, đánh giá và điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là giữa các chính sách: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, bền vững.
(2) Phối hợp trong việc đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế; trong việc tạo dựng và phát triển các thị trường: vốn, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học - công nghệ,...;
trong việc đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường và trong các vấn đề về kinh tế đối ngoại.
(3) Phối hợp trong toàn bộ chu trình xây dựng và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm: xác định các mục tiêu của chính sách; đánh giá tác động và đưa ra các giải pháp, công cụ thực hiện mục tiêu chính sách; triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách và đánh giá, điều chỉnh chính sách.
(4) Phối hợp trong việc xây dựng các phương án, giải pháp đối với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước ảnh hưởng đến môi trường kinh tế vĩ mô, nhất là những biến động bất thường về kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và khu vực.
(5) Phối hợp trong việc xây dựng hệ thống thông tin, bao gồm: tạo lập hành lang pháp lý cho việc xây dựng cơ sở thông tin thống nhất cho hoạt động dự báo và tăng cường, nâng cao chất lượng công tác dự báo; xác định rõ các nội dung dự báo vĩ mô chủ yếu của Bộ, cơ quan liên quan gắn với yêu cầu thông tin dự báo phục vụ công tác hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các Bộ, cơ quan, địa phương.
2. Kết quả triển khai thực hiện Đề án
Thực hiện quy định tại Khoản 2 Mục 3 Điều 1 Quyết định số 1317/QĐ-TTg, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các Bộ Tài chính, Công Thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng dự thảo Quy chế phối hợp trong điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô trong các lĩnh vực: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả; trong đó thể hiện rõ phạm vi, nội dung, phương thức phối hợp, trách nhiệm, quyền hạn của Bộ, cơ quan chủ trì và các cơ quan, tổ chức phối hợp có liên quan trong tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 1370/QĐ-BKHĐT ngày 01/10/2013 về việc thành lập Tổ điều phối và Nhóm Thư ký giúp việc Tổ điều phối thực hiện Đề án “Cải cách cơ chế phối hợp trong quản
109 lý và điều hành kinh tế vĩ mô” trong nội bộ của Bộ và Quyết định số 1737/QĐ- BKHĐT ngày 26/11/2013 về việc phê duyệt Quy chế làm việc của Tổ điều phối và Nhóm Thư ký giúp việc Tổ điều phối thực hiện Đề án nêu trên.
Sau khi hoàn thiện Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô, ngày 02/12/2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký kết Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô (văn bản số 9078/BKHĐT-NHNN-BTC-BCT). Nội dung phối hợp liên quan đến xây dựng và điều hành các mục tiêu vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thu chi ngân sách, giá cả, thương mại xuất nhập khẩu.
Để triển khai nội dung công tác phối hợp Quy định tại văn bản số 9078/BKHĐT-NHNN-BTC-BCT, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã ban hành Quyết định số 39/QĐ-BKHĐT ngày 14/01/2015 thành lập Tổ điều phối của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện Quy chế số 9078/BKHĐT-NHNN-BTC-BCT thay thế cho Quyết định 1370/QĐ-BKHĐT, theo đó giao Vụ Tài chính, tiền tệ là đơn vị thường trực của Tổ điều phối. Đồng thời, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã ban hành Quyết định số 121/QĐ-BKHĐT ngày 02/02/2015 thành lập Tổ công tác liên Bộ thực hiện Quy chế số 9078/BKHĐT-NHNN-BTC-BCT trong đó giao Vụ Tài chính, tiền tệ là đơn vị thường trực của Tổ công tác liên Bộ.
Ngày 17/12/2014, phiên họp lần thứ nhất thực hiện Quy chế phối hợp giữa 04 Bộ đã được tổ chức tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cuộc họp lần này tập trung vào các nội dung: (i) dự báo tác động của giá dầu đến khai thác dầu thô, thu ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế Quý I năm 2015; (ii) đánh giá về tình hình lạm phát, điều hành giá cả và lãi suất; (iii) thảo luận về cơ chế phối hợp thực hiện điều hành kinh tế vĩ mô. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung cuộc họp tại công văn số 619/BC-BKHĐT ngày 29 tháng 12 năm 2014.
Ngày 22/01/2015, tại trụ sở Bộ Công Thương, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ đã báo cáo, thảo luận về tình hình thực hiện Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô về vấn đề giá điện, giá dầu và kế hoạch triển khai thực hiện Quy chế trong năm 2015, cụ thể: (i) các phương án điều chỉnh giá điện và thời điểm điều chỉnh; (ii) các phương án bù đắp phần giảm thu do giá dầu giảm; tác động của giá dầu giảm đến kế hoạch và sản lượng khai thác dầu. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp cùng với Văn phòng Chính phủ soạn thảo công văn số 29/TB-VPCP ngày 29/01/2015 thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
Ngày 30/3/2015, tại trụ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ đã họp phiên thường kỳ Quý I năm 2015 để thảo luận tình hình kinh tế Quý I và dự báo tình hình kinh tế Quý II năm 2015 (công văn số 144/BC-BKHĐT). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự và chỉ đạo tại phiên họp. Tại cuộc họp, các Bộ đã kiến nghị:
- Tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình để thúc đẩy xuất khẩu nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 10% và tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch
110
xuất khẩu dưới 5%. Tiếp tục các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường đối với các mặt hàng nông lâm thủy sản (đặc biệt mặt hàng tôm xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản và gạo sang thị trường Trung Quốc); có giải pháp hạn chế xuất khẩu thô và gia tăng chế biến đối với nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản, giảm dần tỷ trọng nhóm hàng này trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Đồng thời, kết hợp với các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ tại thị trường nội địa.
- Trong bối cảnh lạm phát được dự báo ở mức thấp, tạo điều kiện để tiếp tục tiến tới cơ chế thị trường đối với các mặt hàng khác mà nhà nước quản lý như dịch vụ y tế, giáo dục. Đồng thời, cần kiểm soát quá trình tăng giá dịch vụ đi đôi với đổi mới cơ chế điều hành, mở rộng quyền tự chủ và cần tính toán thời điểm điều chỉnh để không tạo tác động cộng hưởng lên mặt bằng giá chung.
- Tiếp tục đẩy mạnh giải ngân trong Quý II vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách và TPCP để thúc đẩy tổng cầu; đồng thời tìm nguồn để bổ sung vốn đối ứng cho các dự án ODA. Cân nhắc một số giải pháp bổ sung nhằm tăng cường khả năng huy động vốn vay trong nước cho bù đắp bội chi ngân sách, đầu tư và đảo nợ.
- Theo dõi chặt chẽ diễn biến của đồng USD để có giải pháp điều hành linh hoạt. Trong trung hạn, cần nghiên cứu cơ chế điều hành tỷ giá theo cơ cấu giỏ tiền tệ của các bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam thay vì chỉ gắn vào đồng USD như hiện nay nhằm năng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu nông thủy sản.
- Điều hành chính sách tiền tệ ổn định, phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô;
về cơ bản duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, phấn đấu để giảm mặt bằng lãi suất trung và dài hạn cho doanh nghiệp (từ 1-1,5%/năm). Đồng thời, nếu điều kiện cho phép có thể điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng lên 15-17%, trên cơ sở tập trung cho sản xuất và kiểm soát cho vay bất động sản.
- Các bộ, ngành đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp về cải cách môi trường kinh doanh, giảm các chi phí hành chính cho doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ngày 25/6/2015, tại trụ sở Bộ Tài chính, các Bộ đã họp phiên thường kỳ Quý II năm 2015 để thảo luận về phương án thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, điều hành ngân sách nhà nước, điều hành chính sách tiền tệ (công văn số 318/BC-BKHĐT). Tại cuộc họp, các Bộ đã đề xuất một số kiến nghị về điều hành kinh tế vĩ mô trong 6 tháng cuối năm, cụ thể:
- Tiếp tục thúc đẩy sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh đầu ra cho xuất khẩu nông thủy sản, đặc biệt thông qua các Hiệp định thương mại đã được ký kết như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hàn Quốc.
- Duy trì đà tăng trưởng của sản xuất công nghiệp. Thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ. Riêng về lĩnh vực khai khoáng, đề nghị duy trì sản lượng dầu thô khai thác trong nước ở mức khoảng 16 triệu tấn (tăng khoảng 0,4 triệu tấn so với thực hiện năm 2014).
111 - Đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực và giấy phép lao động trong hoạt động đầu tư nước ngoài.
- Ban hành các tiêu chuẩn, quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu không thiết yếu, phù hợp với các quy định về cam kết quốc tế đi đôi với tăng cường chống buôn lậu, hàng giả.
- Đẩy nhanh giải ngân nguồn vốn từ ngân sách và vốn trái phiếu Chính phủ.
- Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá và lãi suất theo hướng ổn định; hướng vốn tín dụng vào những lĩnh vực ưu tiên và theo dõi chặt chẽ dòng vốn đối với lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản; đồng thời, xây dựng các kịch bản ứng phó trong trường hợp thâm hụt cán cân thương mại ở mức cao hơn so với dự báo.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung cuộc họp tại văn bản số 4365/BC-BKHĐT ngày 30 tháng 6 năm 2015.
Ngày 17/8/2015, tại trụ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổ công tác liên Bộ đã họp đột xuất để thảo luận, đánh giá về tác động của việc Trung Quốc điều chỉnh giảm giá đồng nhân dân tệ đến kinh tế Việt Nam và giải pháp đối phó. Các Bộ đã kiến nghị:
- Tiếp tục theo dõi diễn biến và động thái của Trung Quốc và các nước có quan hệ thương mại lớn hoặc cạnh tranh với hàng hóa Việt Nam để có giải pháp phù hợp.
- Thực hiện can thiệp nhằm bình ổn thị trường khi cần thiết nhằm duy trì tỷ giá ở trong biên độ cho phép.
- Tiếp tục các giải pháp đã đề ra để thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng hóa không thiết yếu nhằm kiểm soát nhập siêu ở mức 5% kim ngạch xuất khẩu như: phối hợp giữa cơ quan quản lý với các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chế biến, doanh nghiệp FDI để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xuất khẩu; tiếp tục đơn giản hóa quy trình, thủ tục hải quan, cải cách thủ tục thuế, nhằm giảm số ngày doanh nghiệp làm thủ tục thông quan theo tinh thần Nghị quyết 19/NQ-CP; sử dụng các công cụ phòng vệ như ban hành các tiêu chuẩn, quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường nhằm hạn chế nhập khẩu đối với hàng hóa không thiết yếu, phù hợp với các quy định về cam kết quốc tế.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung này tại công văn số 466/BKHĐT-TCTT ngày 21 tháng 8 năm 2015.
Ngày 25/9/2015, tại trụ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổ công tác liên Bộ đã họp phiên thường kỳ Quý III năm 2015 để thảo luận về: (i) tác động của việc điều chỉnh giá một số mặt hàng nhà nước quản lý; (ii) tác động của suy giảm kinh tế Trung Quốc; và (iii) khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất điều hành. Các Bộ đã đề xuất một số kiến nghị, cụ thể như sau:
- Về điều hành giá cả, tranh thủ điều kiện lạm phát tiếp tục được duy trì ở mức thấp, tính toán thời điểm và mức độ điều chỉnh giá dịch vụ y tế và giáo dục để đẩy nhanh việc thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng Nhà nước quản lý giá.